Thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ huyện đảo Bạch Long Vỹ - Hải Phòng - Pdf 26

MỞ ĐẦU
1-TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI.
Đất nước ta sau 20 năm đổi mới đã thu được những thành tựu về kinh tế,
chính trị, xã hội. Nền kinh tế đã vượt qua thời kỳ suy giảm, đạt tới tốc độ tăng
trưởng khá cao, năm sau cao hơn năm trước bình quân trong 5 năm 2001 -
2005 là 7.5%/năm và phát triển tương đối toàn diện. Văn hoá và xã hội có
nhiều tiến bộ trên nhiều mặt, việc gắn phát triển kinh tế với các vấn đề xã hội
có chuyển biến tốt, nhất là trong công cuộc xoá đói, giảm nghèo, tỷ lệ hộ
nghèo giảm đáng kể từ 10% năm 2000 xuống còn 7% năm 2005, đời sống các
tầng líp nhân dân được cải thiện, tuổi thọ bình quân và dân trí được nâng cao.
Chính trị xã hội ổn định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng
được củng cố và nâng cao nhờ đường lối cải cách đúng đắn của Đảng và nhà
nước. Tuy nhiên Việt Nam vẫn còn là một trong những nước nghèo, GDP
bình quân đầu người còn thấp dưới mức nghèo khổ theo tiêu chuẩn quốc tế.
Trình độ phát triển của ta còn thấp hơn nhiều so với các nước trung bình trong
khu vực và trên thế giới. Nền kinh tế đang đứng trước những thách thức trong
tiến trình hội nhập và phát triển, các dịch vụ xã hội cơ bản chưa đáp ứng được
nhu cầu của nhân dân như: thiếu trường học phục vụ cho học sinh, nhiều nơi
còn học ca 3; trang thiết bị y tế thiếu, lạc hậu không đáp ứng được nhu cầu
chữa bệnh, trình độ của nhân viên y tế cần được đào tạo và nâng cao; các hoạt
động văn hoá tinh thần cho nhân dân ở vùng sâu, vùng xa còn thiếu; phóc lợi
xã hội chưa giúp đỡ được nhiều cho các đối tượng trẻ mồ côi, trẻ lang thang,
người già cô đơn; quy mô dân số còn tiếp tục gia tăng, chất lượng dân số chưa
cao, phân bè dân sè chưa hợp lý vẫn đang là vấn đề lớn đối với sự phát triển
bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc
tế, vai trò của nguồn nhân lực trở nên quan trọng hơn bao giê hết. Nguồn nhân
lực là một trong những nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước. Không
có sự đầu tư nào mang lại nguồn lợi lớn nh đầu tư phát triển nguồn nhân lực.
Hướng tới mục tiêu nói trên, với mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội
của nước ta từ 2001 - 2010 mà Nghị quyết đại hội IX đã đề ra là: Đưa đất

