đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của một số dòng đậu tương nhập nội tại huyện lục yên tỉnh yên bái năm 2008 -2009 - Pdf 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
o0o
PHẠM HẢI THOẠI

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƢỞNG VÀ
PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ DÒNG ĐẬU TƢƠNG
NHẬP NỘI TẠI HUYỆN LỤC YÊN TỈNH YÊN BÁI
NĂM 2008 -2009

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH : TRỒNG TRỌT
MÃ SỐ : 60. 62. 01

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp trong suốt quá trình thực hiện đề tài,
tôi luôn nhận đƣợc sự quan tâm giúp đỡ của cô giáo PGS.TS Luân Thị Đẹp,
và thầy giáo Th.s Trần Văn Điền. Các thầy, cô đã chỉ bảo tận tình về phƣơng
pháp nghiên cứu, cũng nhƣ trong quá trình hoàn chỉnh luận văn.
Tôi cũng nhận đƣợc sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo
Khoa sau đại học, chính quyền địa phƣơng, các bạn đồng nghiệp và gia đình.
Nhân dịp này, tôi xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
1. Cô giáo PGS. TS. Luân Thị Đẹp Trƣởng khoa Nông học Trƣờng Đại
học Nông Lâm Thái Nguyên. Cô đã trực tiếp hƣớng dẫn, dành cho tôi sự giúp
đỡ tận tình và sâu sắc trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này.

TB
Trung bình
PGS.TS
Phó giáo sƣ, tiến sỹ
CS
Cộng sự
NN&PTNT
Nông nghiệp và phát triển nông thôn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Tình hình sản xuất đậu tƣơng trên thế giới 5 năm gần đây 5
Bảng1.2. Tình hình sản xuất đậu tƣơng ở Mỹ 5 năm gần đây 7
Bảng1.3. Tình hình sản xuất đậu tƣơng ở Brazil 5 năm gần đây 8
Bảng 1.4. Tình hình sản xuất đậu tƣơng của Achentina 5 năm gần đây 9
Bảng 1.5. Tình hình sản xuất đậu tƣơng của Trung Quốc 5 năm gần đây. 10
Bảng 1.6. Tình hình sản xuất đậu tƣơng ở Việt Nam 5 năm gần đây 21
Bảng 1.7. Tình hình sản xuất đậu tƣơng của tỉnh Yên Bái từ năm 2004- 2008 31
Bảng 1.8. Tình hình sản xuất đậu tƣơng của huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái
từ năm 2005- 2008 32
Bảng 3.1. Các giai đoạn sinh trƣởng của các dòng đậu tƣơng thí nghiệm 40
Bảng 3.2: Đặc điểm thực vật học của các dòng đậu tƣơng thí nghiệm 44
Bảng 3.3. Một số đặc điểm hình thái của các dòng, giống đậu tƣơng thí
nghiệm năm 2008 47
Bảng 3.4. Một số loài sâu hại chính và khả năng chống đổ của các dòng
đậu tƣơng tham gia thí nghiệm 51
Bảng 3.5. Hàm lƣợng Protein, Lipit của các dòng đậu tƣơng thí nghiệm 54
Bảng 3.6. Các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất lý thuyết của các

