thực trạng chăm sóc sức khỏe tinh thần của học sinh trường thpt thuận thành số 1- bắc ninh và đề xuất một số biện pháp hỗ trợ của công tác xã hội. - Pdf 24

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài: “Thực trạng chăm sóc sức khỏe tinh thần của học sinh
trường THPT Thuận Thành Số 1- Bắc Ninh và đề xuất một số biện
pháp hỗ trợ của công tác xã hội.”
1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Nội dung
1 SKTT Sức khỏe tinh thần
2 CSSKTT Chăm sóc sức khỏe tinh thần
3 CTXH Công tác xã hội
4 NVCTXH Nhân viên công tác xã hội
5 SKTTTE Sức khỏe tinh thần trẻ em
6 THPT Trung học phổ thông
7 TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh
8 Đoàn TNCSHCM Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Những biểu hiện tổn thương về sức khỏe thể chất của học sinh.
Bảng 2.2.Biểu hiệntổn thương về sức khỏe tinh thần của các em học sinh.
Bảng 2.3. Nguyên nhân gây ảnh hưởng đến chăm sóc sức khỏe tinh thần cho
học sinh THPT Thuận Thành Số 1.
Bảng 2.4. Nguyên nhân từ việc học tập.
Bảng 2.5. Nguyên nhân từ gia đình.
Bảng 2.6. Nghề nghiệp của bố mẹ.
2
Bảng 2.7. Nguyên nhân liên quan đến các mối quan hệ xã hội.
Bảng 2.8. Nguyên nhân từ bản thân học sinh.
Bảng 2.9.Hậu quả của những vấn đề liên quan đến chăm sóc sức khỏe tinh
thần.
Bảng 2.10.Những mong muốn của các em học sinh.
Bảng 2.11. Những cách làm giảm căng thẳng, lo âu ở các em học sinh.
DANH MỤC BIỂU ĐỒ

những ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình phát triển tâm sinh lý, nhân cách
của các em.
Thực trạng sức khỏe tinh thần trẻ em, đặc biệt là thực trạng sức khỏe tinh
thần của học sinh lứa tuổi phổ thông đang làvấn đề đang lo ngại hiện nay, bởi lứa
tuổi học sinh THPT là lứa tuổi có những đặc điểm tâm sinh lý đặc biệt.Chính vì
vậy, để giúp cho các em có một sức khỏe tinh thần tốt, nguồn lực để các em
sống khỏe mạnh, nền tảng cho chất lượng cuộc sống, chúng ta cần quan tâm đến
vấn đề chăm sóc sức khỏe tinh thần của các em học sinh.
4
Và công tác xã hội học đường đang là một đòi hỏi cấp thiết trong xã hội
hiện nay. Vai trò của nhân viên CTXH rất quan trọng và cần thiết, họ là những
người giúp các em giải gỡ, chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống đồng thời
cũng là cầu nối giữa các em với nhà trường, gia đình.
Từ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn trên, tôi chọn đề tài: “Thực trạng
chăm sóc sức khỏe tinh thần của học sinh trường THPT Thuận Thành Số 1
và đề xuất một số biện pháp hỗ trợ cuả công tác xã hội”.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trước đây có rất nhiều những đề tài, công trình nghiên cứu, những luận
văn và luận án về đề tài sức khỏe tâm thần trẻ em, những vấn đề nghiên cứu rất
đa dạng như: Những rối loạn tâm lý, tình trạng nghiện game ảnh hưởng đến sức
khỏe tâm thần, các yếu tố hành vi và những nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe
tâm thần và cuộc sống của các em.
Một số những công trình nghiên cứu ở Việt Nam và tác giả về vấn đề
sức khỏe tinh thần trẻ em:
Nghiên cứu của tác giả Hoàng Cẩm Tú và cộng sự trên hơn 1500 trẻ tại
hai phường Kim Liên và Trung Tự (2000) cho thấy có tới 1,9%-3% các em có
biểu hiện lo âu, trầm cảm.
