đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của một số dòng, giống khoai lang chất lượng cao ở một số vùng sinh thái khác nhau tại tỉnh bắc giang - Pdf 13

1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt Viết đầy đủ
Đ/C: Đối chứng
NST: Ngày sau trồng
TB: Trung bnh
P: Khối lượng
CGIAR: Cơ quan tư vấn về nghiên cứu nông nghiệp của Liên hiệp quốc
IPGRI: Viện Tài nguyên di truyền thực vật Quốc tế
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
FAO: Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên hiệp quốc
1
1
2
DANH MỤC CÁC BẢNG
2
2
3
BIỂU ĐỒ
3
3
4
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 20 năm đổi mới, nhờ sự chuyển dịch từ nền kinh tế kế hoạch, tập
trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ
nghĩa, bộ mặt đất nước có nhiều thay đổi, GDP bnh quân đầu người đạt trên
1.000 USD/năm, nước ta đã thoát khỏi nhóm các nước nghèo trên thế giới. Nền
kinh tế đã và đang hội nhập sâu vào kinh tế toàn cầu, đặc biệt trong lĩnh vực sản
xuất nông nghiệp đã thu được những thành tựu đáng kể, nhiều sản phẩm nông
nghiệp xuất khẩu với khối lượng lớn mang lại nguồn lợi cho đất nước và cho

hợp với điều kiện thực tế sản xuất và thị hiếu người tiêu dùng, góp phần phát
triển sản xuất khoai lang ở Bắc Giang.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài sẽ góp phần bổ xung cơ sở lý luận cho việc phát triển các giống
khoai lang chất lượng vụ đông ở các tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu về khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của
một số dòng khoai lang chất lượng vụ đông sẽ là tài liệu cho các sinh viên, nhà
nghiên cứu tham khảo.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đánh giá, lựa chọn được các dòng khoai lang chất lượng có khả năng sinh
trưởng, phát triển tốt, cho năng suất phù hợp với điều kiện sản xuất khoai lang ở
Bắc Giang.
Mở rộng diện tích khoai lang góp phần tăng thu nhập trên đơn vị diện tích.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Cây khoai lang (Ipomoea batatas. L).
5
5
6
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của
một số dòng khoai lang chất lượng cao vụ đông và trong điều kiện sinh thái tỉnh
Bắc Giang.
5. Những đóng góp mới của đề tài
Đối với khoa học: Cung cấp số liệu nghiên cứu về một số dòng, giống
khoai lang vụ đông trên địa bàn Bắc Giang.
Đối với sản xuất:
- Xác định khả năng sinh trưởng phát triển, chất lượng của một số giống
khoai lang trong điều kiện sinh thái ở Bắc Giang.
- Lựa chọn dòng khoai lang chất lượng cao bổ xung vào bộ giống khoai
lang cho địa phương.

Canyon (Peru) sau khi phân tích phóng xạ cho thấy có độ tuổi từ 8.000 đến
7
7
8
10.000 năm (Engel, 1970) [33]. Ngoài ra, các nhà khảo cổ học về cây khoai lang
còn được tm thấy tại thung lũng Casma của Peru có độ tuổi xấp xỉ 2.000 năm
trước công nguyên (Ugent, Poroski và Poroski, 1983) [52], Austin (1977) [23],
OBrien (1972) [41] và Yen (1982) [59] và cây khoai lang thực sự lan rộng ở
Châu Mỹ khi người Châu Âu đầu tiên đặt chân tới.
V vậy, khoai lang được coi là nguồn lương thực quan trọng của người
Mayan ở Trung Mỹ và người Peruvian ở vùng núi Andet (Nam Mỹ).
Vào năm 1492 trong chuyến vượt biển đầu tiên của Christopher
Columbus đã tm ra Tân thế giới (Châu Mỹ) và phát hiện ra khoai lang được
trồng ở Hispaniola và Cuba. Từ đó, khoai lang mới thực sự lan rộng ở châu Mỹ
và sau đó được di thực đi khắp thế giới.
Đầu tiên khoai lang được đưa về Tây Ban Nha, tiếp đó lan tới một số
nước châu Âu và được gọi là Batatas (hoặc Padada), sau đó là Spanish Potato
(hoặc sweet potato).
Các nhà thám hiểm Bồ Đào Nha đã thu nhập cây khoai lang vào châu Phi
(có thể bắt đầu từ Môdămbic hoặc Ănggôla) theo hai con đường từ châu Âu và
trực tiếp từ vùng bờ biển Trung Mỹ, sau lan sang Ấn Độ.
Các thương gia Tây Ban Nha đã du nhập cây khoai lang vào Philippin
(Yên, 1982) [59] và từ Philippin vào Phúc Kiến (Trung quốc) năm 1594. Tuy
nhiên, cũng có ý kiến cho rằng khoai lang vào Trung Quốc có thể sớm hơn từ
Ấn Độ hoặc Myanma.
Người Anh đã đưa khoai lang vào Nhật Bản năm 1615 nhưng đã không
phát triển được. Đến năm 1674 cây khoai lang đã được tái nhập vào Nhật Bản từ
Trung Quốc.
Cây khoai lang được trồng trong phạm vi rộng lớn giữa vĩ tuyến 40
0

