HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
“THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG
TIẾP CẬN DỊCH VỤ KHUYẾN NÔNG CỦA HỘ NÔNG DÂN
XÃ YÊN THẮNG, HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH”
Người thực hiện ĐINH THỊ THU HÀ
Chuyên ngành KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Lớp KTNNB - K56
Niên khóa 2011 - 2015
Giảng viên hướng dẫn PGS.TS. MAI THANH CÚC
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu, kết quả
trong Luận văn này hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 28 tháng 11 năm 2014
Sinh viên
2
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và tiến hành nghiên cứu đề tài này, tôi đã nhận
được rất nhiều sự giúp đỡ của các cá nhân tập thể. Tôi xin có lời cảm ơn chân thành
nhất tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài
nghiên cứu này.
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Mai Thanh Cúc, người đã
tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tiến hành thực hiện đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Học viện Nông nghiệp Việt
Nam, Ban chủ nhiệm Khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn, các thầy cô giáo đã trực
khuyến nông một cách đầy đủ, có những hộ tiếp cận khuyến nông một cách không
hoàn toàn, đây là các hộ chỉ tham gia một vài hoạt động và khả năng áp dụng các
kiến thức đó có kết quả không cao. Yên Thắng là một xã thuần nông của huyện Yên
Mô, tỉnh Ninh Bình. Công tác khuyến nông được triển khai trên địa bàn khá tốt,
song khả năng tiếp cận các dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân vẫn chưa được
cao và chưa được đồng đều giữa các hộ. Hiện nay xã đã thực hiện quy hoạch “Thửa
ruộng mẫu lớn” vậy cơ cấu cây trồng, vật nuôi ra sao để phù hợp với việc quy
hoạch. Chính vì thế sự cần thiết trong đổi mới công tác khuyến nông của xã để nâng
cao khả năng tiếp cận dịch vụ khuyến nông góp phần phát triển bền vững kinh tế
nông hộ, giúp hộ nâng cao được thu nhập đang là vấn đề cấp thiết đặt ra tại địa
phương. Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng
và giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân
xã Yên Thắng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình” cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
Mục tiêu chung của đề tài là: “Đánh giá thực trạng khả năng tiếp cận dịch
vụ khuyến nông của hộ nông dân trên địa bàn xã Yên Thắng, phân tích các yếu tố
ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận dịch vụ khuyến nông, trên cơ sở đó đề xuất các
giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ khuyến nông cho hộ nông dân
xã” được cụ thể hóa bằng 4 mục tiêu cụ thể sau: (1) Hệ thống hóa cơ sở lý luận và
4
thực tiễn về khả năng tiếp cận dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân; (2) Đánh giá
thực trạng khả năng tiếp cận dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân xã Yên Thắng;
(3) Xác định những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp dịch vụ khuyến nông của
hộ nông dân xã Yên Thắng; (4) Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiếp cận
dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân xã Yên Thắng trong thời gian tới.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề khả
năng tiếp cận dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân và nâng cao khả năng tiếp cận
dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân tại xã Yên Thắng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh
Bình.Chủ thể nghiên cứu của đề tài là hộ nông dân, cán bộ khuyến nông của xã và
các cơ sở cung cấp dịch vụ khuyến nông trên địa bàn xã, các dịch vụ khuyến nông
như: Chuyển giao kỹ thuật, tập huấn, giới thiệu cây trồng vật nuôi mới cho năng
phần đa các hộ đều sử dụng cả 4 dịch vụ mà HTX cung cấp. Trong 4 hoạt động thì
hộ đánh giá mức hài lòng cao nhất đối với hoạt động thông tin tuyên truyền, tiếp
theo là hoạt động tư vấn và dịch vụ khuyến nông, thứ 3 là hoạt động đào tạo & tập
huấn KT, cuối cùng là xây dựng & nhân rộng MHTD.
Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận dịch vụ khuyến nông của
hộ nông dân tại xã Yên Thắng: (1) Đặc điểm của hộ bao gồm trình độ học vấn, giới
tính, lao động, quy mô sản xuất, điều kiện kinh tế của hộ; (2) Năng lực và trình độ
của CBKN; (3) Nguồn kinh phí cho các hoạt động khuyến nông; (4) Nội dung và
chất lượng hoạt dộng khuyến nông; (5) Điều kiện tự nhiên và điều kiện về kinh tế -
xã hội; (6) Chính sách của Nhà nước và địa phương. (7) Gợi ý cải thiện dịch vụ do
hộ đưa ra chủ yếu xoay quanh về các nội dung như: CBKN cần tiếp xúc với người
dân nhiều hơn, kiểm tra, giám sát khi người dân áp dụng các kỹ thuật vào sản xuất;
cung cấp tài liệu cho tất cả mọi người đều có thể dễ dàng đọc và dễ áp dụng các kỹ
thuật nông nghiệp; chủ đề, nội dung của các hoạt động cần đa dạng và phong phú
hơn; các khóa tập huấn cần được giảng trực tiếp và có thực hành; cần cung cấp
thông tin về thị trường đầu vào và đầu ra cho quá trình sản xuất.
Để nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân tại xã
Yên Thắng, đề tài đề xuất một số giải pháp giúp nâng cao khả năng tiếp cận các
dịch vụ khuyến nông đề tài đề xuất một số giải pháp giúp nâng cao chất lượng và
hiệu quả các giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn xã Yên Hòa như sau:
(1) Hoàn thiện tổ chức hệ thống khuyến nông; (2) Nâng cao nguồn lực cho hoạt
động khuyến nông; (3) Tăng kinh phí cho các hoạt động khuyến nông; (4) Tăng
cường và nâng cao chất lượng các hoạt động khuyến nông; (5) Nâng cao nhận thức
của người dân.
6
MỤC LỤC
Trang
7
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AD Áp dụng
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong vòng gần ba thập kỷ trở lại đây Việt Nam luôn là những nước đứng
đầu về xuất khẩu lương thực của thế giới. Từ một nước có nền nông nghiệp lạc hậu,
tự cung, tự cấp, quy mô nhỏ, chúng ta đã vươn lên để dần dần trở thành một nước
có nền nông nghiệp hàng hoá, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và có tỷ suất
hàng hoá ngày càng lớn, có vị thế đáng kể trong khu vực và thế giới. Nước ta đã trở
thành một trong những nước đứng đầu về xuất khẩu gạo, cà phê, điều, tiêu, thuỷ hải
sản trên thị trường quốc tế (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2008). Để có được những
thành tựu đó thì không thể phủ nhận vai trò qua trọng của công tác khuyến nông với
sự phát triển của nên nông nghiệp Việt Nam.
Kể từ ngày 02/3/1993, khi Chính phủ ban hành Nghị định 13/CP về công tác
khuyến nông - khuyến ngư, hệ thống khuyến nông - khuyến ngư Việt Nam đã được
hình thành, củng cố và ngày càng phát triển một cách toàn diện. Khuyến nông
khuyến ngư đã tích cực chuyển giao những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ
mới, đào tạo, tập huấn nâng cao trình độ kỹ thuật, canh tác cho nông dân, chuyển tải
kịp thời mọi chủ trương, đường lối, chính sách phát triển sản xuất nông lâm ngư
nghiệp của Đảng và Nhà nước và thực sự đã góp phần tạo nên sự tăng trưởng mạnh
mẽ về năng suất, chất lượng sản phẩm nông - lâm - ngư nghiệp, góp phần đảm bảo
an ninh lương thực, đóng vai trò quan trọng trong công cuộc xoá đói giảm nghèo và
sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Để giải quyết được
nhưng khó khăn, vướng mắc và nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của sản xuất, khoa
học công nghệ và xu hướng hội nhập Chính phủ đã ban hành Nghị định
56/2005/NĐ-CP về khuyến nông, khuyến ngư và Nghị định 02/2010/NĐ-CP để làm
tăng tính hiệu quả của công tác khuyến nông, khuyến ngư.
Công tác khuyến nông, khuyến ngư có đạt được kết quả như mong muốn hay
không thì còn phải phụ thuộc vào khả năng tiếp cận về các dịch vụ khuyến nông của
hộ nông dân. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận về các dịch vụ khuyến nông giữa các hộ
nông dân là khác nhau. Có những hộ được tiếp cận khuyến nông một cách đầy đủ,
đây là những hộ được biết và tham gia tất cả các hoạt động của khuyến nông và áp
khuyến nông có đáp ứng được nhu cầu của hộ? Những nguyên nhân nào ảnh hưởng
tới khả năng tiếp cận dịch vụ khuyến nông của hộ? Cần có những giải pháp gì giúp
tăng cường khả năng tiếp cận các dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân tại xã?