Trong đề tài nghiên cứu “Xây dựng mô hình chăm sóc sức khỏe tinh thần
cho học sinh trung học phổ thông Đồng Nai” do BS Nguyễn Văn Thọ và cộng
sự thực hiện (1998- 2000) cho thấy 10- 21% có vấn đề sức khỏe tâm thần.[7;296]

đối với việc chăm sóc sức khỏe tinh thần trong học đường, từ đó đề xuất những
biện pháp nhằm nâng cao sức khỏe tinh thần của học sinh trường THPT Thuận
Thành Số 1.
6
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu.
+ Nghiên cứu những biểu hiện tổn thương về sức khỏe tinh thần của các
em học sinh.
+ Tìm hiểu nguyên nhân, hậu quả, những mong muốn, biện pháp làm giảm
những vấn đề sức khỏe tinh thần của các em học sinh trường THPT Thuận
Thành Số 1, thực trạng chăm sóc sức khỏe tinh thần cho các em tại trường.
+ Đề xuất một số biện pháp hỗ trợ của công tác xã hội đối với việc chăm
sóc sức khỏe tinh thần của các em học sinh.
5. Giả thuyết nghiên cứu.
Thực trạng vấn đề chăm sóc sức khỏe tinh thần của học sinh trường THPT
Thuận Thành Số 1 còn nhiều hạn chế từ phía nhà trường, gia đình và bản thân
các em học sinh. Phần lớn học sinh tại trường Thuận Thành Số 1 có nhiều những
biểu hiện về vấn đề sức khỏe tinh thần.
Nếu gia đình và nhà trường có nhận thức đúng đắn về vấn đề chăm sóc
sức khỏe tinh thần của các em học sinh, tìm hiểu được nguyên nhân, hậu quả,
biện pháp, cùng với những mong muốn của các em thì chúng ta sẽ có những biện
pháp để can thiệp, hỗ trợ và phòng ngừa kịp thời giúp các em có một sức khỏe
tinh thần tốt để học tập có hiệu quả hơn.
6. Phương pháp nghiên cứu của đề tài.
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận.
- Tôi tiến hành đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu có liên quan đến vấn đề
chăm sóc sức khỏe tinh thần của học sinh THPT.
- Hệ thống hóa lý luận của vấn đề nghiên cứu và xây dựng cơ sở lý luận cho
việc nghiên cứu thực tiễn.
- Xây dựng hệ thống khái niệm công cụ, phương pháp nghiên cứu nhằm tiến

tìm hiểu về vấn đề chăm sóc SKTT của học sinh trong trường.
6.2.4 Phương pháp phân tích và thống kê toán học.
7. Đóng góp khoa học của đề tài.
Về mặt lý luận:
Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về chăm sóc sức khỏe tinh thần của
học sinh THPT.
Nghiên cứu thực trạng về sức khỏe tinh thần của học sinh trường THPT
Thuận Thành Số 1 dựa trên những lý luận về sức khỏe tinh thần trẻ em, tiếp thu
và phát huy cũng như triển khai vào thực tiễn.
Về mặt thực tiễn:
Cung cấp thực trạng vấn đề chăm sóc sức khỏe tinh thần của học sinh
THPT Thuận Thành Số 1- Bắc Ninh. Đánh giá hiệu quả, từ đó đề xuất biện pháp
hỗ trợ và đưa ra kiến nghị nhằm nâng cao việc chăm sóc sức khỏe tinh thần của
học sinh.
Những nghiên cứu về thực trạng sẽ góp phần xây dựng những kế hoạch
và giải pháp nhằm nâng cao sức khỏe tinh thần cho trẻ em tại địa phương nói
riêng và trẻ em Việt Nam nói chung. Ngoài ra, những đóng góp của đề tài sẽ là
nguồn tư liệu hữu ích cho những nghiên cứu sau này tại địa phương.
