TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TÂM LÝ HỌC
GIANG THỊ BÍCH PHƢỢNG
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN
CỦA NHÀ THAM VẤN TÂM LÝ
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2016
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TÂM LÝ HỌC
GIANG THỊ BÍCH PHƢỢNG
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN
CỦA NHÀ THAM VẤN TÂM LÝ
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. VÕ THỊ TƢỜNG VY
Thành phố Hồ Chí Minh - 2016
2. Mục đích nghiên cứu ............................................................................................... 2
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu ........................................................................ 2
4. Giả thuyết nghiên cứu ............................................................................................. 3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................................................. 3
6. Giới hạn nghiên cứu ................................................................................................ 3
7. Phương pháp nghiên cứu......................................................................................... 3
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA
NHÀ THAM VẤN TÂM LÝ .................................................................................... 6
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu ......................................................................... 6
1.2. Cơ sở lí luận của đề tài ....................................................................................... 12
1.2.1. Chăm sóc sức khỏe tâm thần .......................................................................... .12
1.2.2. Nhà tham vấn tâm lý ....................................................................................... 23
1.2.3. Chăm sóc sức khỏe tâm thần của nhà tham vấn tâm lý .................................. 32
1.2.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến chăm sóc sức khỏe tâm thần của nhà tham vấn
tâm lý ......................................................................................................................... 39
Chƣơng 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG CHĂM SÓC SỨC
KHOẺ TÂM THẦN CỦA NHÀ THAM VẤN TÂM LÝ TẠI THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH ............................................................................................................. 45
2.1. Tổ chức nghiên cứu thực trạng .......................................................................... 45
2.2. Kết quả nghiên cứu ............................................................................................ 49
2.2.1. Kết quả khảo sát nhận thức của nhà tham vấn tâm lý đối với chăm sóc sức
khỏe tâm thần. ........................................................................................................... 49
2.2.2. Kết quả khảo sát thái độ của nhà tham vấn tâm lý đối với chăm sóc sức khỏe
tâm thần ..................................................................................................................... 51
2.2.3. Kết quả khảo sát hành vi chăm sóc sức khoẻ tâm thần của nhà tham vấn tâm
lý ................................................................................................................................ 68
2.2.4. Kết quả khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng chăm sóc sức khỏe tâm
thần của nhà tham vấn tâm lý tại Thành phố Hồ Chí Minh ...................................... 77
Giảng dạy
GD
Mức ý nghĩa
MYN
Nhà tham vấn tâm lý
NTVTL
Số thứ tự
STT
Sức khỏe tâm thần
SKTT
Tâm lý - giáo dục
TL - GD
Tâm lý học
TLH
Thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 2.2
Nhận thức của NTVTL về CSSKTT
49
3
Bảng 2.3
4
Bảng 2.4
Thái độ của NTVTL về nội dung có thể làm việc
hiệu quả
Thái độ của NTVTL về nội dung hài lòng với bản
thân
Trang
54
55
Thái độ của NTVTL về nội dung hài lòng với mối
5
Bảng 2.5
Bảng 2.12
Thái độ của NTVTL về nội dung có khả năng ứng
phó với stress trong công việc
Thái độ của NTVTL về nội dung có khả năng đáp
ứng những yêu cầu của cuộc sống
Thái độ của NTVTL về nội dung bộc lộ xúc cảm
cách lành mạnh
So sánh thái độ của NTVTL về các nội dung
thuộc về CSSKTT theo giới tính
So sánh thái độ của NTVTL về các nội dung
58
60
61
62
63
thuộc về CSSKTT theo công tác chính.
So sánh thái độ của NTVTL về các nội dung
thuộc về CSSKTT theo số năm làm tham vấn
CSSKTT của NTVTL về nội dung hài lòng với
bản thân
65
Bảng 2.18
19
Bảng 2.19
20
Bảng 2.20
21
Bảng 2.21
CSSKTT của NTVTL về nội dung có thể làm
việc hiệu quả
CSSKTT của NTVTL về nội dung có thể ứng phó
với stress trong công việc
CSSKTT của NTVTL về nội dung đáp ứng những
yêu cầu của cuộc sống
CSSKTT của NTVTL về nội dung bộc lộ xúc
cảm cách lành mạnh
So sánh hành vi CSSKTT của NTVTL theo giới
tính
So sánh hành vi CSSKTT của NTVTL theo công
tác chính
So sánh hành vi CSSKTT của NTVTL theo số
năm làm tham vấn.
Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng CSSKTT
Biểu đồ 2.1
Thái độ của NTVTL đối với CSSKTT.
51
2
Biểu đồ 2.2
Hành vi CSSKTT của NTVTL
67
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
STT
Kí hiệu
Tên hình vẽ
Trang
1
Hình 1.1
Sơ đồ kim thự tháp dịch vụ WHO cho một sự
pha trộn tối ưu của dịch vụ SKTT
Nhà tham vấn và các chuyên gia giúp đỡ chịu ảnh hưởng sâu sắc từ công việc
của họ. Họ có thể bị ảnh hưởng từ những xúc cảm tiêu cực, những khó khăn tâm lý,
những sang chấn của thân chủ. Họ rất dễ bị "lây nhiễm" từ thân chủ và rất dễ rơi
vào những đau khổ của thân chủ. Công việc của nhà tham vấn và các chuyên gia
1
giúp đỡ có nhiều nguy cơ gây hại đến sức khỏe tâm thần. Cho nên sức khỏe tâm
thần của những nhà tham vấn và chuyên gia giúp đỡ cũng cần được quan tâm và
chăm sóc.
Nhà tham vấn tâm lý cũng làm việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm
thần. Đối tượng trợ giúp của nhà tham vấn tâm lý là những cá nhân có khó khăn, có
vấn đề về sức khỏe tâm thần và dễ tổn thương. Tham vấn tâm lý là công việc đầy
khó khăn và áp lực nên nhà tham vấn tâm lý cũng không tránh khỏi nguy cơ rơi vào
những vấn đề sức khỏe tâm thần. Nhà tham vấn tâm lý đang có vấn đề sức khỏe tâm
thần mà lại làm việc với thân chủ thì có thể không những tham vấn tâm lý không
hiệu quả, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến thân chủ. Thứ nhất, thân chủ tổn thương
do nhà tham vấn tâm lý có thể chuyển di xúc cảm tiêu cực của mình lên thân chủ.
Thứ hai, tình trạng kiệt sức khiến nhà tham vấn tâm lý cảm thấy mệt mỏi, chán nản,
giảm năng lực thấu cảm, nhanh chóng đưa ra lời khuyên làm ảnh hưởng đến quyền
lợi của thân chủ. Thứ ba, cuộc sống của những nhà tham vấn tâm lý có mức độ thấu
cảm cao có thể bị ảnh hưởng do nguy cơ "bị lây nhiễm" những đau khổ và những lo
lắng của thân chủ có sang chấn (lạm dụng tình dục, bạo hành, bỏ rơi,...)
Một nhà tham vấn tâm lý không khỏe sẽ gặp trở ngại khi trợ giúp những
người đang có vấn đề về sức khỏe. Để hành nghề hiệu quả và lâu dài, sức khỏe tâm
thần của nhà tham vấn tâm lý cần được chăm sóc. Mặc dù vậy, đây là vấn đề ít được
đề cập đến. Trên đây là những lí do thôi thúc người nghiên cứu tìm hiểu thực trạng
chăm sóc sức khỏe tâm thần của nhà tham vấn tâm lý tại thành phố Hồ Chí Minh.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng chăm sóc sức khỏe tâm thần của nhà tham vấn tâm lý tại
Khảo sát thực trạng chăm sóc sức khỏe tâm thần của nhà tham vấn tâm lý
tại thành phố Hồ Chí Minh và một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng
trên.
–
Đề xuất một số kiến nghị.
6. Giới hạn nghiên cứu
6.1. Giới hạn về nội dung
–
Một cá nhân có thể được chăm sóc từ mạng lưới chăm sóc bên ngoài
hoặc cá nhân đó tự chăm sóc cho chính mình. Trong đề tài nghiên cứu
này, chúng tôi chỉ nghiên cứu trong giới hạn nhà tham vấn tâm lý tự
chăm sóc cho chính mình.
–
Do đề tài khá mới mẻ nên trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp, chúng
tôi chỉ tiến hành tìm hiểu ban đầu về nhận thức, thái độ và hành vi chăm
sóc sức khỏe tâm thần của nhà tham vấn tâm lý.
