BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
_______________________
TRƯƠNG THANH CHÍ KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG CÔNG TÁC
THAM VẤN HỌC ĐƯỜNG TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
THAM VẤN HỌC ĐƯỜNG TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC
Mã số: 60 31 80
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. ĐOÀN VĂN ĐIỀU
0T1.1.1. Lược sử nghiên cứu vấn đề ở nước ngoài0T 9
0T1.1.2. Lược sử nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam0T 9
0T1.2. Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu0T 10
0T1.2.1. Tham vấn0T 10
0T1.2.2. Tham vấn và các khái niệm có liên quan0T 14
0T1.2.3. Tham vấn học đường0T 16
0T1.2.4. Khó khăn tâm lý0T 18
0T1.2.5. Khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn học đường0T 19
0T1.3 Lý luận về khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn học đường0T 19
0T1.3.1. Người làm công tác tham vấn học đường0T 20
0T1.3.2. Biểu hiện của khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn0T 23
0T1.3.3. Biểu hiện khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn học đường0T 25
0T1.3.4. Nguyên nhân gây nên khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn học đường0T 30
0TChương 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU0T 32
0T2.1. Thể thức và phương pháp nghiên cứu0T 32
0T2.1.1. Cách soạn thang đo0T 32
0T2.1.2. Mẫu nghiên cứu0T 32
0T2.2. Kết quả nghiên cứu.0T 34
0T2.2.1. Kết quả nghiên cứu khảo sát trên giáo viên0T 34
0T2.2.2. Kết quả nghiên cứu khảo sát trên học sinh0T 43
0T2.2.3. So sánh kết quả khảo sát từ người làm công tác tham vấn học đường0T 50
0TKẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ0T 63
0TKết luận0T 63
0TKiến nghị0T 65
0TTÀI LIỆU THAM KHẢO0T 67
0TPHỤ LỤC0T 71
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tham vấn học đường là một nghề khá non trẻ đối với Việt Nam nói chung và thành phố
Từ những lí do nêu, trên chúng tôi quyết định thực hiện đề tài “Khó khăn tâm lý trong
công tác tham vấn học đường tại thành phố Hồ Chí Minh”.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở khảo sát khó khăn tâm lý của người làm tham vấn trong công tác tham vấn học
đường tại thành phố Hồ Chí Minh, đề tài đề xuất một số giải pháp cho công tác này.
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn học đường tại thành phố Hồ Chí Minh.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Người thực hiện công tác tham vấn học đường và học sinh tại thành phố Hồ Chí Minh.
4. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Do chưa được đào tạo chuyên ngành và trang bị thật tốt về mặt nhận thức, thái độ, hành vi
nghề nghiệp, nên đa số người làm công tác tham vấn học đường tại thành phố Hồ Chí Minh gặp
một số khó khăn tâm lý trong hoạt động của họ.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để đạt mục đích đề ra, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:
3.1. Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài.
3.2. Khảo sát thực trạng khó khăn tâm lý của người thực hiện công tác tham vấn học đường tại
thành phố Hồ Chí Minh.
3.3. Đề xuất một số giải pháp trong công tác của người thực hiện tham vấn học đường tại
thành phố Hồ Chí Minh.
6. GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu một số khó khăn tâm lý của người thực hiện công tác tham vấn học
đường cho học sinh trung học tại thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất một số giải pháp cho vấn đề
đặt ra.
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu các tài liệu được xuất bản, các trang thông tin điện tử và các công trình nghiên
cứu có liên quan đến đề tài.
7.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
lên tiểu học.
Như vậy, vấn đề nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn học đường, trong
giới hạn tiềm kiếm của người nghiên cứu chưa tìm thấy nghiên cứu nào trên thế giới nói về vấn
đề này.