8. Kết cấu của đề tài.
Đề tài gồm 3 phần:
Phần mở đầu
Phần nội dung: Gồm 3 chương
+ Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
+ Chương 2: Thực trạng chăm sóc sức khỏe tinh thần của học sinh trường THPT
Thuận Thành số 1 – Bắc Ninh.
9
+ Chương 3: Đề xuất một số biện pháp hỗ trợ của công tác xã hội đối với vấn đề
chăm sóc sức khỏe tinh thần của học sinh trường THPT Thuận Thành số 1 – Bắc
Ninh.
Phần kết luận và Khuyến nghị

lý – cơ thể” trong tiếng Anh thường được viết là “Mind – body”. [24;37]. Người
ta thường nói, thân thể ở trong tâm trí hoặc một tâm hồn đẹp trong một thân thể
khỏe mạnh hoặc sự thống nhất giữa tinh thần và thể chất Chữ “Tinh thần” có
thể hiểu là tâm lý, tâm trạng, tâm thế, xúc cảm – tình cảm. Như vậy hiểu khái
niệm sức khỏe tinh thần một cách đơn giản đó là tâm trạng thoải mái, thanh thản,
vui vẻ “ăn ngon, ngủ yên”
Sức khỏe tinh thần là: “Tình trạng khỏe mạnh về nhận thức và xúc cảm,
không bệnh tật gì về tâm lý, biểu hiện khả năng của con người ham sống giữ
11
được sự cân bằng giữa các hoạt động và các cố gắng hồi phục”. GS.VS Phạm
Minh Hạch cho rằng, chúng ta nên sử dụng thuật ngữ “sức khỏe tinh thần” để
tương đương với thuật ngữ “Mental health” của thế giới. [25]
Sức mạnh của con người tập trung ở sức mạnh tinh thần, từ đó khi nói đến
sức khỏe con người trước hết phải kể đến sức khỏe tinh thần – sức khỏe trí tuệ,
đức độ tài năng và sáng tạo
Con người có sức khỏe tinh thần có nghĩa là: Sức khỏe ấy có thể tạo ra những
giá trị nhất định – linh hoạt để vượt qua những thách thức, thể hiện khác nhau
trong các hoàn cảnh khác nhau. Theo tác giả người Mỹ( Myers, Sweeny,
Witmer) sức khỏe tinh thần của con người thể hiện trong lĩnh vực tâm linh, làm
việc, nghỉ ngơi hoặc quan hệ bạn bè, yêu đương và định hướng cá nhân , thể hiện
trong các công việc như: Coi trọng giá trị, khả năng kiểm soát, kiểm tra, niềm
tin, xúc cảm; khả năng đương đầu trước những khó khăn, giải quyết vấn đề, tính
khôi hài, sự sáng tạo, ăn uống, luyện tập, khả năng điều khiển tình trạng căng
thẳng (stress), bản sắc giới, bản sắc văn hóa để có những kỹ năng giải quyết các
tình huống xảy ra trong xã hội, giữ một tinh thần khỏe mạnh.
Để có những biện pháp chăm sóc sức khỏe tinh thần tốt, giữ được một tinh
thần khỏe mạnh, lối sống lành mạnh chúng ta cần phải nghiên cứu ngược lại vấn
đề đó là tình trạng sức khỏe tinh thần không tốt, không khỏe mạnh trong đó có
các bệnh tâm thần.
Theo Tổ chức WHO (2002), sức khỏe tinh thần con người có thể ở một

hợp về các mối quan hệ gia đình xã hội, có cảm xúc tình cảm và hành vi ứng xử
phù hợp với nhu cầu của xã hội.