lược Dân số- Kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản là một bộ
phận tối quan trọng. Nó có vai trò quyết định tới sự thành công hay thất bại
của chiến lược quốc gia này. Tuy nhiên, ở mỗi địa phương, ở mỗi vùng và ở
mỗi dân téc khác nhau, công tác dân số- kế hoạch hóa gia đình cũng khác
nhau, vì thế kết quả thu được ở mỗi vùng, mỗi téc người cũng rất khác nhau.
Nhìn chung, ở các vùng đô thị, các tỉnh đồng bằng chăm sóc sức khỏe sinh
sản, dân số- kế hoạch hóa gia đình đạt kết quả cao hơn nhiều so với vùng núi,
hải đảo, vùng sâu vùng xa.
Ở miền núi và hải đảo, do điều kiện tự nhiên và xã hội có nhiều khó khăn
như giao thông đi lại khó khăn, các dịch vụ sức khỏe và thuốc men, trang thiết
bị y tế còn thiếu, do trình độ dân trí thấp (đặc biệt là phụ nữ) đã hạn chế
những cơ hội chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ em. Đặc biệt, là vấn đề
chăm sóc sức khoẻ sinh sản đối với phụ nữ ở vùng sâu vùng xa, thực trạng
mức sinh cao và phong tục tập quán lạc hậu là những nguyên nhân gây lên
tình trạng tử vong của sản phụ và trẻ sơ sinh hoặc là ảnh hưởng lớn đến sức
khoẻ của bà mẹ và trẻ em sau này. Bên cạnh đó ở khu vực này hệ thống chăm
sóc chăm sóc y tế và dịch vụ cung cấp các biện pháp tránh thai tại đây còn có
một khoảng cách khá xa so với tình hình chung của cả nước. Mục tiêu giảm
quy mô dân số của chương trình dân số thực hiện tại nơi này còn gặp nhiều
khó khăn, do vậy, những vấn đề liên quan đến nâng cao chất lượng dịch vụ
chăm sóc sức khoẻ sinh sản đang là vấn đề đòi hỏi phải giải quyết lâu dài.
Nhận thức được tầm quan trọng còng nh ý nghĩa của vấn đề xã hội trên,
tôi chọn đề tài "Thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ huyện
đảo Bạch Long Vỹ - Hải Phòng ” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
Với mong muốn tìm hiểu thực trạng sức khỏe sinh sản của phụ nữ huyện đảo
và các yếu tố tác động đến đời sống sức khỏe sinh sản ra sao, để đóng góp
một phần nhỏ bé của mình vào việc nghiên cứu , từ đó đưa ra các giải pháp đề
xuất và kiến nghị với chính quyền địa phương nhằm tháo gỡ, cải thiện và
nâng cao đời sống sức khỏe nhân dân địa phương nói chung và chăm sóc sức
khỏe sinh sản cho phụ nữ huyện đảo nói riêng.

của họ có liên quan như thế nào tới sức khỏe sinh sản của họ.
-> Tìm hiểu các yếu tố tác động đến việc chăm sóc sức khỏe sinh sản
của phụ nữ huyện đảo, nguyện vọng của phụ nữ huyện đảo với công tác chăm
sóc sức khỏe sinh sản ở địa phương, nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức
khỏe sinh sản.
-> Đưa ra một số giải pháp, khuyến nghị phù hợp giúp nâng cao nhận
thức, làm thay đổi hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản theo hướng tích cực,
tăng cường nâng cao chất lượng dịch vụ Ytế cũng như nâng cao chất lượng
dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ huyện đảo.
4- ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU.
4.1. Đối tượng nghiên cứu.
Thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ.
4.2. Khách thể nghiên cứu.
Phô nữ trong độ tuổi sinh đẻ đã kết hôn và chưa kết hôn.
4.3. Phạm vi nghiên cứu.
Về không gian: Huyện đảo Bạch Long Vĩ – Hải Phòng.
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01/ 2008 đến tháng 05/2008.
Giới hạn các vấn đề nghiên cứu về sức khỏe sinh sản và chăm sóc sức
khỏe sinh sản; do hạn chế về thời gian và nhận thức cho nên trong khuôn khổ
khóa luận tốt nghiệp chỉ đề cập nghiên cứu tới một số khía cạnh cơ bản nhất
của chăm sóc sức khỏe sinh sản như: nhận thức về sức khỏe sinh sản và chăm
sóc sức khỏe sinh sản; nhận thức và sử dụng các biện pháp tránh thai; tình
hình chăm sóc thai nghén và sinh đẻ; tình hình trẻ em chết chu sinh; tình hình
nạo phá thai và nhiễm khuẩn đường sinh sản.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
5.1 Phương pháp luận.
* Chủ nghĩa duy vật biện chứng:
Theo phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng yêu cầu phải
nhìn các sự vật hiện tượng trong mối quan hệ biện chứng. Nghĩa là phải nhìn
mọi sự vật, hiện tượng không tồn tại riêng biệt tách rời mà luôn luôn trong