6.2. Giới hạn về khách thể nghiên cứu
33 nhà tham vấn tâm lý đang làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phƣơng pháp luận
7.1.1. Quan điểm hệ thống - cấu trúc
3
Dựa trên các tài liệu, các công trình nghiên cứu kết hợp với lí luận riêng,
xây dựng cơ sở lí luận hoàn chỉnh cho đề tài.
7.2.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Mục đích
Phương pháp này nhằm khảo sát thực trạng chăm sóc sức khỏe tâm thần của
nhà tham vấn tâm lý về nhận thức, thái độ, hành vi cũng như các yếu tố ảnh hưởng
đến thực trạng chăm sóc sức khỏe tâm thần của nhà tham vấn tâm lý tại thành phố
Hồ Chí Minh.
4
Cách thức
–
Dựa trên cơ sở lí luận, xây dựng phiếu thăm dò các câu hỏi về từng mặt
cần khảo sát
–
Kiểm nghiệm độ tin cậy
–
Tiến hành khảo sát chính thức
7.2.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu
Mục đích
Phương pháp này nhằm thu thập thông tin một cách trực tiếp từ nhà tham vấn
–
Xử lý thống kê và kiểm tra ý nghĩa
5
Chƣơng 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN
CỦA NHÀ THAM VẤN TÂM LÝ
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Tổng quan nghiên cứu ở nước ngoài
Từ lâu loài người đã biết CSSKTT, đến thế kỉ thứ XVIII, chính xác là năm
1773 ở Viecginia, Mỹ đã có bệnh viện tâm thần đầu tiên và sách giáo khoa tâm thần
đầu tiên của Bengiamin Rút (Benjamin Rich-1745-1813), rồi đến cuối thế kỉ XVIII
đầu XIX, thuyết phân tâm học Freud đánh dấu một bước phát triển mới của tâm thần
học [11].
Theo báo cáo y tế thế giới năm 2001: Cả trong các nước phát triển và đang phát
triển, cứ 4 người thì có 1 người phát triển một hay nhiều hơn rối loạn tâm thần hoặc
hành vi ở một số giai đoạn trong cuộc sống. Bây giờ, những rối loạn tâm thần hoặc
hành vi có thể được chẩn đoán đáng tin cậy và chính xác như hầu hết các rối loạn thể
chất thông thường. Khoa học tâm lý đã chỉ ra rằng một số loại rối loạn tâm thần và
hành vi như lo âu và trầm cảm, có thể xảy ra như là kết quả của sự thất bại trong việc
đối phó có hiệu quả với một sự kiện cuộc sống căng thẳng. Nói chung, những người
cố gắng tránh suy nghĩ hoặc tránh đối phó với yếu tố gây stress thì có nhiều khả năng
để phát triển sự lo lắng hoặc trầm cảm hơn những người chia sẻ [40].
Có một mối quan tâm ngày càng tăng trong môi trường tâm lý xã hội trong làm
việc của nhân viên chăm sóc sức khỏe vì họ có nguy cơ cao đối với sự kiệt sức, xung
đột vai trò và không hài lòng trong công việc. Kiệt sức nghề nghiệp, như là một loại
bởi sự kỳ thị khi nói đến đi khám chữa SKTT. Tuy nhiên, các nhà tâm lý vẫn còn
phải đối mặt với nhiều rào cản tương tự cộng đồng dân cư phải đối mặt để CSSKTT
như: không đủ thời gian, không đủ tiền bạc và rắc rối khi thừa nhận tình trạng bệnh.
Theo nghiên cứu, rào cản lớn nhất để nhà tâm lý tìm kiếm điều trị là quá trình lựa
chọn để tìm một nhà chuyên môn vừa không phải là một đồng nghiệp cũng không
phải là một người cố vấn, nhà chuyên môn này làm việc gần đó và cung cấp dịch vụ
chăm sóc như mong đợi cao của chính các nhà tâm lý [38].
Theo bài báo "Tự chữa lành" được công bố (8/2014) trên trang mạng của Hiệp
hội Tâm Lý học Hoa Kỳ (APA), phần lớn các nghiên cứu đã khám phá ra lí do các nhà
tâm lý tìm đến trị liệu tâm lý cá nhân cũng cùng với lí do của những người khác cần
đến trị liệu, chẳng hạn như: đối phó với sự mất mát, đối phó với trầm cảm hoặc lo âu,
7
đấu tranh với một cuộc khủng hoảng cá nhân [32]. Nhà tâm lý cũng là một con người.