1.1.2. Lược sử nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam
Ngành tham vấn học đường ở Việt Nam có thể được xem là non trẻ so với các nước như
Mỹ, Canada, Úc, Pháp hay Nga, nhưng cũng được hình thành và phát triển từ trước những năm
1975 ở miền nam và đang lớn mạnh dần ở những năm gần đây. Công trình có thể cho là có đúc
kết tất cả các nghiên cứu của các tác giả có liên quan đến việc nghiên cứu về tham vấn học đường
đó chính là của tác giả Huỳnh Mai Trang (2007) nghiên cứu “Thực trạng hoạt động tham vấn học
đường tại các trường trung học ở nội thành thành phố Hồ Chí Minh”.
Các công trình nghiên cứu về khó khăn tâm lý có khá nhiều tác giả nghiên cứu. Nhóm tác
giả Dương Thị Diệu Hoa, Vũ Khánh Linh, Trần Văn Thức (2007), nghiên cứu về “những khó
khăn tâm lý của học sinh trung học phổ thông trong học tập và các mối quan hệ”; tác giả Nguyễn
Thị Thiên Kim (2007), nghiên cứu về các “khó khăn trong hoạt động học tập của sinh viên năm
thứ nhất trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh”; tác giả Trần Thị Lệ Thu (2010),
nghiên cứu về “thực trạng khó khăn tâm lý của sinh viên trường Đại học sư phạm Hà Nội và nhu
cầu có sự trợ giúp của chuyên gia tâm lý học đường” [26, tr 308]; tác giả Đồng Văn Toàn (2010),
nghiên cứu về “những khó khăn tâm lý trong giao tiếp của lưu học sinh Lào đang học ở trường
Cao đẳng Sư phạm Thừa Thiên Huế”; tác giả Đặng Thanh Nga (2010), nghiên cứu “Khó khăn
tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên trường Đại học Luật Hà Nội”; tác giả Nguyễn Thị
Vui (2010), nghiên cứu “Thực trạng trở ngại tâm lý trong học tập của học sinh tiểu học dân tộc
thiểu số tỉnh Kon Tum”; tác giả Vũ Ngọc Hà (2010), có công trình nghiên cứu về “Khó khăn tâm
lý của học sinh đầu lớp một qua thái độ đối với học tập”; tác giả Lê Mỹ Dung (2010), nghiên cứu
“Thực trạng khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh lớp 3 hiện nay”, còn một số
tác giả khác cũng đã nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh.
Tóm lại, các công trình nghiên cứu về “tham vấn học đường” và “khó khăn tâm lý trong
hoạt động học tập” đã được khá nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu và công bố trong các hội thảo
khoa học hoặc đăng trên các tạp chí chuyên ngành, nhưng nghiên cứu về “khó khăn trong hoạt
động tham vấn học đường” thì người nghiên cứu trong quá trình tìm hiểu chưa tìm thấy công
thân mình, giúp họ đáp ứng nhu cầu và thực hiện mục tiêu trong điều kiện cho phép để trở nên
hạnh phúc và sống có ích hơn trong xã hội mà họ đang tồn tại. Perez J.F (1965) cho rằng, tham
vấn là quá trình tương tác giữa một bên là người làm công tác tham vấn được đào tạo, huấn luyện
có nhiệm vụ đưa ra sự giúp đỡ bằng sự giao tiếp nồng hậu, đức tính kiên trì, thái độ tôn trọng và
chân thành. Một bên là người được tham vấn tiếp nhận sự giúp đỡ của nhà tham vấn để trở nên
hạnh phúc hơn và sống có ích hơn.
Tương tự cách tiếp cận này còn có Richard Nelsson (1997) cho rằng mục tiêu của tham
vấn là hướng tới thay đổi cách thức cảm nhận, suy nghĩ và hành động của con người để giúp họ
tạo nên cuộc sống tốt đẹp hơn. Do đó, theo ông, tham vấn là một quá trình can thiệp giải quyết
vấn đề với một mối quan hệ, một quá trình tương tác đặc biệt giữa người làm tham vấn và thân
chủ. Ông cho rằng tham vấn có thể được sử dụng ở các cấp độ khác nhau: nó có thể là dạng hoạt
động mang tính chuyên sâu của các nhà tâm lý học, cán sự xã hội, nhưng nó cũng có thể là một
phần công việc của giáo viên, y tá hay điều dưỡng, các nhà tình nguyện viên.