liên quan chặt chẽ đối với thời vụ trồng.
Nhiệt độ thích hợp cho thời kỳ mọc mầm ra rễ của khoai lang từ 20 -
25
0
C. Nếu điều kiện nhiệt độ dưới 10
0
C khoai lang có thể bị chết, dây mới
trồng không bén rễ được, điều này đã giới hạn đến việc trồng khoai lang từ
vùng ôn đới đến những vùng có ít nhất 4-6 tháng không có sương muối cùng
9
9
10
với nhiệt độ cao trong cả thời kỳ (Onwueme, 1978) [42]. Nhiệt độ càng cao
đặc biệt trong điều kiện đủ nước và chất dinh dưỡng thân lá phát triển càng
tốt, sự hnh thành củ thuận lợi do đó số củ/cây càng nhiều. Tuy nhiên, tốc độ
lớn của củ khoai lang còn phụ thuộc vào biên độ chênh lệch nhiệt độ ngày
đêm, chênh lệch này càng lớn th càng có lợi cho sự lớn lên của củ khoai lang
(Trịnh Xuân Ngọ và Đinh Thế Lộc, 2004) [16].
Nhiệt độ thấp làm tăng khả năng hóa gỗ và làm giảm khả năng hóa bần
ở những tế bào trung trụ ở các mô bên trong của ruột củ. Đất khô và có kết
cấu chắc làm tăng khả năng hóa gỗ nhưng lại làm giảm khả năng hóa bần.
Ban đêm nhiệt độ thấp (20
0
C) cùng với điều kiện ánh sáng ngày dài là một
trong những nhân tố quyết định tới sự hnh thành và phát triển của củ ở khoai
lang (Kim, 1961) [35].
Trong điều kiện nhiệt độ từ 10
0
C đến 15
0

40
0
. Đất có kết cấu chặt và nghèo dinh dưỡng sẽ hạn chế quá trnh hnh thành củ
khoai lang, dẫn đến năng suất thấp.
Bourke (1985) [26] cho rằng độ pH tối thích cho khoai lang sinh trưởng
phát triển tốt 5,6 - 6,6. Tuy nhiên cây khoai lang có thể sinh trưởng phát triển tốt
ở loại đất có pH = 4,5 - 7,5 trừ đất sét nặng có hàm lượng nhôm trong đất cao.
Cây khoai lang có thể bị chết trong vòng 6 tuần nếu trồng trên đất có độ
nhôm cao và không được bón vôi (Baufort - Murphy, 1889) [27].
Khoai lang được xem là có khả năng chịu được đất nghèo dinh dưỡng.
Trên nền đất được coi là nghèo với một số cây trồng khác th khoai lang vẫn cho
năng suất. Tuy nhiên, năng suất đạt được trên loại đất này chỉ khai thác được
một phần khả năng sản xuất của cây. Muốn khoai lang đạt năng suất cao cần
tăng dinh dưỡng cho cây.
Khoai lang là cây trồng cạn, được trồng chủ yếu trên đất cát ven biển, cát
pha, đất thịt nhẹ, đất một lúa một màu và đất hai vụ lúa một vụ màu. Đối với
11
11
12
chân đất hai vụ lúa và một vụ màu với điều kiện thành phần cơ giới tương đối
nhẹ, chủ động trong việc tưới tiêu, rất thích hợp đối với cây khoai lang.
Đối với điều kiện đất đai của Việt Nam, nhất là khi cây vụ Đông trở
thành vụ sản xuất chính trong sản xuất, tiềm năng đất đai có thể trồng được
khoai lang là rất lớn. V vậy, việc phát triển sản xuất cây khoai lang vụ Đông
trên chân đất hai vụ lúa đã đem lại những giá trị không nhỏ.
Bên cạnh đó, các kết quả nghiên cứu về phân bón cho khoai lang của
nhiều tác giả cho thấy:
Trong ba nguyên tố dinh dưỡng chính (đạm, lân, ka li) th kali là yếu tố
quan trọng nhất đối với khoai lang. Rất nhiều nghiên cứu cho thấy khoai lang có
nhu cầu dinh dưỡng về lân không nhiều (J.G De Geus, 1967) [60]. Nhiều nghiên

