1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADB
Ngân hàng phát triển Châu Á
AFD
Cơ quan phát triển Pháp
BOO
Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh
BOT
Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao
CBO
Tổ chức cộng đồng
CSHT
Cơ sở hạ tầng
DBFO
Thiết kế - Xây dựng - Cấp vốn - Kinh doanh
GTVT
Giao thông vận tải
NGO
Tổ chức phi Chính Phủ
HIFU
Quỹ đầu tư phát triển đô thị Thành phố Hồ Chí Minh
OBA
Hỗ trợ dựa vào kết quả hoạt động
OCR
Nguồn vốn thông thường
ODA
Hỗ trợ phát triển chính thức
Bảng 4. Dự báo cơ cấu vốn đầu tư trên địa bàn TP năm 2006 - 2010.................. 26
Bảng 5. Các dự án PPP đã thực hiện trên địa bàn thành phố............................... 28
Bảng 6. Các dự án có nhu cầu đầu tư trong thời gian tới..................................... 31
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1. Cấu trúc hợp đồng quản lý..................................................................... 12
Hình 2. Cấu trúc hợp đồng cho thuê................................................................... 13
Hình 3. Cấu trúc hợp đồng nhượng quyền ......................................................... 14
Hình 4. Cấu trúc hợp đồng BOT ....................................................................... 15
Hình 5. Cấu trúc hợp đồng liên doanh................................................................ 17
Hình 6. Cầu Phú Mỹ .......................................................................................... 33
Hình 7. Nhà máy nước Thủ Đức ........................................................................ 33
Đồ thị 1. Các cam kết đầu tư cho các dự án cơ sở hạ tầng có sự tham gia của khu vực tư
nhân ở các nước đang phát triển theo lĩnh vực, 1990-2005 ................................. 22 3
LỜI MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài:
Cũng như các nước đang phát triển khác, đầu tư công không những tạo động lực quan
trọng cho phát triển kinh tế Việt Nam mà còn tạo ra nền tảng kết cấu hạ tầng kinh tế cơ bản
để tạo điều kiện cho đầu tư tư nhân phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu của
quá trình phát triển, chính phủ lẫn chính quyền địa phương luôn đối mặt giữa nhu cầu đầu
tư và nguồn vốn ngân sách dành cho đầu tư. Mặt khác, Việt Nam đang đối mặt với tình
tác giả xem xét và đưa ra các đánh giá về lý luận lẫn thực tiễn khi áp dụng hình thức hợp
tác nhà nước tư nhân trên địa bàn TP.HCM. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những kiến nghị
góp phần áp dụng thành công hình thức này trong đầu tư cơ sở hạ tầng.
Hướng phát triển của đề tài
Phân tích các tác động kinh tế- xã hội cũng như tài chính của một số dự án PPP cụ thể ở
những lĩnh vực giao thông đô thị, nước sạch, xử lý rác thải…để có cách nhìn toàn diện về
những mặt được và chưa được khi áp dụng mô hình này. Từ đó, bài học kinh nghiệm ở
TP.HCM khi áp dụng PPP được chia sẻ để hỗ trợ cho các dự án PPP sau này được xúc
tiến và thực hiện tốt hơn trên các địa phương khác ở Việt Nam. 5
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ CÔNG VÀ HÌNH THỨC HỢP TÁC
NHÀ NƯỚC – TƯ NHÂN
Thu viện trợ không hoàn lại. 6
Đầu tư công vào cơ sở hạ tầng bao gồm đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật, và cơ sở hạ
tầng xã hội. Đối với những quốc gia đang phát triển, nguồn ngân sách có hạn, đầu tư công
ưu tiên vào đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật hơn là hạ tầng xã hội.
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật bao gồm:
Hệ thống đường giao thông đô thị đối nội và đối ngoại.
Các phương tiện giao thông vận tải hàng hoá và hành khách.
Hệ thống các công trình cấp nước đô thị.
Hệ thống thoát nước thải.
Hệ thống các công trình bưu chính, viễn thông.
Hệ thống các công trình kỹ thuật và bảo vệ môi trường.
Hệ thống kho tàng, bến cảng, sân bay.
Các cơ sở hạ tầng kỹ thuật khác.
Phần lớn các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật khi được đầu tư xây dựng đều nhằm mục
đích tạo động lực và nền tảng để phát triển các ngành trong nền kinh tế như đường xá, cầu
đường… và nâng cao đời sống sinh hoạt cho cộng đồng như hệ thống cấp, thoát nước…
Cơ sở hạ tầng xã hội bao gồm:
Các khu nhà ở.
Trụ sở các cơ quan hành chính sự nghiệp.
Các cơ sở giáo dục đào tạo.
Các công trình phục vụ hoạt động văn hoá, nghệ thuật, bảo tàng.
Các cơ sở y tế và vệ sinh môi trường.
Các khu công viên, vui chơi giải trí.
Cơ sở nghỉ ngơi, an dưỡng.
Các công trình thể dục thể thao.
Các công trình cơ sở hạ tầng xã hội khác.
qua chiến lược phát triển kinh tế của quốc gia và các chính sách đầu tư vào ngành mũi 8
nhọn được ưu tiên. Kinh nghiệm của các nước trên thế giới có thể thấy con đường tất yếu
dẫn đến tăng trưởng nhanh với tốc độ mong muốn là tăng cường đầu tư phát triển ưu tiên
vào cơ sở hạ tầng nhằm tạo ra sự phát triển về sau ở khu vực công nghiệp và dịch vụ.