Việt Nam hiện nay, tham vấn được đề cập khá nhiều trên các bài báo, các bài tham luận tại
các hội nghị, hội thảo và một số công trình sách dịch từ nước ngoài, các tài liệu tập huấn về tham
vấn, một số đề tài thạc sĩ tâm lý học và giáo trình giảng dạy về tham vấn tâm lý. Trong nỗ lực
nhằm phát triển hoạt động tham vấn trên cả bình diện lý luận và thực tiễn, các nhà khoa học đã
nghiên cứu và tranh luận rất nhiều về thuật ngữ tham vấn.
Sau đây là một số khái niệm về tham vấn đã được các tác giả Việt Nam đề cập đến và
được tác giả Huỳnh Mai Trang (2007) [62, tr 20] tổng hợp.
- Tham vấn là một mối quan hệ, một quá trình nhằm giúp đỡ thân chủ cải thiện cuộc sống
của họ bằng cách khai thác, nhận thức và thấu hiểu những suy nghĩ, cảm xúc và hành vi
của họ. Khái niệm này nhấn mạnh khía cạnh tự giải quyết vấn đề, tự thay đổi của thân chủ.
- Tham vấn là một tiến trình, trong đó, nhà tham vấn và thân chủ cùng tương tác, nhà tham
vấn bằng kiến thức, kỹ năng chuyên môn của mình giúp đối tượng phát huy, sử dụng tiềm
năng của họ để tự giải quyết vấn đề hiện tại cũng như trong tương lai của họ và kết quả là
tạo ra sự thay đổi tích cực ở thân chủ. Khái niệm này nhấn mạnh vai trò chuyên môn của
nhà tham vấn.
- Tham vấn là tiến trình tương tác giữa người làm tham vấn – người có chuyên môn và kỹ
năng tham vấn, có phẩm chất đạo đức nghề tham vấn và được pháp luật thừa nhận, với
cân bằng về tâm lý, khó khăn trong thích nghi, hòa nhập xã hội. Họ còn được gọi là thân
chủ hay khách hàng.
- Tham vấn có thể là một hoạt động chuyên môn, hoạt một dạng dịch vụ xã hội, hay mối
quan hệ trợ giúp được sử dụng bởi những người làm tham vấn chuyên nghiệp hay bán
chuyên nghiệp, được xem như những người làm công tác trợ giúp.
Người trợ giúp được chia làm ba kiểu tương ứng
- Người trợ giúp chuyên nghiệp (professional helper): là những người được đào tạo sâu và
chuyên biệt về những kiến thức, kỹ năng tâm lý, hành vi con người, kỹ năng giao tiếp và
giải quyết các vấn đề theo chuyên ngành của họ để có thể đáp ứng với đối tượng mà họ
giúp đỡ. Các ngành trợ giúp chuyên nghiệp phản ánh những mối quan hệ trợ giúp khác
nhau như: mối quan hệ thầy thuốc – bệnh nhân, nhà tham vấn – thân chủ,…. Hầu hết
những người giúp đỡ chuyên nghiệp điều có mối quan hệ trợ giúp chính thức.
- Người trợ giúp bán chuyên nghiệp (paraprofessional helper): là những người có công việc
liên quan đến lĩnh vực trợ giúp. Họ có thể được đào tạo, tập huấn ngắn hạn về các lĩnh vực
trợ giúp, hoặc có kinh nghiệm từ mối quan hệ trợ giúp. Ví dụ: quan hệ giữa cán bộ hòa
giải xã – người dân, giáo viên – học sinh, cha mẹ - con cái,…. Đây là những nhóm đối
tượng giúp đỡ thường xuyên của họ.