kết năm của Huyện ủy, Uỷ ban Nhân dân huyện Bạch Long vĩ phản ánh tình
hình kinh tế- xã hội của huyện đảo. Ngoài ra, còn sử dụng một số tài liệu của
Trung tâm Ytế huyện; số liệu thống kê của Hội liên hiệp phụ nữ huyện trong
03 năm trở lại đây và sử dụng một số tài liệu liên quan tới sức khỏe sinh sản
của phụ nữ như Tạp chí xã hội học, Tạp chí dân số và phát triển, tài liệu
chuyên ngành dân số, Ytế… Các thông tin trong các tài liệu này được xử lý,
phân tích và nêu ra nhằm giải quyết các vấn đề trong giả thuyết nghiên cứu.
5.2.2. Phương pháp quan sát.
Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu địa bàn thông qua tri giác
trực tiếp về huyện đảo Bạch Long Vĩ, về người phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ
để có những thông tin độ chính xác cao, bản thân quan sát ghi nhận đầy đủ
qua quan sát thấy được. Những thông tin này được bổ sung làm cho thông tin
thu được qua các tài liệu đầy đủ hơn.
5.2.3. Phương pháp tiếp cận phỏng vấn sâu cá nhân.
Cuộc nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp phỏng vấn sâu.
Những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu được soạn thảo chi tiết thành
một đề cương để người phỏng vấn sử dụng trong quá trình tiến hành các cuộc
phỏng vấn. Đây là những phỏng vấn để xem xét nghiên cứu một cách sâu sắc
có căn cứ và cũng là để hiểu sâu bản chất nguồn gốc của vấn đề đang nghiên
cứu. Phương pháp này phục vụ cho việc khai thác sâu các thông tin định tính
như nhận thức và hành vi của phụ nữ về chăm sóc sức khỏe sinh sản, đánh giá
của họ về những người xung quanh cũng như thái độ của chị em phụ nữ khi
nói đến chuyện chăm sóc sức khỏe sinh sản.
Phỏng vấn sâu ở đây đã được tiến hành tới 30 người, gồm: một sè cán bộ
chủ chốt thuộc các ngành văn hoá, Ytế, giáo dục và xã hội, người đứng đầu
các đoàn thể xã hội, chị em phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ trên địa bàn huyện.
Phỏng vấn sâu ở đây còn có ý nghĩa minh hoạ và khẳng định kết quả nghiên
cứu bởi những thông tin qua phân tích tài liệu, qua quan sát địa bàn huyện đảo
trong những năm gần đây.
6- GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ KHUNG LÝ THUYẾT.

thai
Nhận thức về sức khỏe
sinh sản và chăm sóc
sức khỏe sinh sản
Tình hình chăm sóc
thai nghén và sinh đẻ
Tình hình nạo phá thai
Tình hình trẻ em chết
chu sinh

Tình hình nhiễm khuẩn
đờng sinh sản
Ở Việt Nam, ngay từ những năm 1960, nhận thức sâu sắc về tầm quan
trọng của vấn đề dân số trong sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội. ChÝnh phủ
Việt Nam đã luôn dành sự quan tâm thích đáng cho công tác Dân số- Kế
hoạch hóa gia đình. Đặc biệt từ khi có Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV của
Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, trên cơ sở đặt “ Công tác Dân sè -
kế hoạch hóa gia đình là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất
nước”, vấn đề này được coi như một trong những vấn đề kinh tế-xã hội hàng
đầu, một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người,
từng gia đình và toàn xã hội. Công tác Dân sè - kế hoạch hóa gia đình đã huy
động được sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân và tranh thủ được sự
giúp đỡ ngày càng tăng và có hiệu quả của cộng đồng quốc tế. Bằng những
giải pháp hữu hiệu, các hoạt động tuyên truyền, giáo dục được mở rộng và
từng bước nâng cao chất lượng các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, chú trọng
đến các vùng sâu, vùng xa, vùng nghèo, do đó nhận thức của các tầng líp
nhân dân về kế hoạch hóa gia đình, sức khỏe sinh sản ngày càng được nâng
cao, tỷ lệ giảm sinh rất nhanh. Tuy nhiên, những mục tiêu của chương trình
Dân số- kế hoạch hóa gia đình mới chỉ chú trọng về số lượng như giảm tỷ lệ
sinh, tăng tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai ( chỉ tập trung vào phụ nữ và