Cuộc sống con người không bằng phẳng. Cho nên, nhà tâm lý cũng gặp những vấn đề
khó khăn như mọi người gặp.
Như vậy, trên thế giới, CSSKTT đã sớm được biết đến và ngày càng được quan
tâm. Tuy nhiên có tương đối ít nghiên cứu tập trung vào những người làm công tác
chăm sóc. Mặc dù ít được nghiên cứu nhưng những nghiên cứu cũng cho thấy người
làm công tác chăm sóc cũng cần CSSKTT. Nghiên cứu tập trung vào nhân viên chăm
sóc y tế đã chỉ ra những nguy cơ nghề nghiệp của người chăm sóc, các yếu tố ảnh
hưởng đến SKTT của người chăm sóc (sự kiệt sức nghề nghiệp, xung đột vai trò, sự
hài lòng trong công việc). Nghiên cứu tập trung vào nhà tâm lý đã chỉ ra những lí do
nhà tâm lý cần đến trị liệu và những khó khăn để nhà tâm lý được nhận trị liệu như
mong đợi.
1.1.2. Tổng quan nghiên cứu trong nước
Ngày nay, người ta càng thấy vai trò lớn lao của mặt tâm thần trong sức khỏe
con người. "Sự cần thiết của nghiên cứu liên ngành giáo dục, tâm lý học, sức khỏe
tinh thần trẻ em Việt Nam", Đặng Bá Lãm đã chỉ ra đòi hỏi liên kết các tổ chức y tế,
chứng trầm cảm của phụ nữ sống trong gia đình có chồng bạo hành tại Tp. HCM.
Tác giả đã khám phá ra một phương pháp chữa trị riêng biệt phù hợp với nền văn
hóa riêng biệt của Việt Nam. Đồng thời cũng cho thấy tầm quan trọng của trị liệu
tâm lý trong điều trị trầm cảm [25]. Tìm được phương pháp giải quyết phù hợp với
hoàn cảnh chứa vấn đề thì luôn đem lại hiệu quả.
Theo nghiên cứu "Sức khỏe tâm lý sinh viên: nghiên cứu cắt ngang" của tác giả
Lê Minh Thuận trên 252 sinh viên, tỉ lệ mức độ rất nặng - lo âu khoảng 7% là nữ và
4% là nam (chung là 11%), trầm cảm là 5% (nữ). Mức độ nặng - lo âu là 12%, stress
là 2% và trầm cảm 2%. Có sự tương quan cao giữa các yếu tố stress, trầm cảm và lo
âu của sinh viên. Yếu tố rối nhiễu tâm lý: lo âu, trầm cảm, stress có mối liên hệ đáng
tin cậy với Hy vọng cậy (r = -0,83, -0,85, -0,82), cho thấy yếu tố hy vọng là yếu tố
tăng cường bảo vệ. Đây là mối liên hệ nghịch (r < 0), tính hy vọng ở sinh viên cao thì
giảm đi các rối nhiễu tâm lý và ngược lại rối nhiễu tâm lý tăng thì làm giảm hy vọng.
Rối nhiễu tâm lý trong sinh viên là đáng quan tâm. Giảm tỉ lệ rối nhiễu tâm lý trong
sinh viên, bằng cách tăng cường tính hy vọng cho sinh viên. Sức khỏe tâm lý cần
được quan tâm và xem trọng trong chính sách và các vấn đề liên quan đến sinh viên
[24].
9
Luận văn thạc sĩ tâm lý học "Thực trạng hiện tượng stress trong đời sống của
sinh viên trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Tp.