Nguyên tố
Lượng lấy đi khỏi đất (kg/ha)
Năng suất 12tấn/ha Năng suất 50 tấn/ha
Củ Thân lá Tổng Củ Thân lá Tổng
Đạm 26 52 78 110 215 325
Lân 6 9 15 25 38 63
Kali 60 90 150 250 376 626
Can xi 3,6 16 19,6 15 65 80
Magiê 3 6,5 9,5 12,5 27 39,5
Lưu huỳnh 1,8 4,3 6,1 7,5 18 22,5
(J.N. Ó Sullivan, C.J. Asher và F.P.C. Blamey, 1997)[61]
Sau một vụ khoai lang, hàm lượng dinh dưỡng bị lấy đi khỏi đất khá lớn
với lượng 78-325 kgN/ha, 15-63kgP/ha, 150-626 kgK/ha và nhiều nguyên tố
khác. Trong đó nguyên tố kali bị mang đi nhiều nhất, gấp đôi đạm và gấp 10
lần lân.
Phân hữu cơ cũng ảnh hưởng rất lớn đến năng suất củ của khoai lang, theo
Phùng Huy, 1980 [7]; nghiên cứu ảnh hưởng của bón lót phân chuồng đến năng
suất củ khoai lang (trên nền phân bón: 5 N + 45 P
2
O
5
+ 60 K
2
O) cho thấy: Khi
bón lót phân chuồng (phân hữu cơ) từ 5 tấn/ha đến 20 tấn/ha đã làm tăng năng
suất củ khoai lang từ 151 tạ/ha lên 246,7 tạ/ha.
1.3. Tình hình sản xuất và nghiên cứu khoai lang trên thế giới
13
13
14

Năng suất khoai lang trên thế giới giảm liên tục qua các năm, từ 14,16
tấn/ha (năm 2005) xuống 12,65 tấn/ha (năm 2009), do đó tổng sản lượng giảm.
14
14
15
Hiện nay Trung Quốc là nước sản xuất nhiều khoai lang nhất trên thế giới,
năm 2009 đạt 3.860.254 ha, với năng suất là 21 tấn/ ha và sản lượng đạt cao nhất
thế giới (81.212.926 tấn).
Tuy nhiên, theo dự báo của cơ quan tư vấn về nghiên cứu nông nghiệp
quốc tế (CGIAR) của Liên hợp quốc cho biết sản xuất các cây có củ như sắn,
khoai tây, khoai lang từ nay đến năm 2020 sẽ lần lượt tăng với tốc độ: 1,74; 2,02
và 2,7%/năm. Một số tài liệu nước ngoài đề cập tới vai trò của cây có củ như
một trong những chỗ dựa quan trọng của nhân loại trong thế kỷ 21. Bởi hiện tại
tiềm năng cải tiến năng suất của cây có củ là rất lớn, trong khi đó mặc dù năng
suất của các cây ngũ cốc đã khá cao nhưng trong một phạm vi nào đó đã đạt đến
mức giới hạn của năng suất trần. Ngoài ra cây có củ có thể trồng được ở những
vùng đất xấu, khô hạn,…
1.3.2. Tình hình nghiên cứu
Trong công tác lai tạo giống, việc duy tr và bảo quản tập đoàn giống
địa phương phải luôn được tiến hành thường xuyên. Theo số liệu thống kê
trong bản danh mục về tập đoàn khoai lang năm 1980, do Viện tài nguyên di
truyền thực vật Quốc tế (IPGRI) tập đoàn này bao gồm 6.900 mẫu. Mỗi một
nước trên thế giới đều duy tr tập đoàn khoai lang nhất định.
Ở Nhật Bản năm 1993 duy tr tới 3.455 dòng, giống (Komaki, 1994 [37]).
Theo báo cáo của Bacusmo, Acedo, Mariscal và Oracion (1994) [28], ngân hàng
gen khoai lang của Philippin hàng năm lưu giữ 2.777 mẫu.
Tại nhiều Viện nghiên cứu ở Trung Quốc, số lượng giống trong tập đoàn
lưu giữ lên tới 3.000 mẫu và luôn được duy tr trên đồng ruộng; duy tr bằng
invitro và bảo quản bằng invitro (Xiao-Ding, Wang, Wu, Sheng, 1994) [57].
Việc khảo sát quỹ gen khoai lang (vật liệu khởi đầu) không những mô tả