- Người trợ giúp không chuyên nghiệp (non-professional helper): là những người không qua
đào tạo, huấn luyện chính thức về các kỹ năng trợ giúp chuyên biệt. Sự trợ giúp của họ có
thể chỉ xảy ra nhất thời trong mối quan hệ tạm thời với đối tượng của họ. Ví dụ: nhân viên
bán hàng, tiếp tân, tiếp viên hàng không,… với khách hàng; các tình nguyện viên cộng
đồng giúp đở các đối tượng bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, nghiện ma túy;… hay bất cứ ai
có nhu cầu giúp đỡ người khác khi gặp khó khăn. Nhìn chung, người trợ giúp không
chuyên nghiệp thường có mối quan hệ trợ giúp không chình thức, kết cấu trợ giúp lỏng
lẻo, thời gian ngắn và hiệu quả giúp đỡ có giới hạn [12, tr 10].
1.2.2. Tham vấn và các khái niệm có liên quan
• Tham vấn và công tác xã hội
Tham vấn và công tác xã hội điều là những nghề nghiệp nhằm trợ giúp con người. Tham
vấn chủ yếu tập trung vào các vấn đề tâm lý của cá nhân, nhóm và gia đình. Còn phạm vi của
công tác xã hội rộng hơn, sự can thiệp của công tác xã hội bao hàm nhiều lĩnh vực khác nhau.
thuộc vào kỹ năng tương tác của nhà tham vấn đối với thân chủ, nhằm giúp họ tự nhận
thức, hiểu chính mình và hoàn cảnh của bản thân, từ đó chủ động tìm ra giải pháp phù hợp
để giải quyết vấn đề.
• Tham vấn và trị liệu tâm lý
Khi tìm hiểu về tham vấn (counseling) và trị liệu tâm lý (psychotherapy) chúng ta sẽ thấy
hiện nay có hai quan điểm khác nhau trong việc phân biệt hay thuật ngữ này.
Nhóm quam điểm thứ nhất cho rằng không có sự khác biệt rõ ràng giữa tham vấn và trị
liệu tâm lý. Trong nhóm quan điểm này có hai lập luận biểu hiện như sau:
- Lập luận thứ nhất cho rằng, tham vấn và trị liệu tâm lý là hoàn toàn giống nhau. Tiêu biểu
là Carl Roger (1952), C.B. Truax và R. Carkhuff (1967), C. H. Patterson (1986), G. Corey
(1991), điều cho rằng cả hai hoạt động này điều là quá trình tâm lý nhấn mạnh nhu cầu của
thân chủ, nhà tham vấn cùng sử dụng những kỹ năng giống nhau như lắng nghe tích cực,
thấu hiểu những điều thân chủ nói và thúc đẩy khả năng tự giúp, tự chịu trách nhiệm của
thân chủ [12, tr 17], [26, tr 464], [50, tr 365], [62, tr 23].
- Lập luận thứ hai cho rằng trị liệu tâm lý bao hàm cả tham vấn. Trị liệu tâm lý là một quá
trình can thiệp của nhà trị liệu đối với tình trạng sức khỏe tâm thần của thân chủ bằng việc
sử dụng liệu pháp tâm lý trong đó có tham vấn để điều trị những những rối nhiểu về cảm
xúc hay tâm thần. trị liệu tâm lý đi sâu hơn vào các vấn đề tình cảm, nhận thức, hành vi
hay toàn bộ nhân cách đồng thời cần phải phối hợp nhiều liệu pháp tâm lý khác một cách
có hệ thống để chữa trị, còn tham vấn thông thường chỉ dừng lại ở vấn đề bên ngoài. Do
đó, một nhà trị liệu tâm lý có thể là một nhà tham vấn, nhưng để một nhà tham vấn trở
thành một nhà trị liệu tâm lý thì cần phải có quá trình đào tạo sâu hơn về mặt chuyên môn
[12, tr 18], [37, tr 35], [50, tr 445], [62, tr 24].
Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng có khác biệt nhất định giữa tham vấn và trị liệu tâm lý.