12
Xuất phát từ những lý do trên,tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và
giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân xã
Yên Thắng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình” cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng khả năng tiếp cận dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân
trên địa bàn xã Yên Thắng, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận
dịch vụ khuyến nông, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao khả năng
tiếp cận dịch vụ khuyến nông cho hộ nông dân xã.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về khả năng tiếp cận dịch vụ khuyến nông
của hộ nông dân;
- Đánh giá thực trạng khả năng tiếp cận dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân xã
Yên Thắng;
- Xác định những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp dịch vụ khuyến nông của hộ
nông dân xã Yên Thắng;
- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ khuyến nông của hộ
nông dân xã Yên Thắng trong thời gian tới.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tương nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề khả năng tiếp cận dịch vụ khuyến nông
của hộ nông dân và nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ khuyến nông của hộ nông
dân tại xã Yên Thắng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
Chủ thể nghiên cứu của đề tài là hộ nông dân, cán bộ khuyến nông của xã và
các cơ sở cung cấp dịch vụ khuyến nông trên địa bàn xã, các dịch vụ khuyến nông
như: Chuyển giao kỹ thuật, tập huấn, giới thiệu cây trồng vật nuôi mới cho năng
trong công việc, còn “khuyến nông” là khuyến mở mang phát triển trong nông
nghiệp.
Theo tổ chức FAO (1987) “Khuyến nông khuyến lâm được xem như một tiến
trình của sự hòa nhập các kiến thức KHKT hiện đại. Các quan điểm kỹ năng để
quyết định cái gì cần làm, cách thức làm trên cơ sở cộng đồng địa phương sử dụng
các nguồn tài nguyên tại chỗ với sự hỗ trợ giúp đỡ từ bên ngoài để có khả năng vượt
qua các trở ngại gặp phải”.
Còn theo Malla (1988) thì khuyến nông khuyến lâm là làm việc với nông
dân, lắng nghe những khó khăn, các nhu cầu và giúp họ tự quyết định lấy vấn đề
chính của họ.
Theo Adams thì khuyến nông là vật tư cho nông dân giúp họ tìm ra những khó
khăn trở ngại trong cuộc sống và sản xuất, đồng thời đề ra những giải pháp khắc
phục. Khuyến nông còn giúp cho nông dân nhận biết được cơ hội của sự phát triển.
Theo Maunder thì khuyến nông như là một dịch vụ hay một hệ thống giúp
cho người dân hiểu biết phương pháp canh tác, kỹ thuật cải tiến tăng hiệu quả sản
xuất và thu nhập. Làm cho mức sống của họ tốt hơn và nâng cao giáo dục trình độ
của nông dân.
Ở Việt Nam, năm 2000 cục khuyến nông Việt Nam đã tổng hợp nhiều khái
niệm khuyến nông của các quốc gia, các tác giả và đức kết từ những thực tiến hoạt
động khuyến nông như sau: “Khuyến nông là cách đào tạo và rèn luyện tay nghề
15
cho người nông dân, đồng thời giúp cho họ hiểu được chủ trương, chính sách về
nông nghiệp, những kiến thức về kỹ thuật, kinh nghiệm về quản lý kinh tế, những
thông tin về quản lý thị trường, để họ có đủ khả năng để giải quyết được các vấn đề
của gia đình và cộng đồng nhằm cải thiện cuộc sống, nâng cao dân trí, góp phần xây
dựng và phát triển nông thôn mới” (Nguyễn Văn Long, 2006).
Khuyến nông cần trả lời ba câu hỏi: Làm gì? Đạt mục đích gì? Làm bằng
cách nào?