3.1. Một số đặc điểm sinh trƣởng và phát triển của các dòng đậu tƣơng thí
nghiệm 39
3.1.1. Các giai đoạn sinh trƣởng và phát triển của các dòng đậu tƣơng . 39
3.1.2. Đặc điểm thực vật học của các dòng đậu tƣơng thí nghiệm năm
2008 43
3.1.3. Đặc điểm hình thái của các dòng đậu tƣơng thí nghiệm vụ xuân và
vụ đông năm 2008 46 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
3.1.4. Khả năng chống chịu của các dòng đậu tƣơng thí nghiệm ở vụ
xuân và vụ đông năm 2008 50
3.2. Một số chỉ tiêu sinh hoá của các dòng, giống đậu tƣơng thí nghiệm 54
3.3. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng đậu tƣơng
thí nghiệm 55
3.3.1. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lý thuyết của các
dòng đậu tƣơng thí nghiệm 55
3.3.2. Năng suất thực thu của các dòng đậu tƣơng tham gia thí nghiệm
năm 2008 59
3.4. Mô hình trình diễn đậu tƣơng tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 61
3.4.1. Năng suất thực thu của các dòng đậu tƣơng trình diễn tại xã Mai
sơn, huyện Lục Yên, vụ xuân 2009 61
3.4.2. Đánh giá của ngƣời dân đối với các dòng đậu tƣơng trình diễn ở
vụ xuân năm 2009 63
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 65


phẩm chất rất tốt, có thể thay thế hoàn toàn đạm động vật trong khẩu phần ăn
hàng ngày của con ngƣời, vì nó chứa một lƣợng đáng kể các amino acid
không thay thế cần thiết cho cơ thể .Đậu tƣơng còn đƣợc chế biến thành 600
loại thực phẩm khác nhau, bao gồm các loại thức ăn cổ truyền: đậu phụ,
tƣơng chao, sữa đậu nành tới các loại thực phẩm, chế phẩm hiện đại nhƣ:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
Kẹo, bánh đậu tƣơng, bacon đậu tƣơng, hotdogs đậu tƣơng, đậu hũ cheese,
các loại thịt nhân tạo (Trần Đình Long, 2000) [20] tất cả các loại sản phẩm
đều thơm ngon và có giá trị dinh dƣỡng cao.
Kết quả nghiên cứu của Bùi Tƣờng Hạnh -1997 [11] cho thấy trong hạt
đậu tƣơng có chất IZOFLAVONE có tác dụng làm giảm đáng kể lƣợng
Cholesterol trong máu khi sử dụng sản phẩm làm từ đậu tƣơng.
Trong công nghiệp dầu đậu tƣơng đƣợc sử dụng làm si, sơn, mực in, xà
phòng, chất dẻo, cao su nhân tạo (Đoàn Thị Thanh Nhàn và CS 1996) [21]
đậu tƣơng còn cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến thực phẩm dƣợc,
ngành công nghiệp ép dầu.
Trong điều kiện nhiệt đới nóng, ẩm nhƣ nƣớc ta thì đậu tƣơng dễ đƣa
vào hệ thống luân canh, xen canh, gối vụ với cây trồng khác góp phần nâng
cao năng suất cây trồng, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Vấn đề này
rất có ý nghĩa trong việc chuyển đổi cơ cấu và đa dạng hoá cây trồng ở nƣớc
ta hiện nay, đặc biệt là chiến lƣợc thâm canh tăng vụ.
Một tác dụng có ý nghĩa và đóng vai trò quan trọng của cây đậu tƣơng
trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp đó là khả năng cố định đạm do vi khuẩn
nốt sần Rhizobium Japonicum sống cộng sinh ở rễ cho nên đậu tƣơng là một
trong những cây trồng có khả năng cải tạo đất rất tốt.