của nam giới trong việc chia sẻ với phụ nữ thực hiện kế hoạch hóa gia đình
và chăm sóc sức khỏe sinh sản.
- Dù phòng tích cực và chủ động trong mọi khâu của chăm sóc sức khỏe
sinh sản.
- Kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền dân téc trong chăm sóc sức
khỏe sinh sản.
- Chăm sóc sức khỏe sinh sản là sự nghiệp chung của toàn xã hội, là
trách nhiệm của mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng, của các cấp ủy
Đảng, chính quyền cũng như của các ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội và
nghề nghiệp.
Với mục tiêu chung là:
Bảo đảm đến năm 2010 tình trạng sức khỏe sinh sản được cải thiện rõ
rệt và giảm được sự chênh lệch giữa các vùng và các đối tượng bằng cách
đáp ứng tốt hơn những nhu cầu đa dạng về chăm sóc sức khỏe sinh sản ứng
với các giai đoạn của cuộc sống và phù hợp với điều kiện của các cộng đồng
ở các địa phương, đặc biệt chú ý đến các vùng và đối tượng có khó khăn.
Nghiên cứu về sức khỏe sinh sản và chăm sóc sức khỏe sinh sản từ trước
tới nay luôn được mọi người quan tâm và coi đó là một việc làm cần thiết.
Bởi lẽ, sức khỏe của nhân dân nói chung, người phụ nữ nói riêng là hết sức
quan trọng, nó ảnh hưởng tới mọi yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội của đất
nước.
Sức khỏe là vốn quý nhất của con người, con người lại liên quan chặt
chẽ với môi trường. Một môi trường lành mạnh, trong sạch là rất cần thiết cho
sức khỏe và hạnh phóc của con người. Phụ nữ có vai trò quan trọng trong mối
quan hệ với môi trường và sự phát triển. Phụ nữ không chỉ là người sản xuất
ra của cải vật chất của xã hội mà còn là người duy trì cuộc sống của gia đình
và xã hội, đồng thời họ còn là những người phải chịu hậu quả của sự suy thoái
môi trường và do đó, họ là những thành viên không thể thiếu trong việc quản
lý môi trường. Phụ nữ có vai trò là tác nhân quan trọng để đạt được sự phát
triển bền vững, nhất là trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại

Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì sức khỏe bao gồm sự
lành mạnh cả về thể xác lẫn tinh thần. Người định nghĩa “ ngày nào cũng tập
thể dục thì khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ, nh vậy là sức khỏe”.
Từ khi tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã nhấn mạnh đến khái niệm sức
khỏe và đã đưa ra một định nghĩa về sức khỏe là “ một trạng thái thoải mái,
đầy đủ về thể chất, tâm thần và xã hội, sức khỏe không bó hẹp vào nghĩa
không có bệnh hay thương tật”.
Khái niệm này được xây dựng trên quan điểm dự phòng, sức khỏe là yếu
tố cơ bản ảnh hưởng tới đời sống sinh hoạt, lao động, học tập của con người,
ảnh hưởng tới đời sống hoạt động sản xuất vật chất, tinh thần, sản xuất nòi
giống của xã hội. Không có sức khỏe thì không thể lao động có năng xuất cao,
ngược lại sức khỏe phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Nó là khái niệm tổng hợp, đòi
hỏi sự tham gia đóng góp của toàn xã hội và sự tham gia của bản thân mỗi cá
nhân, của mỗi cộng đồng nhất định. Mỗi cá nhân phải có kiến thức, hiểu biết
để hành động và ứng xử hợp lý, tạo ra sức khỏe cho bản thân và gia đình.
Tại Hội nghị AlmaAta năm 1978 của tổ chức ytế thế giới, Hội nghị đã
đưa ra định nghĩa về sức khỏe như sau: “ Sức khỏe là một tình trạng hoàn
toàn thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội biểu hiện không chỉ qua việc
không mắc bệnh hoặc không ốm yếu”.
* Khái niệm sức khỏe sinh sản:
Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển ICPD tại Cairo (Ai cập) năm
1994 đã đưa ra định nghĩa về sức khỏe sinh sản nh sau:
“ Sức khỏe sinh sản là một tình trạng hoàn chỉnh về thể chất, tinh thần
và phóc lợi xã hội mà không chỉ đơn thuần là không có bệnh hoặc tàn tật,
trong mọi vấn đề nó liên quan đến hệ thống sinh sản, những chức năng và
quá trình của nó. Vì vậy, sức khỏe sinh sản hàm ý là những người có một
cuộc sống tình dục thỏa mãn và an toàn và họ có khả năng sinh con cũng như
tự do quyết định khoảng cách giữa các đứa con. Hàm ý của điều kiện cuối
cùng là phụ nữ và nam giới phải được thông tin, được lùa chọn các phương
pháp kế hoạch hóa gia đình an toàn, hiệu quả và có thể chấp nhận được cũng