Như vậy: Khuyến nông là cách giáo dục không chính thức, một quy trình vận
động mọi hoạt động nhằm truyền bá những kiến thức về KTTB, công nghệ mới cho
tế, hệ thống cây trồng, vật nuôi, hệ thống khuyến nông) đều có một cấu trúc tổ chức
riêng, có sự lãnh đạo, có nguồn nhân lực, trang thiết bị và cơ sở vật chất. Nó cũng
có chương trình hoạt động với mục tiêu, phương pháp, kỹ thuật thực hiện. Nó cũng
có liên kết với các tổ chức khác, các cộng đồng dân cư và cũng như các đối tượng
mà nó phục vụ (Đỗ Kim Chung, 2011).
Vậy nên tùy theo vào mục đích, lĩnh vực nghiên cứu mà nó lại có các hướng
tiếp cận khác nhau, chẳng hạn như tiếp cận giới, tiếp cận thị trường, tiếp cận tín
dụng, tiếp cận khuyến nông…
Tiếp cận dịch vụ khuyến nông là sự thiết yếu của hệ thống khuyến nông,
bao gồm các hoạt động nhằm tìm hiểu, nắm bắt thông tin về dịch vụ khuyến nông
cũng như điệu kiện và phương thức để thiết lập mối quan hệ để cung cấp dịch vụ
với các tổ chức hoặc cơ quan khuyến nông tại một khu vực hay một địa phương nào
đó. Sự tiếp cận diễn ra theo hai hướng ngược chiều nhau, từ cơ quan khuyến nông
đến người dân và ngược lại. Trong đó cơ quan cung cấp dịch vụ khuyến nông là
người sở hữu lượng giá trị và nông hộ chính là người có nhu cầu sử dụng các dịch
vụ này (Phạm Tài Thắng, 2009).
2.1.1.3 Khái niệm hộ nông dân
Từ các khái niệm về hộ gia đình mà nhiều nhà kinh tế - xã hội như Frank
Ellis (1993); A.V Traianop (1996), Lê Đình Thắng (1993) khi nghiên cứu trong
nông nghiệp đều thống nhất rằng hộ nông dân là các hộ gia đình làm sản xuất nông
nghiệp và có những đặc trưng sau:
- Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông
nghiệp, nguồn thu nhập, sinh sống chính bằng nghề nông. Ngoài hoạt động nông
17
nghiệp hộ nông dân còn tham gia hoạt động phi nông nghiệp (như tiểu thủ công
nghiệp, thương mại, dịch vụ…)
- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn
vị tiêu dùng, đó là điều khẳng định. Tuy vậy kinh tế hộ nông dân thường nằm trong
hệ thống kinh tế lớn hơn, chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị
trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao.
về trồng trọt, chăn nuôi, được tiếp cận với các thông tin đại chúng ngày càng nhiều.
Khi sự tiếp cận của người dân tới các dịch vụ khuyến nông được dễ dàng thì họ sẽ
hiểu hơn, nhận thức rõ hơn vai trò, tầm quan trọng của khuyến nông. Nông dân từ
việc chưa nhận thức được thì nay họ đã nhận thức rõ được tầm quan trọng các kiến
thức khoa học kỹ thuật, những nguồn thông tin về thị trường nông sản… Và họ đã
tiếp nhận chúng và mong muốn làm thay đổi điều kiện sống của mình, đưa cuộc
sống của mình ngày càng được nâng cao. Sau khi học tập và thử nghiệm, họ sẽ tự
đánh giá, đúc rút kinh ngiệm cho chính bạn thân mình và họ sẽ chính là người vận
dụng, chia sẻ, trao đổi những kiến thức đó một cách có hiệu quả nhất.
2.1.2 Vai trò của tiếp cận dịch vụ khuyến nông
Trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân thì tiếp cận
khuyến nông cũng có vai trò quan trọng. Vai trò đó thể hiện như sau:
- Tiếp cận DVKN giúp người nông dân biết được KHKT và công nghệ mới, giúp họ
hiểu được nó và áp dụng chúng vào trong đời sống sản xuất được tốt hơn.
- Giúp nông dân nâng cao được kiến thức và tiếp cận các nguồn thông tin phục vụ
cho đời sống sản xuất và phát triển kinh tế.
- Tiếp cận DVKN làm cho nông dân được đào tạo và nâng cao tay nghề sản xuất
nông nghiệp. Giúp họ tăng khả năng tìm kiếm việc làm, nâng cao thu nhập cho lao
động ở nông thôn.