Theo nhóm này, mặc dù cả tham vấn và trị liệu tâm lý điều có chung nền tảng lý thuyết,
nhưng khi ứng dụng: tham vấn tập trung vào giải quyết các vấn đề bức xúc hoặc ban khoăn của
thân chủ trong cuộc sống, trong sự phát triển nhân cách của họ như, các vấn đề về hôn nhân, gia
đình, giải quyết các xung đột, quản lý cơn giận, nâng cao lòng tự trọng, khủng hoảng lứa tuổi; trị
liệu tâm lý chú trọng đến việc thay đổi nhận thức, hành vi, tình cảm hay toàn bộ nhân cách của
thân chủ, hướng đến việc điều trị những bệnh lý cần can thiệp lâm sàng như ám sợ, hoang tưởng,
Trương Bích Nguyệt (2003), Trần Thị Hương (2006) định nghĩa tham vấn học đường là
tiến trình tương tác giữa nhà tham vấn và học sinh nhằm khơi dậy tiềm năng của các em, để họ có
đủ sức mạnh vượt qua những khủng hoảng của lứa tuổi và những khó khăn trong học tập cũng
như trong cuộc sống, để tự giải quyết các vấn đề của mình, ổn định học tập, phát huy nhân cách
đúng đắn [26], [50, tr 445], [62, tr 26].
Một số tác giả khác có cùng quan điểm cũng cho rằng, nhà tham vấn trong trường học
không phải là nhà giáo dục, không có nhiệm vụ giáo dục lại học sinh, họ không phải là những
nhà cố vấn, đưa ra những lời khuyên giúp các thầy cô giáo và nhà trường có những hình thức kỷ
luật học sinh khi các em phạm lỗi. Mà họ có mặt trong trường để nghe trẻ nói, giãi bày, giúp trẻ
tự chất vấn những khó khăn của mình theo cách mà các em tự tìm ra cách thay đổi hoàn cảnh,
thay đổi bản thân, tứ đó huy động năng lực vào việc học tập, vào những hoạt động tích cực [50, tr
365], [62, tr 26].
Theo quan niệm này, hoạt động tham vấn học đường chỉ diễn ra giữa nhà tham vấn và
thân chủ là những học sinh gặp các khó khăn trong hoạt động của các em. Như vậy, tham vấn học
đường chỉ là một hoạt động hẹp của hoạt động tham vấn.
Mặt khác, tham vấn học đường sẽ rất khó đạt hiệu quả cao nếu chỉ có sự tham gia của nhà
tham vấn và học sinh trong quá trình tham vấn. Bởi vì, mục tiêu lớn nhất trong công tác giáo dục
là hình thành và phát triển nhân cách một cách đúng đắn và toàn diện cho học sinh. Mà muốn đạt
được mục tiêu này, thì mọi hoạt động của nhà trường phải là một khối thống nhất từ việc dạy học
đến công tác giáo dục, tất cả sự tác động giáo dục phải luôn thống nhất giữa các thành viên tham
gia quá trình như: thầy cô, cha mẹ học sinh, các thành viên khác trong nhà trường và đội ngũ các
nhà quản lý giáo dục. Do đó, quan niệm thứ hai về tham vấn học đường xuất hiện.
• Quan niệm tham vấn học đường là hoạt động dành cho học sinh và tất cả những người
tham gia trong quá trình giáo dục.
Ed. Neukrug (Thế giới của nhà tham vấn, 2000), tham vấn học đường là “Quá trình cộng
tác liên quan đến một nhà tham vấn làm việc với một giáo viên, nhà quản lý, bậc phụ huynh hay
các chuyên gia khác để chia xẻ những quan tâm về đứa trẻ, trong nỗ lực phát hiện ra những cách
thức làm việc mới với đứa trẻ để có thể đạt đến trình độ thực của mình. Công tác tư vấn giúp các
nhà tham vấn học được nhiều kiến thức và kỹ năng hơn để tập trung vào các vấn đề của học sinh
và điều đó trợ giúp họ trong việc trở nên khách quan hơn trong khi tiếp xúc với những mối quan
đòi hỏi nhiều nỗ lực để khắc khục.
Từ định nghĩa của các từ điển, tác giả Nguyễn Thị Thiên Kim [30, tr 23] và Cao Xuân
Liễu [31, tr 21] đều có kết luận chung là khi nói đến “khó khăn” có nghĩa là nói đến những gì cản
trở, trở ngại, đòi hỏi nhiều nỗ lực để vượt qua.