hưởng tới gia đình và cuộc sống tương lai.
2.2 Khái niệm về chăm sóc sức khỏe- chăm sóc sức khỏe sinh sản.
* Khái niệm chăm sóc sức khỏe:
Theo Hội nghị y tế thế giới AlmaAta thì chăm sóc sức khỏe là những
chăm sóc thiết yếu với kỹ thuật thích hợp được mang tới cho mỗi người trong
mọi gia đình, được cộng đồng chấp nhận và tham gia với những chi phí rẻ
nhất. Do đó, chăm sóc sức khỏe là sự thường xuyên quan tâm làm một việc
nào đó, chăm sóc sức khỏe chính là hoạt động thường xuyên, liên tục để đạt
đến một trạng thái hoàn hảo về sức khỏe, đó là sự sảng khoái về thể chất, tinh
thần và các quan hệ xã hội. Hoạt động này có thể là tự bản thân chăm sóc
hoặc là sự quan tâm, giúp đỡ của người khác.
Trong Hội nghị AlmaAta cũng đã nêu ra khái niệm về chăm sóc sức
khỏe ban đầu như sau: “ Chăm sóc sức khỏe ban đầu là những sự chăm sóc
thiết yếu xây dựng trên những phương pháp và kỹ thuật thực hành, có cơ sở
khoa học và chấp nhận được về mặt xã hội; có thể phổ biến rộng rãi cho tất cả
các cá nhân và gia đình của cộng đồng xã hội cùng tham gia đầy đủ: với một
giá mà cộng đồng nước đó có thể chịu đựng được ở một giai đoạn phát triển
của họ và theo tinh thần tự giác, tự nguyện”.
* Khái niệm chăm sóc sức khỏe sinh sản:
Chăm sóc sức khỏe sinh sản là một tổng thể các biện pháp, kỹ thuật và
dịch vụ góp phần nâng cao sức khỏe và hạnh phóc bằng cách phòng ngõa và
giải quyết những vấn đề về sức khỏe sinh sản. nó bao gồm : sức khỏe tình dục
với mục đích đề cao cuộc sống và các mối quan hệ riêng tư, tư vấn, chăm sóc
liên quan đến vấn đề sinh sản và các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
Những vấn đề chung áp dụng chuẩn quốc gia về dịch vụ chăm sóc sức
khỏe sinh sản của Bộ Ytế:
- Đảm bảo sự chấp nhận của hai bên cung và cầu các tiêu chuẩn quốc gia
về chăm sóc sức khỏe sinh sản.
- Thực hiện tốt mối quan hệ giữa người cung cấp dịch vụ và cộng đồng ở
các tuyến (Xã, Huyện, Tỉnh, Trung ương).

gm: T vn v sc khe sinh sn, v tỡnh dc, cỏc bin phỏp trỏnh thai, thm
khỏm, chm súc sc khe v thnh niờn mang thai, sinh , phỏ thai an ton
v x lý tt cỏc bnh nhim khun ng sinh sn v lõy truyn qua ng
tỡnh dc.
Phỏ thai an ton:
m bo chun quc gia v dch v phỏ thai an ton bao gm: T vn v
vic s dng cỏc phng phỏp k thut v vic phỏ thai an ton. Cỏc chun
quc gia v kin thc, k nng, trỡnh chuyờn mụn ca ngi t vn v cỏn
b y t, iu kin thuc men, trang thit b k thut, c s y t, phũng khỏm
thai v s phõn tuyn phc v theo cỏc loi i tng khỏc nhau.
3.Một số lý thuyt xó hi hc vn dng vo ti.
*Lý thuyt hnh ng xó hi ca Max Weber:
Theo MaxWeber: Hnh ng xó hi l hnh ng c ch th gn cho
nú mt ý ngha ch quan no ú, l hnh ng cú tớnh n hnh vi ca ngi
khỏc v khi nú tng quan, nh hng vo hnh ng ca ngi khỏc theo ý
ó c nhn thc bi ch th hnh ng trong ng li, trong quỏ trỡnh ca
nú.
Cú th thy hnh ng xó hi luụn gn vi tớnh tớch cc ca cỏc cỏ nhõn.
Tớnh tớch cc ny li b quy nh bi hng lot cỏc yu t nh: nhu cu, li
ích, nh hng giỏ tr ca ch th. Hnh ng xó hi cũn chu s tỏc ng
ca iu kin hon cnh bờn ngoi, nú cú th c mụ hỡnh húa nh sau:
Max Weber ó phõn bit 4 loi hnh ng xó hi nh sau:
Hoàn cảnh
Chủ thểNhu
cầu
Động