chế biến Trong quá trnh bảo quản sau thu hoạch và chế biến thành phần gluxit
16
16
17
sẽ biến đổi. Nơi trồng với các điều kiện sinh thái cụ thể hnh như là tác nhân
quan trọng, ảnh hưởng đến từng loại gluxit (Woolfe, 1992) [54].
Tinh bột là thành phần quan trọng của gluxit. Trung bnh tinh bột chiếm
60 - 70% chất khô (Woolfe, 1992 [54]; Palmer, 1982 [44]). Hàm lượng tinh bột
biến động mạnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố giống là quan trọng
nhất. Tại Braxin 18 giống khoai lang trồng ở một địa điểm có hàm lượng tinh
bột biến đổi từ 42,6% - 78,7% chất khô (Cedera & CS 1982) [29]. Các giống
khoai lang ở Philippines và Mỹ, hàm lượng tinh bột biến động từ 33,2% - 72,9%
chất khô (Truong Van Den, Bienman và Marlett, 1986) [50]. Nếu tính theo chất
tươi th củ khoai lang có hàm lượng tinh bột trung bnh là 18%. Trên 31 giống
tại Ấn Độ có hàm lượng tinh bột biến động từ 11% đến 25,5% chất tươi
(Shanmugan và Venugopal , 1975) [47]; ở 272 giống của Đài Loan biến động từ
7% đến 22,2% chất tươi (Li và Liao, 1983) [38]; ở 75 giống của Thái lan biến
động từ 4,1% đến 26,7% chất tươi (Prabhudham, 1987) [45] và 164 dòng, giống
vùng Nam Thái Bnh Dương biến động từ 5,3% đến 28,4% chất tươi (Bradbury
và Hollway, 1988) [24]. Ở Ấn Độ: 11,0-25,5% chất tươi (31 giống).
Ngoài các yếu tố di truyền, các yếu tố khác như nơi trồng, năm trồng và
độ dài ngày của mùa trồng, cũng có ảnh hưởng đến hàm lượng tinh bột của củ
khoai lang. Theo kết quả nghiên cứu của các tác giả Australia (Bradbury và
Hollway, 1988) [24] hàm lượng tinh bột trung bnh của 8 giống biến động từ
13,1% đến 15,9% khi trồng ở 4 địa điểm khác nhau và của 15 giống từ 17,1%
đến 18,5% giữa 2 năm trồng khác nhau. Các tương tác giữa giống với nơi trồng
hay giữa giống với năm trồng có ý nghĩa cao. V vậy việc phải trồng thử nghiệm
các giống ở các địa điểm khác nhau và các năm là quan trọng, để xác định giống
thích hợp cho từng vùng, từng vụ cụ thể, chẳng hạn như: Hàm lượng tinh bột ở
cùng một giống thu hoạch sau trồng 150 ngày hay 180 ngày cao hơn đáng kể so