Trong thực tiễn, khi tiến hành bất cứ một hoạt động nào con người điều gặp phải những
khó khăn, làm cho hoạt động bị chệch hướng, dẫn đến giảm đi hiệu quả mà con người mong
muốn, thậm chí không đạt được mục đích hoạt động. Những khó khăn này, được gọi chung là
những khó khăn trong quá trình hoạt động của con người, được tạo nên bởi các yếu tố mang tính
tiêu cực, bao gồm yếu khách quan (bên ngoài) và yếu tố chủ quan (bên trong).
Yếu tố khách quan, được hiểu là những điều kiện, phương tiện, môi trường hoạt động,….
Đây là những yếu tố có ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động của con người.
Những yếu tố chủ quan, chính là những yếu tố xuất phát từ bản thân của mỗi cá nhân khi
tham gia vào hoạt động như: nhận thức, thái độ, tình cảm, năng lực, kinh nghiệm, các thao tác kỹ
năng tiến hành hoạt động. Xét theo phương diện nguồn gốc xuất phát, các yếu tố bên trong có thể
chia làm hai loại: yếu tố sinh học và yếu tố tâm lý. Những khó khăn do yếu tố tâm lý tạo nên gọi
là những khó khăn tâm lý. Chính yếu tố bên trong này ảnh hưởng trực tiếp đến tiến trình và kết
quả hoạt động của con người.
Với quan điểm trên, cùng với các nghiên cứu của các tác giả đi trước [6], [17], [30], [31],
[38], [61], [68] khó khăn tâm lý được hiểu như sau: khó khăn tâm lý là những nét tâm lý cá nhân,
nảy sinh trong quá trình hoạt động của chủ thể, gây cản trở, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình và
hiệu quả hoạt động của chủ thể.
1.2.5. Khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn học đường
Công tác tham vấn học đường là một loại lao động trí óc, đòi hỏi người tham gia phải tập
trung làm việc với cường độ cao, có khả năng nắm bắt và đánh giá chính xác vấn đề của đối
tượng trong thời gian ngắn. Do đó, trong quá trình tham gia vào hoạt động này khi gặp những
khó khăn, đặc biệt là những khó khăn về mặt tâm lý, đòi hỏi người làm tham vấn phải tích cực,
chủ động huy động tối đa những phẩm chất và năng lực của cá nhân để khắc phụ nhằm đạt hiệu
quả cao trong công tác của mình.
Ngoài ra, người làm công tác tham vấn học đường để phát triển, xây dựng và hoàn thiện
bản thân họ cần phải trải nghiệm thực tiễn và học tập từ mọi nguồn có thể trong quá trình hoạt
vấn học đường ở Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng điều có cảm nhận hụt
hẫng, lo lắng.
Trong quá trình tham gia hoạt động nghề nghiệp, bên cạnh những nhà tham vấn có khả
năng thích ứng cao, hoàn thiện nghề nghiệp và đi vào ổn định trong công tác, thì còn không ít
người làm tham vấn gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm ra hướng giải quyết vấn đề một cách
khoa học và hiệu quả cao trong công tác. Thực tế cho thấy, hầu hết các nhà tham vấn học đường
trong nước hiện nay đang tự tìm ra cho mình một cách làm riêng trong công tác, chứ chưa áp
dụng các kỹ năng tham vấn đã được nghiên cứu và thực nghiệm một cách khoa học. Cho nên,
ngay cả những người được cho là nhà tham vấn tốt nhất trong nước hiện nay cũng chỉ là họ tự
học qua tài liệu, sách báo, các khóa tập huấn ngắn cộng với sự trải nghiệm thực tiễn nhiều và từ
đó rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm cho bản thân.