tương nhập nội tại huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái năm 2008- 2009”.
2. Mục đích của đề tài
Tìm ra đƣợc những dòng đậu tƣơng có khả năng sinh trƣởng, phát
triển tốt, cho năng suất cao, chất lƣợng tốt phù hợp với vụ xuân và vụ
đông nhằm bổ sung vào cơ cấu giống của tỉnh Yên Bái nói chung và
huyện Lục Yên nói riêng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
1.1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Để đáp ứng nguồn lƣơng thực, thực phẩm cho nhân loại toàn cầu trong
bối cảnh khí hậu, môi trƣờng sống ngày càng nhiều biến đổi phức tạp, chúng
ta cần xây dựng cho đƣợc một nền sản xuất tiên tiến. Sản xuất dựa trên cơ sở
áp dụng một cách khoa học giữa các yếu tố giống, phân bón, nƣớc, kỹ thuật
thâm canh, đồng thời bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, tránh ô nhiễm môi
trƣờng. Trong đó, giống là yếu tố quan trọng hàng đầu, sử dụng giống tốt có
năng suất cao, chất lƣợng tốt, chống chịu với điều kiện bất thuận và sâu, bệnh
hại, có khả năng cải tạo và bảo vệ đất, hạn chế ô nhiễm môi trƣờng là mục
tiêu hàng đầu của việc phát triển một nền sản xuất nông nghiệp tiên tiến, có
tính bền vững cao.
Đậu tƣơng đƣợc sản xuất với các mục tiêu khác nhau. Cho nên công tác
chọn tạo giống cần tập trung vào một số mục tiêu:
- Giống cho năng suất cao phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng.
- Giống cho chất lƣợng hạt tốt phục vụ ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu.
- Giống có hàm lƣợng dầu cao phục vụ chƣơng trình sản xuất dầu thực vật.
Điều kiện khí hậu, đất đai của Việt Nam rất thuận lợi cho cây đậu tƣơng

83.651.800
22,804
190.766.963
2004
91.606.264
22,431
205.483.881
2005
92.434.056
23,178
214.244.613
2006
94.926.287
23,429
222.403.793
2007
94.899.216
22,776
216.144.262
Nguồn: FAOSTAT Database,2009
Số liệu của bảng 1.1 cho thấy sản xuất đậu tƣơng trên thế giới hàng năm
đƣợc tăng lên cả về diện tích lẫn sản lƣợng. Năm 2007 diện tích tăng khoảng
11 triệu ha so với năm 2003, tƣơng tự thì sản lƣợng cũng tăng trên 25,3 triệu
tấn vào năm 2007. Điều này càng khẳng định vị trí vai trò của cây đậu tƣơng
trong sản xuất nông nghiệp. Các nƣớc sản xuất đậu tƣơng lớn gồm có Mỹ,
Brazil, Argentina, Trung Quốc, Ấn Độ, Tây Ban Nha, Úc…

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
Tuy cây đậu tƣơng có xuất xứ từ vùng Mãn Châu-Trung Quốc, sau đó

7
- Cải tiến nâng cao tỷ lệ dầu và Protein trong hạt.
- Nâng cao khả năng chống chịu sâu, bệnh.
- Hạn chế sự tách hạt khi quả chín.
- Tạo giống có chiều cao cây thích hợp.
- Tăng khả năng chống đổ của cây.
- Tạo các giống có thời gian sinh trƣởng khác nhau.
Tình hình sản xuất đậu tƣơng của Mỹ đƣợc trình bày ở bảng 1.2.
Bảng1.2. Tình hình sản xuất đậu tương ở Mỹ 5 năm gần đây
Năm
diện tích (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lƣợng (tấn)
2003
29.330.310
22,767
66.777.820
2004
29.930.060
28,403
85.012.800
2005
28.834.570
28,912
83.367.650
2006
30.190.680
29,038
87.669.860
2007