- Sức khỏe xã hội là trạng thái thể hiện khả năng hòa nhập của một cá thể
vào môi trường xã hội (gia đình, nhà trường, xã hội) và khả năng tác động nhằm
13
cải biến môi trường đó. Không hòa nhập được hoặc khó hòa nhập thể hiện sức
khỏe xã hội yếu, nếu hòa nhập dễ dàng, phát huy được khả năng đóng góp tích
cực để phát triển xã hội thì sức khỏe xã hội tốt. Nếu trạng thái xã hội ổn định,
kinh tế, chính trị, văn hóa ít xung đột, biến động giảm stress thì tạo ra sự thoải
mái, thuận lợi cho sự phát triển tiềm năng của từng cá thể. Ngược lại nếu xã hội
nhiều biến động, stress thì sức khỏe tinh thần của con người bị tổn thương.[21]
- Sức khỏe tinh thần và sức khỏe xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau
nên nhiều rối loạn tâm lý xã hội như nghiện hút, rượu, thuốc lá, rối loạn hành vi,
sự chống đối của thanh thiếu niên, các rối loạn liên quan đến stress. Các rối loạn
tâm lý, xã hội có liên quan đến tình hình kinh tế - xã hội, ổn định chính trị và an
toàn xã hội. Vì vậy hiện nay, chính phủ nhiều nước trên thế giới quan tâm đặc
biệt đến sức khỏe tinh thần và có những chính sách quốc gia đặc biệt về vấn đề
sức khỏe tinh thần.
Theo TS. Nguyễn Thị Thanh Bình trường Đại Học Sư Phạm TP.HCM đã viết
trong bài tham luận( 2007): “Sức khỏe tinh thần là sự hòa hợp giữa trạng thái
khỏe mạnh về thể chất và tình cảm, là trạng thái tâm lý ổn định và vui vẻ của con
người”.
Theo Anderson,(1994): “Sức khỏe tinh thần là khả năng đương đầu và thích
ứng với những căng thẳng của cuộc sống theo một cách có thể chấp nhận được”.
Đánh giá về vấn đề chăm sóc sức khỏe tinh thần ở Việt Nam hiện nay, PGS.TS.
Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho biết: “Hiện nay, công tác chăm sóc sức khỏe tinh thần ở
nước ta chủ yếu do các bác sỹ tâm thần đảm nhiệm. Nhưng thực tế thì việc thâm
nhập của các bác sỹ vào các hệ thống trường học là vô cùng khó khăn và đội ngũ
cán bộ tâm thần cũng đang rất thiếu. Thực tế ở Việt Nam thì các bác sỹ chỉ can
thiệp khi đã có bệnh và chưa có biện pháp phòng ngừa.[4]

2000 có 10- 24 % tỷ lệ trẻ em bị tổn thương SKTT. Điều tra của Viện Nhi Quốc
Gia tại Hà Nội con số là 20- 30 %. Những con số này đặt ra cho chúng ta những
thách thức cần phải có những biện pháp bảo vệ và chăm sóc SKTT trẻ em hợp lý
và kịp thời.[3;67].[7;296]
1.1.3. Khái niệm chăm sóc sức khỏe tinh thần trẻ em.
Nói đến chăm sóc sức khỏe tinh thần trẻ em thì chưa có một định nghĩa
nào rõ ràng cụ thể và chi tiết cho vấn đề này.
Tuy nhiên theo quan điểm của cá nhân tôi cho rằng: Chăm sóc sức khỏe
tinh thần trẻ em có nghĩa là cung cấp những kỹ năng, những biện pháp chăm sóc
sức khỏe cho trẻ, giúp đỡ, can thiệp kịp thời, cũng như đẩy mạnh công tác phòng
ngừa để giúp cho trẻ có thể đương đầu với những rối loạn, lo âu, stresss trong
cuộc sống , học tập và các vấn đề của xã hội để các em có thể vượt qua những
thử thách, có một cuộc sống tinh thần lành mạnh và tích cực.