1.3.1. Người làm công tác tham vấn học đường
• Nhà tham vấn học đường
Trên thế giới, tại các nước có nền tham vấn học đường phát triển như Mỹ, Canađa,
Pháp,… yêu cầu một người làm công tác tham vấn học đường phải có trình độ tối thiểu là thạc sỹ
chuyên ngành tham vấn học đường và phải trải qua kỳ thi chứng chỉ hành nghề thì mới được
công nhận là nhà tham vấn học đường, đồng thời trong quá trình hoạt động phải không ngừng
hoàn thiện bản thân trong thực tế hành nghề [12], [26], [50, tr 365, 370], [62, tr 28].
Nhưng ở một số nước khác như: Nga, Bỉ,… ngoài đội ngũ chuyên ngành như nói trên,
người ta còn sử dụng đội ngũ giáo viên, đặc biệt là giáo viên và các hiệu trưởng đã về hưu để làm
cộng tác viên [50, tr 514], [62, tr 29].
Ở Việt Nam, từ khi các trường có quan tâm đến công tác tham vấn học đường, thì cách
làm của ban giám hiệu là sử dụng các giáo viên lớn tuổi, những người tốt nghiệp chuyên ngành
tâm lý học, giáo dục học và một số người đang làm việc như một người trợ giúp tâm lý, để giúp
đỡ các học sinh “có vấn đề” tại trường [50, tr 43]. Trong triển khai công tác tư vấn (tham vấn)
cho học sinh, sinh viên, Bộ Giáo dục và Đào tạo đề nghị bố trí giáo viên tâm lý, cán bộ Đoàn,
Đội hoặc mời chuyên gia theo định kỳ để thực hiện công tác này [62, tr 29].
Đối với việc giáo viên làm công tác tham vấn học đường có hai quan điểm trái chiều.
Nhóm ý kiến thứ nhất cho rằng, giáo viên làm công tác tham vấn học đường thì có rất nhiều lợi
ích, vì giáo viên, đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm là những người thường xuyên tiếp xúc trực tiếp,
thành phần tham gia nhưng tạm chia thành 3 nhóm:
- Nhóm thứ nhất, là những người được đào tạo chuyên ngành tham vấn tâm lý hay tham vấn
học đường từ nước ngoài về hành nghề - đây là nhóm được đào tạo chuẩn.
- Nhóm thứ hai, là những người được đào tạo về tâm lý học, giáo dục học, tâm lý giáo dục
và xã hội học chuyển sang làm công tác tham vấn học đường.
- Nhóm thứ ba, là giáo viên đang trực tiếp giảng dạy, giáo viên nghỉ hưu, và những người
làm công tác Đoàn, Đội kiêm nhiệm công tác tham vấn học đường.
• Chức năng của người làm công tác tham vấn học đường
Trong điều kiện của Việt Nam hiện tại, công tác tham vấn học đường chưa thật chuyên
nghiệp, nên chức năng của nhà tham vấn học đường không được quy định cụ thể trong các văn
bản của nhà nước. Do đó, người làm công tác tham vấn học đường chủ yếu là “tự thân vận động”
trong toàn bộ chương trình hoạt động của mình và đồng thời tự chịu trách nhiệm. Thậm chí, có
nhiều nhà tham vấn không biết rõ chức năng của mình, dẫn đến họ làm việc theo cảm tính
[12, tr 171], [26], [50], [62, tr 31].
Ở các nước có nền tham vấn học đường phát triển, chức năng của nhà tham vấn học đường
được quy định rất cụ thể, họ được tham gia vào hội đồng sư phạm với tư cách là cố vấn về các
vấn đề học hành và phát triển nhân cách của học sinh, tất nhiên, quyền quyết định cuối cùng là ở
giáo viên, của cha mẹ học sinh hay của hội đồng sư phạm. Một số trường học ở Mỹ và Canađa đã
đưa ra các chức năng của nhà tham vấn học đường như sau [26], [50, tr 365], [62, tr 32]:
- Lập kế hoạch cho chương trình hoạt động của năm học trên cơ sở tiến hành khảo sát nhu
cầu của học sinh và tập hợp các dữ liệu về học sinh.
- Tham vấn cho cá nhân hay nhóm học sinh “có vấn đề” liên quan đế học hành, sự phát triển
cá nhân cũng như định hướng nghề nghiệp cho các em.