2005
22.948.874
22,302
51.182.074
2006
22.047.349
23,796
52.464.640
2007
20.637.643
28,199
58.197.297
Nguồn: FAOSTATDatabase,2009
Brazil rất quan tâm tới việc sản xuất đậu tƣơng cho nên diện tích, năng
suất và sản lƣợng không ngừng đƣợc tăng lên, năng suất đậu tƣơng chỉ đứng
sau Tây Ban Nha ( 30 tạ/ha) và Achentina.
Năm 2007, diện tích trồng đậu tƣơng của Brazil giảm khoảng 2 triệu ha
so với năm 2005 và 2006. Tuy nhiên năng suất lại tăng khoảng 5 tạ so với 2
năm này và sản lƣợng đạt trên 58 triệu tấn tăng khoảng 6 triệu tấn so với năm
2005 và 2006.
Brazil đang tiếp tục đẩy mạnh công tác giống, sử dụng giống mới nhƣ
giống chống chịu sâu bệnh, giống chuyển gen…, áp dụng các biện pháp khoa
học kỹ thuật mới vào sản xuất nhằm nâng cao sản lƣợng đậu tƣơng hàng năm.
Tại Brazil, đậu tƣơng chủ yếu đƣợc dùng làm bột và ép dầu. Chính phủ
khuyến khích đẩy mạnh nền công nghiệp chế biến trong nƣớc và xuất khẩu
khô dầu, bột đậu
Quốc gia đứng thứ ba sau Mỹ và Brazil về sản xuất đậu tƣơng là
Achentina. Tại quốc gia này đậu tƣơng thƣờng đƣợc trồng luân canh với lúa
mì. Từ năm 1961- 1962 chính phủ đã có chính sách hỗ trợ cho việc phát triển
cây đậu tƣơng, nên cây đậu tƣơng đƣợc phát triển khá mạnh. Cũng nhờ vào

16.100.000
28,260
45.500.000
Nguồn: FAOSTAT Database,2009
Năm 2007, diện tích trồng đậu tƣơng của Achentina tăng khoảng 4 triệu
ha so với năm 2003, năng suất tƣơng đƣơng năm 2003, nhƣng sản lƣợng tăng
khoảng 11 triệu tấn so với năm 2003.
Các nƣớc nhập khẩu đậu tƣơng lớn gồm có: Cộng đồng kinh tế châu Âu,
Đức, Anh, Pháp, Hà Lan, Bỉ ,. Cho tới sau chiến tranh thế giới thứ hai thì
Mỹ và Trung Quốc vẫn là hai Quốc gia đứng đầu về xuất khẩu đậu tƣơng.
Tuy nhiên, do dân số của Trung Quốc gia tăng mạnh nên từ một Quốc
gia xuất khẩu nhất nhì thế giới mà Trung Quốc lại dần trở thành Quốc gia
nhập khẩu lớn nhất thế giới để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nƣớc. Mỗi
năm Trung Quốc cần 25 - 30 triệu tấn, trong khi đó sản xuất trong nƣớc mới
đạt 15 - 17 triệu tấn (Lê Hƣng Quốc, 2006) [26].
Diện tích trồng đậu tƣơng của Trung Quốc đứng thứ 4 thế giới sau Mỹ,
Brazil và Argentina và đứng thứ nhất châu Á. Tình hình sản xuất đậu tƣơng ở
Trung Quốc đƣợc trình bày ở bảng 1.5.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
Bảng 1.5. Tình hình sản xuất đậu tương của Trung Quốc 5 năm gần đây.
Năm
Diện tích (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lƣợng (tấn)
2003
9.312.715
16,529
15.393.341