HCM" của tác giả Nguyễn Thị Huyền trên 600 sinh viên đã bước đầu tổng hợp được
một số công trình nghiên cứu về stress nói chung, stress ở các lứa tuổi cũng như
stress ở lứa tuổi sinh viên nói riêng và đã sơ bộ tổng hợp, nhận dạng hiện tượng
stress trong đời sống: biểu hiện của hiện tượng stress, nguyên nhân gây stress, cách
thức ứng phó khi bị stress. Ưu tiên trong việc lựa chọn cách thức ứng phó với hiện
tượng stress là các cách thức giúp thư giãn tinh thần, kế đến là các cách thức điều
chỉnh nhận thức, điều chỉnh lối sống và hoạt động của bản thân. Người nghiên cứu
cũng đề ra kiến nghị cho sinh viên, nhà trường và xã hội để nâng cao nhận thức, có
Theo luận văn thạc sĩ tâm lý học "Mức độ trầm cảm của bệnh nhân tại bệnh
viện tâm thần Tiền Giang" của tác giả Đinh Minh Thành, trong mẫu nghiên cứu 68
bệnh nhân trầm cảm độ tuổi từ 16 đến 80 đang điều trị tại bệnh viện Tâm thần Tiền
Giang, tỉ lệ bệnh nhân trầm cảm ở mức độ nặng là 66,2%, tỉ lệ bệnh nhân trầm cảm
ở mức vừa là 27,9%, trầm cảm nhẹ chỉ chiếm 5,9%. Giới nữ (70,6%) xét theo mức
độ trầm cảm thì số lượng nữ giới mắc trầm cảm vừa đến nặng cũng cao hơn nam
giới (0% bị trầm cảm nhẹ, nhưng lại 89% trầm cảm vừa và 70,6% trầm cảm nặng),
độ tuổi từ 31 - 45 (48,5%), trình độ học vấn từ lớp 1 đến lớp 5 (36,8%), thu nhập
dưới 1 triệu/tháng (32,4%), đã kết hôn (57,4%) và nghề nghiệp là nội trợ - làm nông
(32,4%). Để phòng ngừa và điều trị trầm cảm, tác giả đề xuất cách thức đầy đủ cho
cả 4 đối tượng: bệnh nhân, gia đình, bệnh viện và xã hội. Bệnh nhân cần chủ động
đến khám khi phát hiện mình có triệu chứng điển hình của trầm cảm, tìm cho mình
một cách thức điều trị hiệu quả; bên cạnh đó, tổ chức đời sống cá nhân tốt, quan tâm
đến sức khỏe tinh thần (điều hòa giữa lao động chân tay và lao động trí óc, đảm bảo
giờ giấc sinh hoạt, ngủ nghỉ, tránh tiếng ồn...). Gia đình cần quan tâm đến bệnh
nhân, là chỗ dựa vững chắc cho bệnh nhân và hợp tác hiệu quả trong quá trình điều
trị. Bệnh viện cần nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ và nâng cao hiểu biết
về trầm cảm cho thân nhân của bệnh nhân. Xã hội cần có chính sách, chương trình
để mọi người hiểu biết về trầm cảm, khuyến khích mọi người tham gia chiến dịch
phòng chống trầm cảm trong cộng đồng. Như vậy, để phòng ngừa và điều trị trầm
cảm, cần có sự chủ động trong việc chăm sóc sức khỏe của bản thân và sự chăm sóc
từ các đối tượng bên ngoài. Tác giả có nhắc đến sự phối hợp chặt chẽ giữa điều trị
trầm cảm bằng hóa dược và tâm lý trị liệu nhưng chưa được cụ thể [22].
11
Bản thân NTVTL có khỏe mạnh thì công việc mới có hiệu quả. Việc
NTVTL tiếp xúc với thân chủ có rất nhiều xúc cảm tiêu cực có thể tích tụ lại nơi
thân chủ và dễ rơi vào cơ chế chuyển dịch ngược làm ảnh hưởng đến quá trình tham
vấn. Kết quả nghiên cứu "Hành vi điều chỉnh xúc cảm của người làm tham vấn tâm
thực vật - nội tạng, giảm miễn dịch...) như đau dạ dày do stress kéo dài. Sức khỏe xã
hội không tốt khiến con người khó hòa nhập, sống không thoải mái, tăng stress làm
SKTT con người dễ bị tổn thương. Ngược lại, SKTT không tốt cũng gây trở ngại cho
sự hòa nhập của con người vào xã hội, tức là sức khỏe xã hội.
Sức khỏe toàn diện được mô tả như một tam giác. Một tam giác đều minh họa
những kết nối này và sự cần thiết cho một cách tiếp cận cân bằng cho sức khỏe. Để
đạt được và duy trì một mức độ cao về sức khỏe, cá nhân phải phát triển cả ba cạnh
sinh lí, tâm thần và xã hội. Ngược lại, tam giác sức khỏe của cá nhân có thể trở
thành không đều, nếu cá nhân dành quá nhiều thời gian trong một cạnh nào đó [37].