- Người nông dân xóa đói giảm nghèo một cách bền vững. Do tiếp cận DVKN hỗ trợ
sản xuất, hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, chuyển đổi giống cây trồng vật
nuôi, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm nông sản, phát triển kinh tế, tạo điều
kiện để nông dân thoát nghèo.
- Giúp người nông dân định hướng sản xuất một cách bền vững và thân thiện với môi
trường sống và cộng đồng.
19
2.1.3 Nội dung tiếp cận dịch vụ khuyến nông của hộ nông dân
2.1.3.1 Nhận thức của hộ nông dân về vai trò của khuyến nông và khả năng tiếp
cận với cán bộ khuyến nông
Chúng ta biết rằng, vai trò của khuyến nông quan trọng trong phát triển
nông dân.
a) Hoạt động xây dựng mô hình trình diễn
Khi chuẩn bị đưa một TBKT vào sản xuất đại trà, cần phải kiểm nghiệm
thực tế xem TBKT đó có phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, thời tiết khí hậu
của địa phương hay không. Quá trình kiểm nghiệm đó là hoạt động xây dựng mô
hình trình diễn.
Để đánh giá mức độ tiếp cận về hoạt động xây dựng MHTD thì cần quan
tâm tới thứ nhất là về thực trạng tiếp cận hoạt động xây MHTD bao gồm các nội
dung sau: số hộ hiểu MHTD, số hộ tham gia các MHTD, lý do hộ tham gia và
không tham gia là như thế nào, kết quả của các mô hình và khả năng áp dụng của
MH ra đồng trà. Thứ hai là đánh giá hoạt động xây dựng MHTD bao gồm các nội
dung sau: nội dung của MHTD có phù hợp với nhu cầu, đặc điểm kinh tế xã hội của
địa phương hay không và tính kịp thời hay không? Cán bộ khuyến nông có thường
xuyên kiểm tra giám sát trong quá trình MH được thì điểm, khả năng áp dụng của
MH ra động trà tại địa phương.
b) Hoạt động tham quan, hội thảo đầu bờ
Hội nghị đầu bờ là buổi họp và thảo luận trực tiếp và các người dự hội nghị
trực quan cây đang trồng, tất cả đều ngồi ngay trên đầu bờ đám ruộng để thảo luận
vấn đề khoa học kỹ thuật đang áp dụng cho đám ruộng đang trồng để rút ra ưu
điểm, khuyết điểm để có kinh nghiệm và phổ biến cho nông dân. Đám ruộng ấy
đang được làm thí điểm. Cuộc hội nghị ấy ở trên đầu bờ ruộng, không có ghế, trực
tiếp quan sát cây đang trồng và thảo luận.
Đánh giá mức độ tiếp cận hoạt động tham quan hội thảo đầu bờ cần chú ý tới
thực trạng tiếp cận hoạt động tham quan, hội thảo đầu bờ bao gồm những nội dung
sau: Số hộ biết về các cuộc hội thảo đầu bờ tổ chức ở địa phương; số hộ tham gia
các chuyến tham quan, hội thảo, lý do họ tham gia, lý do các hộ không tham gia là
gì? Đánh giá về hoạt động tham quan hội thảo đầu bờ bao gồm các nội dung sau:
21
nội dung của hội thảo có hữu ích không? Đánh giá của hộ về khả năng áp dụng
những MH, kỹ thuật mới học được từ hội thảo, lý do không áp dụng là gì?
Từ tìm hiểu thực trạng tiếp cận các hoạt động khuyên nông, đánh giá của hộ
về các hoạt động cho thấy được mức độ tiếp cận của hộ với các hoạt động như thế
nào. Từ đó hộ sẽ đánh giá cho điểm về mức hài lòng đối với các hoạt động như thế
nào? Hoạt động nào hộ đánh giá ở mức cao nhất và lý do tại sao, hoạt động nào
được đánh giá ở mức thập nhất.
2.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận dịch vụ khuyến nông của
hộ nông dân
2.1.4.1 Đặc điểm của hộ
- Trình độ học vấn là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến việc tiếp cận DVKN của
hộ. Trình độ của chủ hộ và các thành viên trong hộ thể hiện qua nhận thức về
HKKT, qua kiến thức kinh tế, thị trường, xã hội, môi trường do khuyến nông cung
cấp.