giống mới có năng suất cao, khả năng chống chịu tốt khả năng thích ứng rộng
để thƣờng xuyên bổ sung giống mới cho sản xuất.
Thông qua con đƣờng nhập nội, chọn lọc, lai tạo và gây đột biến mà
quốc gia sản xuất đậu tƣơng hàng đầu thế giới là Mỹ đã tạo ra đƣợc nhiều
giống đậu tƣơng mới. Các dòng nhập nội có năng suất cao đều đƣợc sử dụng
làm dòng, giống gốc trong các chƣơng trình lai tạo và chọn lọc. Vào năm
1804, Mỹ đã tiến hành thí nghiệm đầu tiên tại bang Pelecibuahina đến năm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
1893 thì Mỹ đã có trên 10.000 mẫu giống đậu tƣơng thu thập từ các nơi trên
thế giới. Từ năm 1928- 1932 tính trung bình hàng năm nƣớc Mỹ nhập nội trên
1.190 dòng, giống đậu tƣơng từ nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới. Hiện
đã có trên 100 dòng đậu tƣơng khác nhau đƣợc Mỹ đƣa vào sản xuất, và đã
chọn ra đƣợc một số giống có khả năng chống chịu với bệnh Phytopthora và
có khả năng thích ứng rộng nhƣ: Amsoy 71, Lec 36, Clark 63, Harky 63.
Hƣớng chính trong công tác nghiên cứu chọn giống là sử dụng các tổ hợp lai
cũng nhƣ nhập nội, từ đó thuần hoá để trở thành giống thích nghi với từng
vùng sinh thái, đặc biệt chú trọng công tác nhập nội để bổ sung vào nguồn
quỹ gen. Việc chọn ra các giống có khả năng thâm canh cao, chống chịu tốt
với điều kiện bất thuận, phản ứng yếu với quang chu kỳ, hàm lƣợng Protein
cao, dễ bảo quản và chế biến là mục tiêu của công tác chọn giống tại Mỹ
(Johnson H.W, Bernard, 1967) [39].
Công tác nghiên cứu chọn tạo giống đậu tƣơng bằng phƣơng pháp gây đột
biến tại nƣớc Mỹ cũng đạt đƣợc nhiều kết quả. Bằng phƣơng pháp này một số
giống đậu tƣơng có năng suất cao, chất lƣợng tốt lần lƣợt đƣợc ra đời bởi
Williams L.F 1950, Williams 1961. Đặc biệt vào những năm 1988- 1990 thì
Tulman- netto, Nazim qua đột biến đã tạo ra đƣợc giống chống chịu bệnh gỉ sắt
và bệnh virut (Cơ cấu mùa vụ đậu tƣơng đồng bằng trung du Bắc Bộ) [4].
Trong nghiên cứu chọn tạo ra giống đậu tƣơng tốt cần xem xét một số

truyền có giá trị cao đối với số hạt/quả và thời gian sinh trƣởng.
Đánh giá hệ số tƣơng quan di truyền và kiểu hình trên cây đậu tƣơng của
tất cả các dạng kết hợp có thể của bảy tính trạng ở ba quần thể đậu tƣơng thế
hệ F2, cho thấy năng suất hạt có mối tƣơng quan thuận chắc chắn với thời
gian sinh trƣởng và khối lƣợng hạt. Khi nghiên cứu hệ số tƣơng quan kiểu
hình và di truyền của mƣời một tính trạng sốlƣợng ở ba tổ hợp lai đậu tƣơng
cũng cho thấy, năng suất hạt có mối quan hệ với thời gian sinh trƣởng, số
cành/cây, số quả/cây, số hạt/quả và hàm lƣợng dầu trong hạt, số đốt/cây có hệ
số tƣơng quan di truyền thuận với năng suất hạt. Ở kết quả nghiên cứu khác,
năng suất có tƣơng quan thuận với số quả/cây (0,72); Khối lƣợng 1000 hạt
(0,255) và thời gian sinh trƣởng (0,16) –Banadjanegara và Umar (1998) [30].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
Hiện nay, công tác nghiên cứu về giống đậu tƣơng trên thế giới đã đƣợc
tiến hành với qui mô rộng lớn. Nhiều tập đoàn giống đậu tƣơng đã đƣợc tổ
chức quốc tế khảo nghiệm ở rất nhiều vùng sinh thái khác nhau nhằm thực
hiện một số nội dung chính: thử nghiệm tính thích nghi của giống ở từng điều
kiện, môi trƣờng khác nhau nhằm so sánh ƣu thế của giống địa phƣơng và
giống nhập nội, đánh giá phản ứng của các giống trong những điều kiện môi
trƣờng khác nhau.
Hiện đã có nhiều thành công trong việc xác định các dòng, giống tốt có
tính ổn định và khả năng thích ứng khác nhau với các điều kiện môi trƣờng
khác nhau. Buitrago và CS – 1971 [31] đã xác định đƣợc một số giống có khả
năng thích ứng rộng với tất cả các môi trƣờng nghiên cứu, song có một số
giống lại chỉ thích ứng với môi trƣờng riêng rẽ khi nghiên cứu 14 dòng, giống
qua bốn vụ.