Xã hội ngày càng phát triển, con người ngày càng phải đối mặt với nhiều
thách thức. Thế kỉ XXI dường như là thế kỉ của SKTT. Đã đến lúc, SKTT cần được
chăm sóc đúng mức và hiệu quả.
Trong đề tài nghiên cứu, chúng tôi sẽ dựa trên khái niệm SKTT là trạng thái:
hài lòng với bản thân, hài lòng với mối quan hệ bạn bè và những người khác, bộc lộ
xúc cảm một cách lành mạnh, có khả năng đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống, có
khả năng ứng phó với stress trong công việc, có thể làm việc năng suất và hiệu quả.
1.2.1.2. Khái niệm chăm sóc sức khỏe tâm thần
Chăm sóc sức khỏe thông thường được coi như là một yếu tố quyết định quan
trọng trong việc nâng cao sức khỏe tổng quát và hạnh phúc của mọi người trên khắp
thế giới [43]. Chăm sóc sức khỏe bao gồm nhiều loại dịch vụ sức khỏe khác nhau.
Dịch vụ sức khỏe gồm sự phòng ngừa bệnh tật, sự duy trì và bảo vệ sức khỏe, sự điều
trị và chữa bệnh [37].
Theo Wikipedia, "Chăm sóc sức khỏe hay y tế là việc chẩn đoán, điều trị và
phòng ngừa bệnh, bệnh tật, thương tích, và suy yếu về thể chất và tinh thần khác ở
người. Chăm sóc sức khỏe được thực hiện bởi những người hành nghề y như chỉnh
hình, nha khoa, điều dưỡng, dược, y tế liên quan, và các nhà cung cấp dịch vụ chăm
sóc. Nó đề cập đến những việc cung cấp chăm sóc sức khỏe ban đầu, chăm sóc thứ
cấp và chăm sóc thứ ba, cũng như trong y tế công cộng" [43].
Khi tình trạng bệnh nhân đòi hỏi thiết bị chuyên ngành hoặc điều trị, điều này
là chăm sóc sức khỏe thứ ba. Đây là loại hình chăm sóc diễn ra tại các bệnh viện
được trang bị với công nghệ đặc biệt. Ví dụ về các dịch vụ chăm sóc thứ ba bao
gồm thận điều trị chạy thận, tim hoặc phẫu thuật não, và ung thư hoặc điều trị
phỏng [37]. Đây là giai đoạn những bệnh nhân được chẩn đoán mắc một trong
những rối loạn tâm thần nặng và người chăm sóc thường là bác sĩ tâm thần, những
người làm công tác CSSKTT.
Như vậy, chăm sóc sức khoẻ tâm thần là duy trì và bảo vệ trạng thái: hài lòng
với bản thân, hài lòng với mối quan hệ bạn bè và những người khác, bộc lộ xúc cảm
một cách lành mạnh, có khả năng đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống, có khả năng
ứng phó với stress trong công việc, có thể làm việc năng suất và hiệu quả; phòng
ngừa và điều trị trạng thái: không hài lòng với bản thân, không hoà hợp trong mối
quan hệ bạn bè và những người khác, xúc cảm không được bộc lộ một cách lành
15
mạnh, không có khả năng đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống, không có khả năng
ứng phó với stress trong công việc, công việc không năng suất và không hiệu quả.
Kim tự tháp dịch vụ WHO cho một sự pha trộn tối ưu của dịch vụ
SKTT
Hình 1.1. Sơ đồ kim thự tháp dịch vụ WHO cho một sự pha trộn tối
ưu của dịch vụ SKTT
Hầu hết mọi người cần được khuyến khích để quản lí các vấn đề SKTT của
chính họ, hoặc với sự hỗ trợ từ gia đình hoặc bạn bè. Tự chăm sóc là nền tảng của
dịch vụ kim tự tháp WHO, khi mà tất cả dịch vụ chăm sóc khác dựa vào [41]. Tự
chăm sóc được đặt ở mức độ cần thiết nhất nhưng giá lại thấp nhất cho thấy tự chăm
sóc có vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khoẻ tâm thần nhưng ít tốn kém,
phù hợp với điều kiện của nhiều người. Hiện nay, Hoa Kỳ đã nhận ra sự thừa nhận
nguyên nhân của bệnh tật và tự chăm sóc phòng ngừa là cần thiết hơn bao giờ hết