(Purcel, 1972 [46]; Li, 1974 [39]).
18
18
19
Khoai lang là một trong những nguồn cung cấp vitamin C đáng kể (axit
ascorbic) và chứa một lượng vừa phải thiamin (vitamin B
1
), riboflavin (B
2
),
niaxin cũng như vitamin B
6
, axit pantothenic (B
5
) và axit folic. Ngoài ra khoai
lang còn chứa nguồn Caroten - tiền vitamin A rất quan trọng đối với dinh dưỡng
của người và gia súc. Khoai lang có hàm lượng vitamin C biến động từ 20 đến
50 mg /100g chất tươi (Ezell & Wilcox, 1952) [32].
Theo số liệu công bố của Viện dinh dưỡng (dựa trên số liệu của bảng
thành phần dinh dưỡng của FAO dùng cho vùng Đông á) trong các loại khoai
lang khác nhau hàm lượng vitamin C biến động từ 23 mg/100g chất tươi (củ
khoai lang ruột trắng) đến 30 mg/100g chất tươi (củ khoai lang ruột vàng).
Sắc tố Carôten quyết định mầu sắc thịt củ khoai lang: mầu kem, mầu
vàng, da cam hay da cam đậm tuỳ theo hàm lượng β Caroten. Tỷ lệ này cao
trong các giống ruột củ vàng đến vàng cam đậm. Các giống ruột củ trắng
thường không có Caroten. Ý nghĩa quan trọng của β Caroten trong khẩu phần
ăn là hoạt tính tiền vitamin A.
Caroten - tiền vitamin A là nhóm hợp chất chỉ có ở thực vật và được
biến thành vitamin A có vai trò dinh dưỡng rất quan trọng đối với người và
động vật. Sự thiếu hụt vitamin A gây nên các bệnh khác nhau về mắt, cản trở

rất cao, năng suất khoai lang bnh quân của các nước trên thế giới đạt 14 - 15
tấn/ha trong đó Việt Nam mới chỉ đạt được 6-8 tấn/ha, một số nước có năng
suất cao như: Nhật Bản đạt 30 - 40 tấn/ha, Hàn Quốc đạt 30 -35 tấn/ha, Trung
Quốc đạt 60-80 tấn/ha, Trong quá trnh phát triển sản xuất nông nghiệp ở
nước ta khoai lang chiếm vị trí quan trọng trong sản xuất lương thực, khoai
lang có thể xếp thứ 3 sau lúa và ngô. V khoai lang là cây lương thực dễ trồng,
đầu tư thấp nhưng lại cho năng suất rất cao. Nếu xét về diện tích và sản lượng
khoai lang, thậm chí nó xếp thứ 2 trong số những cây lương thực ở các vùng
hay xảy ra bão lớn của một số tỉnh ven biển Miền Trung nước ta (Anon, 1998).
20
20
21
Sản xuất khoai lang ở Việt Nam chủ yếu được tiến hành ở hộ nông dân,
nói chung tự sản tự tiêu là chính, ít có tính chất hàng hoá. Hàng chục năm
trước đây, các nhà chọn giống và các nhà nông học đã giới thiệu và phát triển
các giống mới và các biện pháp kỹ thuật, nhưng năng suất không tăng như
mong muốn. Cây khoai lang đang có một triển vọng lớn về nguồn lương thực
bổ sung, về chế biến công nghiệp và cả tiềm năng lớn về thức ăn cho gia súc
nên nó đòi hỏi đầu tư nghiên cứu hơn nữa nhằm tm ra những giải pháp cho
các vấn đề chọn giống, sản xuất và nâng cao giá trị sử dụng.
Bng 1.3: Diện tích, năng suất và sản lượng khoai lang các vùng sinh thái
trong cả nước năm 2009
TT Chia ra các vùng sinh thái
Năm 2009
Diện tích
(1000ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng
(1000tấn)