giả C.Nikolov đã thu đƣợc các dạng đột biến chín sớm hơn từ 10- 20 ngày so
với giống ban đầu, hơn nữa số lƣợng nốt sần lại nhiều hơn. Tác giả Goranova
lai tạo đƣợc các dòng có hàm lƣợng dầu vƣợt giống ban đầu từ 6- 13%, (Cơ
cấu mùa vụ đậu tƣơng ở đồng bằng trung du Bắc Bộ) [4].
Nhƣ vậy, việc nghiên cứu nhằm đánh giá sự ổn định và khả năng thích
ứng có ý nghĩa to lớn trong công tác chọn tạo giống đậu tƣơng, cho phép chọn
ra những dòng, giống đậu tƣơng có năng suất cao, ổn định, thích hợp với các
vùng sinh thái khác nhau.
Ngoài nghiên cứu, chọn tạo giống đậu tƣơng có năng suất cao, phẩm
chất tốt, thì việc nghiên cứu, chọn tạo đƣợc các giống có sức đề kháng đa
hiệu, kháng đƣợc nhiều loại sâu , bệnh hại và các điều kiện ngoại cảnh bất
thuận cũng là một vấn đề rất quan trọng đƣợc các nhà chọn tạo giống trên thế
giới đặc biệt quan tâm. Nhất là vấn đề tạo giống khángbệnh , ở một số
nƣớc có nền khoa học nông nghiệp phát triển nhƣ: Mỹ, Úc đã sử dụng công
nghệ tế bào phân tử để xác định các gen kiểm soát về sâu, bệnh hại, tuyến
trùng, phản ứng thuốc, vi khuẩn và nốt sần , mặt khác còn chuyển ghép gen
tạo vật liệu khởi đầu mới, áp dụng công nghệ tế bào để phân lập đƣợc gen
chịu hạn thành công (Hội thảo đậu tƣơng quốc gia - 2003) [17].
Đậu tƣơng, vốn là cây trồng tự thụ nên phƣơng pháp tạo giống và chọn
lọc giống cũng tƣơng tự nhƣ những cây tự thụ khác, song nó cũng có nét đặc
thù riêng của nó.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
Để tạo ra đƣợc giống đậu tƣơng có chất lƣợng hạt cao, ngƣời ta thƣờng
dùng hai phƣơng pháp chính là gây giống đột biến và lai tạo. Tạo giống bằng
phƣơng pháp gây đột biến thƣờng cho kết quả mong muốn nhanh, rút ngắn thời