Để vấn đề chăm sóc sức khỏe tinh thần trẻ em đạt hiệu quả cao nhất cần
có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường, các tổ chức xã hội định
hướng, quan tâm đúng mức… tạo cho trẻ môi trường sống vui vẻ, lành mạnh để
có thể phát triển đầy đủ về mặt thể chất và tinh thần. Trẻ em là tương lai của đất
nước cần có những chăm sóc kịp thời về sức khỏe tinh thần cho trẻ hơn nữa.
Muốn hiểu về công tác chăm sóc sức khỏe tinh thần trẻ em chúng ta phải tìm
hiểu đặc điểm tâm sinh lý của các em.
1.1.4. Khái niệm Công tác xã hội
CTXH là hoạt động chuyên nghiệp được thực hiện dựa trên nền tảng khoa
học chuyên ngành nhằm hỗ trợ đối tượng có vấn đề xã hội (cá nhân, nhóm, cộng
đồng) giải quyết vấn đề gặp phải, cải thiện hoàn cảnh, vươn lên hòa nhập xã hội
theo hướng tích cực, bền vững. [11;tr.46].
16
Các phương pháp CTXH cơ bản:
+ CTXH với cá nhân: Là quá trình và là một phương pháp tác động đến cá
nhân có vấn đề xã hội (bị mất hoặc yếu về chức năng xã hội), giúp cá nhân tự
nhận ra vấn đề của bản thân, củng cố, khôi phục và phát huy năng lực của bản

năm 2000), nhưng tương đối thống nhất với tên gọi NVCTXH và gọi tắt là
NVXH (social worker).
NVXH là những người có trình độ chuyên môn, được trang bị kiến thức,
kỹ năng về CTXH chuyên nghiệp và sử dụng kiến thức, kỹ năng đó trong quá
trình tác nghiệp trợ giúp đối tượng (cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng) có vấn
đề xã hội giải quyết vấn đề gặp phải, vươn lên trong cuộc sống.[11;102]
1.1.6. Một số học thuyết nền tảng trong lĩnh vực sức khỏe tinh thần trẻ em.
- Thuyết phân tâm của S. Freud [10;45]
Sigmund Freud là cha đẻ của phân tâm cổ điển, nhấn mạnh nhiều đến các
ham muốn, tính dục quan tâm đến việc khám phá động lực, các khuynh hướng
cơ bản, nguồn động cơ khởi đầu của hành vi con người.
Thông qua quá trình làm việc lâm sàng với những bệnh nhân phải trải qua
những bệnh về tâm thần, Freud cho rằng những trải nghiệm thời thơ ấu và những
khát vọng, mong muốn vô thức có ảnh hưởng đến hành vi. Dựa trên quan sát,
ông đã phát triển một thuyết miêu tả sự phát triển theo từng giai đoạn về mặt tâm
sinh lý. Theo Freud, những mâu thuẫn nảy sinh trong mỗi giai đoạn có thể ảnh
hưởng đến nhân cách và hành vi.
Nội dung cơ bản trong thuyết của Freud trong lĩnh vực SKTT:
+ Bản năng, bản ngã và siêu ngã.
+ Xung đột nội tâm.
+ Sự phát triển tâm lý qua các giai đoạn.
+ Cơ chế phòng vệ.
+ Liên tưởng tự do.
18
+Sự chuyển dịch.
- Thuyết tâm lý – xã hội của E.erickson.[10;tr.46]
Mô hình của E.erickson tập trung vào các giai đoạn phát triển tâm lý xã
hội, song song với các giai đoạn phát triển tâm lý tính dục của Freud. Mỗi giai
đoạn biểu hiện một khủng hoảng, một giải pháp làm cá thể đó đứng trên quỹ đạo
phát triển đặc trưng trong giai đoạn.