- Tư vấn cho cha mẹ, giáo viên và những người có liên quan trong việc tìm ra biện pháp tốt
nhất để giáo dục con em và học sinh của mình.
- Liên kết với các bộ phận khác trong trường học cũng như các tổ chức bên ngoài trường
học nhằm phối hợp giải quyết các vấn đề của học sinh.
- Đánh giá học sinh và cùng với giáo viên đưa ra những quyết định liên quan đến việc học
tập và hành kiểm của học sinh.
- Phát triển năng lực nghề nghiệp của bản thân thông qua việc giám sát trong nhóm, tự tìm
động tham vấn là thành tố quan trọng của động cơ hoạt động, là nguồn gốc tính tích cực tham gia
hoạt động tham vấn, biểu hiện qua tính tự giác, thái độ nghiêm túc, luôn vượt lên mọi khó khăn
để giải quyết các nhiệm vụ trong công tác, qua đó nâng cao hiệu quả của hoạt động tham vấn mà
nhà tham vấn đang đảm nhiệm.
Trên cơ sở mối quan hệ giữa động cơ và nhu cầu như phân tích, thì việc không xác định
được động cơ tham gia hoạt động tham vấn, tức động cơ tham gia hoạt động tham vấn không rõ
ràng sẽ là một khó khăn tâm lý trong hoạt động tham vấn của người làm công tác tham vấn.
Nhận thức về đối tượng tham vấn: ở đây người nghiên cứu không xem xét nhận thức theo
hướng khả năng nhận thức nội dung công việc của nhà tham vấn, mà chỉ muốn nhấn mạnh đến
nhận thức của nhà tham vấn về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của đối tượng tham vấn trong mối
quan hệ tham vấn.
Nếu nhà tham vấn ý thức rõ về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của đối tượng tham vấn, thì
nhà tham vấn sẽ có mục tiêu rõ ràng, chính xác ngay từ lúc bắt đầu tiếp xúc đối tượng và chắc
chắn hiệu quả của quá trình tham vấn sẽ cao hơn và ngược lại, nhà tham vấn sẽ thiếu tâm thế
trong công tác dẫn đến làm việc kiểu đối phó, hiệu quả hoạt động thấp.
• Thái độ, tình cảm
Đề tài quan tâm tới thái độ, tình cảm của nhà tham vấn tham vấn đối với công tác của họ.
Trong quá trình tham gia hoạt động, người làm tham vấn có thái độ, tình cảm tích cực, luôn đặt
toàn bộ tâm trí cho công tác của mình, biết tìm những biện pháp tạo hứng thú cho công việc thì
hiệu quả của hoạt động sẽ rất cao, đồng thời nhà tham vấn có cơ hội hoàn thiện nghề nghiệp của
bản thân. Ngược lại, nhà tham vấn có thái độ, tình cảm tiêu cực trong hoạt động thì hiệu quả công
việc chắc chắn sẽ không cao mà đôi khi còn có những ảnh hưởng không tốt đến người được tham
vấn.
Do đó, có thể nói khó khăn tâm lý biểu hiện ở dạng thái độ, tình cảm là việc xuất hiện
những xúc cảm âm tính đối với hoạt động của nhà tham vấn như coi thường chính công việc của
mình, chán ghét, thờ ơ, lo lắng, sợ hãi, căng thẳng, chán nản khi gặp những vấn đề nảy sinh trong
hoạt động tham vấn.
• Hành vi
Hành vi là “bộ mặt” của đời sống tâm lý con người. Đây là dạng khó khăn tâm lý biểu
hiện cụ thể, dễ nhận thấy nhất trong quá trình hoạt động của con người. Những khó khăn tâm lý
hội hiện nay rất ít có thời gian để quan tâm đến con cái của họ, cho nên khi tiếp xúc với phụ hunh
nhà tham vấn khai thác được rất ít thông tin về các em. Thêm vào đó bản thân phụ huynh chưa ý
thức được tâm quan trọng của việc phải tiếp xúc và làm việc với nhà tham vấn khi họ nhận ra đó