- Giới tính: đây cũng là yếu tố phần nào ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận DVKN.
Thường thì những chủ hộ là nam giới thì thường mạnh dạn hơn những chủ hộ là nữ.
Nam giới họ thường quyết đoán và mạo hiểm hơn giám làm giám chịu, còn nữ giới
thì thường thận trọng hơn, không giám mạo hiểm. Như vậy những chủ hộ là nữ thì
khả năng tiếp cận DVKN sẽ gặp khó khăn hơn, đặc biệt là việc áp dụng mô hình sản
xuất mới.
- Lao động: đây là một đầu vào quan trọng trong quá tình sản xuất hộ, số lao động và
độ tuổi lao động cũng ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận dich vụ khuyến nông như
khả năng tiếp thu được khoa học tiến bộ không, số lượng lao động có phù hợp để hộ
áp dụng những kỹ thuật vào sản xuất.
- Quy mô sản xuất: hay nói các khác là về đất đai sử mà hộ sử dụng để sản xuất cũng
ảnh hưởng tới tiếp cận của hộ, hộ phải lựa chọn những tiến bộ khoa hoặc phù hợp
với quy mô của hộ đang có, với những hộ có quy mô sản xuất nhỏ nó sẽ hạn chế
việc hộ tiếp cận và áp dụng những tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất.
- Điều kiện kinh tế của hộ: Hiện nay công các khuyến nông mới chỉ tập trung chủ yếu
vào những đối tượng có điều kiện, còn những người nghèo, vùng đồng bào dân tộc,
vùng sâu vùng xa vẫn khó tiếp cận (Vi Thị Nguyệt, 2013).
23
Đặc điểm về đất đai và đại hình có ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận của hộ.
Các vùng trung du, miền núi do điều kiện địa hình phức tạp, làm cho việc đưa các
24
máy móc, trang thiết bị phục vụ cho sản xuất, việc triển khai các hoạt động khuyến
nông phù hợp với đăc điểm này gặp nhiều khó khăn. Do đó kết quả của chương
trình khuyến nông không đạt hiệu quả. Vì thế nên khả năng tiếp cân với các hoạt
động khuyến nông của người dân bị giảm xuống
2.1.4.6 Chính sách về khuyến nông của Nhà nước
Chính sách của Nhà nước về khuyến nông ban hành nhằm mục địch chỉ rõ
được nội dung của từng hoạt động khuyến nông là gì? Ai là người tham gia thực
hiện? Ai là người hưởng thụ? Tổ chức thực hiện, nhiệm vụ của các bên như thế nào?
Các chính sách của Nhà nước về khuyến nông được ban hành được tuyên
truyền phổ biến xuống cấp cơ sở. Việc thực hiện chính sách khuyến nông chính là cụ
thể hóa nội dung chính sách, triển khai thực hiện các hoạt động khuyến nông tại đại
phương. Các cơ quan triển khai thực hiện chính sách theo cấu trúc ngành dọc từ
Trung tâm khuyến nông quốc gia đến trung tâm khuyến nông tỉnh/thành phố đến
Trạm khuyến nông huyện/thị xã đến khuyến nông viên cơ sở và cộng tác viên
khuyến nông của các thôn. Bên cạnh đó có sự phối hợp giữa các cơ quan trong và
ngoài ngành. Chính sách khuyến nông được thực hiện dựa trên phương pháp có sự
tham gia của người dân. Người dân là đối tượng hưởng thụ chính của việc thực hiện
chính sách khuyến nông. Việc phát huy sự tham gia của người dân trong thực hiện
chính sách là rất quan trọng. Nội dung của Chính sách khi được triển khai phải phù
hợp với nhu cầu của người dân. Có như vậy thì việc thực hiện chính sách mới nâng
cao khả năng tiếp cận các dịch vụ khuyến nông và hiệu quả của các hoạt động
khuyến nông, đồng thời tăng vai trò của người dân trong thực hiện chính sách sẽ
phát huy được nguồn lực của cộng đồng và nên làm cho cộng đồng phát triển bền
vững.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Chính sách của Nhà nước về khuyến nông
Ngày 02/3/1993 chính phủ ban hành Nghị định 13/CP về công tác khuyến