xung quanh mục tiêu này và được thiết kế nhằm gia tăng khả năng có thể xảy ra
để có mối quan hệ với người chăm sóc là mối quan hệ khỏe mạnh. Hệ thống gắn
bó được hoạt hóa bởi sự khó chịu dưới các dạng các nhu cầu bên trong như đói
hay các yếu tố gây stress bên ngoài như sự nguy hiểm.
Hai kiểu chăm sóc tạo nguy cơ cho trẻ gắn bó lẩn tránh:
+ Bố mẹ không kiên nhẫn với con, hay thể hiện những tình cảm khó chịu
với con và không thích thú khi ở bên chúng. Ainsworth cho rằng những bà mẹ
này có tính cứng nhắc và chỉ quan tâm đến bản thân mình và có vể không chấp
nhận con mình.
+ Kiểu chăm sóc thứ hai là quá nhiệt tình với con, vô tình tạo nên áp lực.
Vì thế cần có sự chăm sóc phù hợp để trẻ có thể phát triển khỏe mạnh.
1.1.7. Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ em giai đoạn đầu thanh niên (15-18 tuổi)
Sự phát triển về mặt sinh lý:
Ở giai đoạn này sự phát triển về mặt tâm lý bước vào giai đoạn ổn định, chấm
dứt thời kỳ dữ dội, mất cân bằng ở lứa tuổi thiếu niên. Cơ thể của cả nam và nữ
đề gần đạt đến mức tuổi trưởng thành cụ thể:
Nhịp độ tăng trưởng về chiều cao và trọng lượng đã chậm lại. Các tố chất thể
lực như sức mạnh, sức bền, sự dẻo dai được tăng cường. Sức mạnh cơ bắp được
tăng rất nhanh. Ví dụ lực cơ em trai 16 tuổi vượt lên gấp 2 lần với lực cơ của em
lúc 12 tuổi.
Về hệ thần kinh: Cấu tạo và chức năng của hệ thần kinh phức tạp hơn lứa tuổi
trước mặc dù trọng lượng não tăng không đáng kể, các dây thần kinh liên hợp
20
tăng nhanh làm cho chức năng của não phát triển. Do đó, tư duy ngôn ngữ và
phẩm chất ý chí có điều kiện phát triển.
Về mặt giới tính: Đa số các em đã qua thời kỳ dậy thì phần lớn dấu hiệu giới
tính phụ đã phát triển rõ rệt làm cho cơ thể các em được thay đổi rõ ràng. Chấm
dứt giai đoạn khủng hoảng của thời kỳ phát dục chuyển sang thời kỳ ổn định, cân
bằng hơn.
Quá trình dậy thì: Ở các em có thể có có thể không giống nhau, có những

phụ thuộc vào cha mẹ vật chất, các em vẫn đến trường dưới sự hướng dẫn của
người lớn. Vị trí của các em ở lứa tuổi này có tính chất không xác định.
Nhìn chung, cơ thể tuổi đầu thanh niên phát triển đã có thể sánh với người
lớn vì vậy cần người lớn phải có yêu cầu nhất định, thái độ nghiêm túc, tôn trọng
các em phải quan tâm, giúp đỡ các em trong cuộc sống.
- Đặc điểm tâm lý cơ bản nhất tuổi đầu thanh niên:
Sự phát triển các quá trình nhận thức:
Tính chủ định với các quá trình nhận thức ở giai đoạn này tăng lên, đến cuối
giai đoạn này các em hoàn làm chủ được nhận thức của mình.
Thời điểm này có độ nhạy cảm về tri giác nhìn và nghe. Quan sát trở nên có
mục đích và toàn diện hơn. Tuy nhiên do thiếu kỹ năng quan sát nên còn hơi vội
vàng rút ra kết luận khi chưa đủ dẫn chứng cần thiết.