Công cụ ph-
ơng tiện
Mục

tính giới mà chúng ta học được những đặc tính giới từ gia đình, xã hội và nền
văn hóa của chúng ta.
Quan điểm chính của thuyết nữ quyền cấp tiến là: hệ thống nam trị là căn
nguyên của áp bức phụ nữ. Đây là hệ thống riêng biệt với các chính quyền kể
cả chính quyền tư sản. Phụ nữ là một giai cấp khác với nam giới và chính hệ
thống nam trị đã tồn tại từ thời chiếm hữu nô lệ tới nay mặc dù cơ chế chính
trị có đổi thay. Vì vậy, phân tích theo kiểu của các nhà nữ quyền tự do và nữ
quyền mácxít đều chưa đầy đủ. Theo họ, đây là một hệ thống quyền lực, tôn ti
thứ bậc và cạnh tranh. Cần phải xóa bỏ nó mà không thể cải cách vì xét về
bản chất nó đã bắt rễ rất sâu vào xã hội. Đặc biệt quyền lực của nó không chỉ
trong các cơ cấu pháp lý và chính trị mà còn trong cả các thiết chế xã hội, văn
hóa (văn hóa phụ quyền trong gia đình, nhà thờ và viện hàn lâm). Vì vậy, nếu
chỉ thủ tiêu xã hội có giai cấp thì vẫn không thủ tiêu được chủ nghĩa nam trị.
Họ cho rằng phụ nữ là nhóm bị áp bức đầu tiên và rất sâu sắc nhưng cả
nạn nhân lẫn người gây ra đều khó nhận ra vì nó tồn tại không chỉ trong xã
hội mà còn trong gia đình, nơi có những quan hệ đặc biệt và thân thiết. Quan
điểm của thuyết này là xoay quanh vai trò giới của phụ nữ, đặc biệt là vai trò
tái sản xuất và tính dục. Các nhà nữ quyền cấp tiến nghi ngờ cái khái niệm
“trật tù tự nhiên” về sinh học giữa nam và nữ khi một số quan điểm cho rằng:
do sinh học nên phụ nữ có trách nhiệm sinh sản, phụ nữ phải có những tính
cách chịu đựng và giữ gìn nữ tính của họ. Nữ quyền cấp tiến đã phản đối quan
điểm: sinh ra là phận gái và phụ nữ không phải chịu mọi sự bất công vì sự
khác biệt giới tính bởi lẽ họ không hề được chọn giới tính của mình. Phụ nữ
cần vượt qua những hậu quả tiêu cực của sinh học đối với họ.
Sự áp bức của nam giới còn tập trung ở chỗ họ kiểm soát thân thể, vai trò
tình dục, sinh đẻ và nuôi dưỡng con cái của phụ nữ để phục vụ những nhu
cầu, mong muốn và lợi Ých của mình (như vấn đề tránh thai, triệt sản, nạo
thai). Trong khi đó, nam giới đánh giá thấp những phẩm chất nữ và chính điều
này đã sản sinh ra sự áp bức phụ nữ.
Các nhà cấp tiến đã tập trung vào các quan hệ tái sản xuất, chứ không