Về năng suất khoai lang trung bnh ở nước ta còn quá thấp, khoảng 8,24
tấn/ha. Tuy nhiên, vùng có năng suất khoai lang cao nhất năm 2009 là vùng
Đồng bằng sông Cửu Long đạt bnh quân là 20 tấn/ha, các vùng còn lại trong cả
nước năng suất chỉ đạt từ 6,2 tấn/ha đến 10,07 tấn/ha, trong khi năng suất trung
bnh của Nhật Bản, Triều Tiên: 20 tấn/ha, Như vậy, có thể thấy rằng còn rất
nhiều tiềm năng để nâng cao năng suất khoai lang ở nước ta.
Ở Việt Nam, khoai lang được sử dụng rộng rãi làm lương thực và thực
phẩm, nhưng chế biến khoai lang chưa được quan tâm nên mới chỉ ở quy mô
nhỏ hẹp. Ngoài thái con ch và phơi khô để nấu với đỗ, nghiền làm bánh, mứt
(Bùi Huy Đáp, 1984) [5], (Đinh Thế Lộc, 1979) [15], (Lương Thị Thịnh,
1977) [21], th Viện Công nghệ sau thu hoạch đã đưa ra quy trnh kỹ thuật sản
xuất đường nha và dextrin từ khoai lang và sắn (Nguyễn Công Ngữ và CS,
1990) [17]. Hay tinh bột khoai lang có thể sản xuất miến hay sản xuất tinh bột
khoai lang sử dụng enzym (Phùng Hữu Hào, Lê Doãn Diên và CS, 1995) [8].
Việc sử dụng củ hoặc thân lá khoai lang cho người và gia súc cũng rất
khác nhau giữa các vùng. Ở Miền Bắc, những nơi chủ yếu trồng lúa th khoai
lang được sử dụng chính là cho gia súc chiếm từ 40-80%. Có thể thấy việc sử
dụng khoai lang làm lương thực ở các vùng chỉ đạt từ 10% cho đến 40%. Ngoài
22
22
23
ra, chỉ có khoảng 20% khoai lang được lưu hành trên thị trường (Bảng 1.4).
Bng 1.4: Tình hình sử dụng khoai lang ở Việt Nam
(% tổng sản lượng)
Vùng
Đối tượng sử dụng
ĐB Bắc Bộ
Ven biển
Trung bộ
ĐB sông

năng chịu rét tốt trong điều kiện vụ đông. Nhược điểm của giống K51 là chất
lượng củ còn thấp, tỷ lệ chất khô củ đạt khoảng 20%.
Giống khoai lang KB-1 được công nhận giống năm 2002. Đây là giống
khoai lang có tiềm năng năng suất cao đạt 25-30 tấn/ha, chất lượng củ tươi khá.
Ngoài ra, giống khoai lang này có hàm lượng chất khô khá cao đạt 28-33% tùy
theo thời vụ trồng và kỹ thuật canh tác. Đây là giống đang được trồng phổ biến ở
nhiều địa phương bởi những ưu thế về năng suất và chất lượng của nó.
Trong thời gian qua, đã có nhiều tiến bộ về biện pháp canh tác tổng hợp cây
khoai lang đưa ra, áp dụng cho nhiều vùng sinh thái khác nhau nhằm đưa ra
công thức hữu hiệu nhất nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm khoai lang.
Khi mô tả cấu tạo củ khoai lang, các tác giả cho rằng: Củ khoai lang là
sự phát triển mạnh của một loại rễ gọi là rễ củ. Nhờ hoạt động nhịp nhàng của
2 lớp tượng tầng sơ cấp và thứ cấp ở rễ củ, mà rễ củ có khả năng tích luỹ dinh
dưỡng được và phnh to lên thành củ khoai lang. Đây là điểm khác cơ bản của
rễ củ đối với các loại rễ khác ở cây khoai lang. Củ khoai lang có mầu sắc,
hnh dáng bên ngoài khác nhau phụ thuộc vào giống và điều kiện canh tác, củ
khoai lang có hai lớp: lớp vỏ và lớp thịt củ, lớp vỏ với chức năng bảo vệ,
trong vỏ có chứa nhiều Tanin và nhựa tập trung nhiều ở đầu củ. Lớp thịt củ có
chứa nhiều tinh bột, đường, protein và ngoài ra còn các thành phần khác như:
24
24
25
protein, các chất vitamin (Vitamin C, tiền vitamin A (caroten), B1, B2…), các
chất khoáng (P, Fe…) góp phần quan trọng trong dinh dưỡng của con người,
nhất là ở các nước nghèo, đang phát triển.
Theo kết quả công bố (1972), của Viện vệ sinh dịch tễ (Bộ Y tế) và Viện
nghiên cứu kỹ thuật ăn mặc (Cục quân nhu, Tổng cục hậu cần); Nguyễn Đạt,
Ngô Văn Tân, 1974 [6] cho thấy: trong củ khoai lang tươi có 68% nước, 28%
gluxit (80% ở củ khô) (Bảng 1.5).
Bng 1.5: Thành phần hoá học 100g thức ăn của củ khoai lang

Dây khoai tươi 1,21 3,40 16,50
Dây khoai khô 10,06 2,10 38,40
Tinh bột trong củ khoai lang biến động từ 52,29 - 75,38% chất khô
(Đinh Thế Lộc, 1979) [15].
Đường tổng số trong củ khoai lang từ 12,26 - 18,52% chất khô. Bao
25
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status