các giống Trung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
Quốc và trong 5 đặc tính cho các giống của Mỹ nhƣ: Protein, axit oleic và axit
Linolenic bởi giá trị khả năng kết hợp chung và giá trị di truyền cho Protein,
dầu, axit oleic và axit Linolenic, Protein tổng số và sản lƣợng dầu tổng số/đơn
vị diện tích là cao, chọn những điểm đó sẽ đạt đƣợc ở thế hệ F2.
Viện khoa học Nông nghiệp Đài Loan đã bắt đầu chƣơng trình chọn tạo
giống từ năm 1961 và đƣa vào sản xuất các giống Kaohsing 3, Tainung 3, Tai
nung 4 các giống đƣợc xử lý Nơron và tia X cho các giống đột biến
Tainung. Tainung 1 và Tainung 2 có năng suất cao hơn giống khởi đầu và vỏ
quả không bị nứt. Các giống này (đặc biệt là Tainung 4) đã đƣợc dùng làm
nguồn gen kháng bệnh trong các chƣơng trình lai tạo giống ở các cơ sở khác
nhau nhƣ Trạm thí nghiệm Marjo (Thái Lan), Trƣờng đại học Philippin (Vũ
Tuyên Hoàng và cộng sự, 1995) [15].
Hiện nay, vùng Đông Nam Á cũng là một vùng trọng điểm của công
tác phát triển giống đậu tƣơng và đƣợc ƣu tiên hàng đầu trong hệ thống
nông nghiệp.
Tại Indonesia, các nhà nghiên cứu chọn tạo nhằm mục đích cải tiến
giống có năng suất cao trồng đƣợc ở vùng đất thấp sau vụ thu hoạch lúa, với
thời gian sinh trƣởng ngắn khoảng 70- 80 ngày, chống chịu bệnh gỉ sắt và có
hạt dạng thon dài. 13 giống cónăng suất cao đã đƣợc tạo ra và đƣợc khuyến
cáo gieo trồng trong đó có giống Wilis đƣợc trồng phổ biến nhất, giống này
có thời gian sinh trƣởng 85 ngày, năng suất bình quân đạt 25 tạ/ha. Việc cải
tiến giống đã góp phần đƣa năng suất đạt 25 tạ/ha, giống có thời gian sinh
trƣởng ngắn, thích ứng với môi trƣờng không thuận lợi (đất không cày bừa;

quần thể I và 126,1% ở quần thể II.
Sự tƣơng tác giữa giống và môi trƣờng có vai trò quan trọng trong quá
trình cải lƣơng giống cây trồng nông nghiệp nói chung và cây đậu tƣơng nói
riêng. Đối với cây đậu tƣơng đã có một số kết quả nghiên cứu về sự tƣơng tác
giữa các giống với môi trƣờng khác nhau.
Jonson và cộng tác viên(1995 a)[38]; Byth và Weber (1968) [32] cho
thấy có sự tƣơng tác cao giữa các giống với môi trƣờng cho năng suất hạt và
sự tƣơng tác rất thấp cho chiều cao cây, còn tƣơng tác trung bình cho kích
thƣớc hạt, sự đổ sớm, hàm lƣợng đạm và hàm lƣợng dầu.
Sự tƣơng tác giữa giống và môi trƣờng còn đƣợc một số tác giả phân tích
thành các thành phần tƣơng tác tuyến tính và phi tuyến tính. Rohwal (1970)

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
[44]; Gopani và cộng tác viên, (1972) [34] đã xác định sự tƣơng tác phi tuyến
tính có ý nghĩa với hầu hết các tính trạng nghiên cứu và điều đó có thể là
nguyên nhân của sự thích ứng có giới hạn của cây đậu tƣơng.
Qua nghiên cứu Sanbuchi và Gotok, (1969)[45] đã xác định đƣợc hệ số
hồi qui cho 5 giống đậu tƣơng ở Hohkaido – Nhật Bản từ số liệu lấy ở 7 nơi
trong sáu năm. Kết quả nghiên cứu cho thấy với giống có tính thích ứng rộng
về không gian thì lại nhạy cảm về mặt thời gian; còn một số giống có thích
ứng rộng cho thời vụ gieo trồng trong năm thì lại thích ứng hẹp cho nơi trồng.
Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa tính ổn định của các thành phần khác
nhau, một số kết quả cho thấy rằng sự thích ứng hạn chế của cây đậu tƣơng
về năng suất chủ yếu là do yêu cầu về quang chu kỳ và cũng có thể là do cảm
ôn- Leng (1968) [40]. Còn Smith và cộng tác viên (1967) [47] đã xác định
đƣợc tính ổn định của cành cấp một, chiều cao cây, thời gian sinh trƣởng, số
quả/cây và sự nhạy cảm của giai đoạn từ ra hoa đến chín là nhân tố chính của
tính ổn định về năng suất hạt của đậu tƣơng.
Khi tiến hành nghiên cứu khả năng cho năng suất của đậu tƣơng với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status