định, quốc phòng an ninh vững mạnh, bộ máy Đảng, chính quyền, mặt trận tổ
quốc hoạt động có hiệu quả tạo môi trường điều kiện thuận lợi thu hót ngư
dân hội tụ đến khai thác vùng biển đảo giàu tiềm năng, tạo đà đưa huyện đảo
phát triển bền vững, “ Sớm trở thành Trung tâm chế biến dịch vụ hậu cần
nghề cá cho các tỉnh ven biển Bắc bộ” trước năm 2020.
* Về bộ máy hành chính:
Đảng bộ huyện có 120 đảng viên, có 11 chi bộ và 01 đảng bộ trực thuộc.
Cán bộ, đảng viên được rèn luyện trong thử thách khó khăn, đoàn kết, vững
vàng kiên định hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Đảng bộ huyện luôn được đánh
giá là Đảng bộ trong sạch vững mạnh, hoàn thành suất sắc nhiệm vụ.
Bộ máy hành chính huyện không phân cấp thành các xã, có 04 khu dân
cư và các đơn vị trực thuộc huyện; bộ máy hành chính gọn nhẹ, cán bộ kiêm
nhiệm nhiều chức năng. Bao gồm: Khối các phòng ban chuyên môn gồm 07
phòng ban; khối nội chính gồm có Công an, Tòa án, Viện kiểm sát và Đội thi
hành án; các đơn vị chuyên ngành nh Bưu điện, Hải văn, Hải đăng, Đội thuế,
Bảo hiểm xã hội.
* Về cơ sở hạ tầng:
Được sù quan tâm của chính phủ, Thành phố 15 năm qua, quân và dân
huyện đảo đã tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng với tổng vốn đầu tư khoảng
trên 400 tỷ đồng. Đến nay, hệ thống đường giao thông nội đảo đã được xây
dựng với gần 20 km đường trải nhựa, đường bê tông quanh đảo. Trụ sở, nhà
làm việc của các cơ quan đơn vị và nhà ở cho dân ở các khu dân cư. Trạm
điện gió Diezen công suất 800 KVA cung cấp điện cho sinh hoạt. Cảng và
khu neo đậu tàu hoạt động với khả năng cho trên 300 tàu đánh cá vào tránh
gió và tàu trọng tải 400 tấn ra vào bốc dỡ hàng hóa. Khu dịch vụ hậu cần nghề
cá với hệ thống cửa hàng bách hóa, kho hàng, xưởng sản xuất nước ngọt,
nước đá, cơ sở sửa chữa tàu thuyền, kho xăng dầu. Các công trình: Trạm đèn
hải đăng; Bưu điện; Trạm chuyển phát sóng truyền hình; Trung tâm y tế;
Trường tiểu học đang phát huy tác dụng phục vụ và nâng cao đời sống của
quân và dân trên đảo, ngư dân hoạt động đánh bắt hải sản quanh đảo.

thời nên công tác giáo dục ở đảo phát sinh nhiều khó khăn mới.
Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, công tác dân số gia đình
và trẻ em:
Trung tâm y tế huyện đảm bảo công tác y tế dự phòng và khám chữa
bệnh cho nhân dân, phối hợp tốt với các ngành thực hiện công tác tuyên
truyền về chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Đảm bảo 100% trẻ em trong độ
tuổi được tiêm phòng 6 bệnh truyền nhiễm và uống vitamin A. Thực hiện chế
độ giám sát, phát hiện và tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh. Tuy
nhiên, nhà nước đã quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng cho y tế nhưng chưa có
chính sách thu hót bác sỹ ra đảo công tác. vì vậy, do Y, Bác sĩ còn hạn chế về
số lượng và trình độ nên công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân không
được cải thiện.
Công tác dân số gia đình và trẻ em: Năm 2004 có quyết định thành lập
được quan tâm đi vào hoạt động, tháng 7 năm 2007 đã tiếp nhận nhà truyền
thông tư vấn và quản lý dữ liệu dân cư, bước đầu đi vào hoạt động nên có
nhiều khó khăn và bất cập.
Đơn vị tính: Người.
Tổng Nam (3344) Nữ (516)
1->14
tuổi
Người
lớn
1->14
tuổi
Trong độ tuổi
sinh đẻ
45->54
tuổi
3860 168 3176 184 325 07
(Nguồn: Uỷ ban dân số gia đình và trẻ em huyện)

án sử dụng diện tích lớn có tác động và ảnh hưởng tới môi trường.

Trích đoạn Trỡnh độ học vấn. Chất lượng dịchvụ Ytế. Phong tục tập quỏn. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1 Kết luận. Giải phỏp và Kiến nghị.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status