Về mặt trí nhớ có logic, ghi nhớ có chủ định phát triển mạnh, giữ vai trò chủ
đạo trong hoạt động nhận thức. Các em biết đưa ra ý kiến của mình, sắp xếp tài
liệu học tập theo trình tự logic, vận dụng liên tưởng để ghi nhớ một cách khoa
học. Một số em còn ghi nhớ đại khái, chung chung…
Ở giai đoạn này các em có khả năng tư duy lý luận, chặt chẽ hơn, có căn cứ
hơn. Những tư duy đó giúp các em thực hiện thao tác tư duy toán học phức tạp,
22
phân tích nội dung cơ bản của khái niệm là điều kiện cơ bản hình thành thế giới
quan. Tuy nhiên, hoạt động tư duy còn hạn chế do các em thiếu tính độc lập và
sáng ta, chưa chú ý phát huy hết khả năng của bản thân mình, còn kết luận vội
vàng theo cảm tính.Tưởng tượng và sáng tạo đều phát triển song tính sáng tạo
phát triển hơn nhưng xa rời thực tiễn.
Sự phát triển nhu cầu:
Nhu cầu giao tiếp: Quan hệ bạn bè chiếm vị trí lớn hẳn so với quan hệ với
người lớn tuổi và ít tuổi hơn mình. Điều này thể hiện lòng khát khao có vị trí
bình đẳng trong cuộc sống, thay dần quan hệ dựa dẫm, phụ thuộc cha mẹ bằng
quan hệ bình đẳng.
Trong hoàn cảnh giao tiếp tự do, sở thích các em hướng đến bạn bè nhiều

chính là tình yêu nam nữ. Dễ quan sát được những biểu hiện của sự phải lòng
nhau, thậm chí xuất hiện những mối tình đầu đầy lãng mạn. Nhưng biểu hiện của
loại tình cảm này rất phức tạp, không đồng đều. Điều này không chỉ phụ thuộc
vào yếu tố phát dục mà còn phụ thuộc vào kế hoạch đường đời, điều kiện giáo
dục của gia đình, nhà trường và xã hội.
Sự phát triển nhân cách:
Sự phát triển của tự ý thức:
Đây là đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách lứa tuổi đầu thanh niên,
nó có ý nghĩa to lớn với sự phát triển tâm lý lứa tuổi. Quá trình này rất phong
phú và phức tạp. Lứa tuổi này quá trình phát triển tự ý thức diễn ra mạnh mẽ và
sôi nổi có tính chất đặc thù riêng. Đặc điểm quan trọng của tự ý thức đó là tự ý
thức xuất phát từ nhu cầu của cuộc sống và hoạt động địa vị mới mẻ, nhưng quan
hệ mới với thế giới mới xung quanh cuộc sống buộc các em phải tự ý thức những
đặc điểm nhân cách của mình.
24
Các em không chỉ nhận thức được cái tôi của mình trong hiện tại mà còn
nhận thức được vị trí của mình trong tương lai
Từ sự ý thức phát triển mà sự tự đánh giá ở lứa tuổi này khá phát triển, các
em đánh giá sâu sắc mặt mạnh, mặt yếu của vấn đề. Tuy nhiên sự đánh giá của
các em dễ có xu hướng cường điệu hóa. Vì vậy, cần đến sự giúp đỡ các em một
cách khéo léo để hình thành một biểu tượng khách quan về nhân cách của mình.
Sự hình thành thế giới quan:
Lứa tuổi đầu thanh niên là lứa tuổi quyết định của sự hình thành thế giới quan
hệ thống quan điểm về trật tự xã hội, nguyên tắc ứng xử và định hướng giá trị
con người.
Ở tuổi này, sự phát triển điều kiện về mặt trí tuệ, nhân cách, xã hội để xây
dựng một hệ thống quan điểm đã được hình thành. Các em cô gắng xây dựng
quan điểm trong lĩnh vưc khoa học với vấn đề xã hội. Chính nội dung các môn
học ở trường giúp các em xây dựng được thế giới quan tích cực về tự nhiên và xã
hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status