Công bằng xã hội
Hoạt động đầu tư của khu vực Nhà nước tác động trực tiếp đến công bằng xã hội. Đó là
đầu tư xóa đói giảm nghèo, nâng cao hệ thống phúc lợi xã hội… Làm cho người nghèo
hưởng những lợi ích tốt nhất có thể, nâng cao mặt bằng chung xã hội, đẩy mạnh tiến bộ xã
hội thông qua các chương trình hành động quốc gia.
Tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật
Để thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa, cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật là
yếu tố quan trọng đặc biệt là những quốc gia đang phát triển. Đầu tư phát triển cơ sở hạ
tầng là điều kiện tiên quyết của sự phát triển và tăng cường khả năng công nghệ của đất
nước.
1.3. Nguồn huy động vốn cho đầu tư công ở những quốc gia đang phát triển
Để nhanh chóng hình thành cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, Chính phủ các nước đang
phát triển huy động tổng hợp các nguồn vốn của mọi thành phần kinh tế trong và ngoài
nước bao gồm:
Nguồn vốn ngân sách do Nhà nước đầu tư kể cả vốn của Trung ương và địa phương
cấp cho các công trình phúc lợi, văn hóa, giáo dục, y tế, và hạ tầng cơ sở khác (đã đề
cập ở mục 1.1.1). Nguồn vốn này trích ở thu nhập quốc dân hằng năm. Đối với nước
ta, nguồn vốn này còn rất hạn chế do tích lũy thấp.
Nguồn tài trợ của các nước và các tổ chức phi Chính phủ không hoàn lại như các công
trình cung cấp nước sạch, cơ sở y tế, trường học, công trình bảo vệ môi trường sinh
thái. Nguồn vốn này yêu cầu phải sử dụng đúng mục đích.
Nguồn vốn vay ưu đãi với lãi suất thấp của các tổ chức viện trợ phát triển chính thức
(ODA) để xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội.
phủ, bao gồm các bộ ngành, các chính quyền địa phương hoặc các doanh nghiệp Nhà
nước. Đối tác tư nhân có thể là đối tác trong nước hoặc đối tác nước ngoài, và có thể là
các doanh nghiệp hoặc các nhà đầu tư có chuyên môn về tài chính hoặc kỹ thuật liên quan
đến dự án. Mối quan hệ đối tác Nhà nước - Tư nhân cũng có thể bao gồm các tổ chức phi
Chính phủ (NGO) và/hoặc các tổ chức cộng đồng (CBO) đại diện cho những tổ chức và
cá nhân mà dự án có tác động trực tiếp. 10
Mối quan hệ đối tác Nhà nước - Tư nhân hiệu quả ghi nhận rằng khu vực Nhà nước và
khu vực tư nhân có những lợi thế tương đối nhất định so với khu vực còn lại khi thực hiện
những nhiệm vụ cụ thể. Đóng góp của Chính phủ cho mối quan hệ đối tác Nhà nước - Tư
nhân có thể dưới dạng vốn đầu tư, chuyển giao tài sản, hoặc các đóng góp hiện vật khác
hỗ trợ cho môi quan hệ đối tác này. Chính phủ cũng góp phần trong các yếu tố về trách
nhiệm xã hội, ý thức môi trường, kiến thức bản địa và khả năng huy động sự ủng hộ chính
trị. Vai trò của khu vực tư nhân trong mối quan hệ đối tác là sự sử dụng chuyên môn về
thương mại, quản lý, điều hành và sáng tạo của mình để vận hành hoạt động kinh doanh
một cách có hiệu quả. Tùy theo hình thức của hợp đồng, đối tác tư nhân cũng có thể góp
vốn đầu tư.
1.4.1.2. Khái niệm Sự tham gia của khu vực tư nhân (PSP) là một thuật ngữ thường
được sử dụng hoán đổi với thuật ngữ mối quan hệ đối tác Nhà nước - Tư nhân. Tuy nhiên,
các hợp đồng PSP hướng đến việc chuyển các nghĩa vụ sang cho các khu vực tư nhân hơn
là nhấn mạnh đến cơ hội thiết lập một mối quan hệ đối tác. Các kinh nghiệm về sự tham
gia của khu vực tư nhân đã được phân tích kỹ lưỡng và dẫn đến việc thiết lập nên một
hình thức giao dịch mới giữa khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân mà ngày nay nhiều
người biết đến dưới tên gọi mối quan hệ đối tác Nhà nước - Tư nhân (PPP).
1.4.1.3. Tư nhân hóa (Privatization) liên quan đến việc bán cổ phần hoặc quyền sở hữu
trong một công ty hoặc dịch vụ của doanh nghiệp do khu vực nhà nước sở hữu. Tư nhân
hóa là hoạt động phổ biến nhất và được chấp nhận rộng rãi trong các lĩnh vực theo truyền
thống không được coi là các dịch vụ công, chẳng hạn như lĩnh vực chế tạo và xây dựng.
thường sử dụng các thủ tục đấu thầu cạnh tranh để quyết định việc trao đổi hợp đồng dịch
vụ. Trong một hợp đồng dịch vụ, Chính phủ trả đối tác tư nhân một khoản chi phí định
trước cho dịch vụ, có thể dựa trên cơ sở phí một lần, trên cơ sở phí đơn vị dịch vụ hoặc
dựa trên cơ sở khác. Vì thế, lợi nhuận của nhà thầu sẽ tăng lên nếu nhà thầu có thể giảm
được chi phí điều hành mà vẫn đáp ứng được các yêu cầu về tiêu chuẩn dịch vụ.
1.4.2.2. Hợp đồng quản lý
Một hợp đồng quản lý mở rộng phạm vi ký kết bao gồm một phần hoặc toàn bộ hoạt động
quản lý và điều hành của một dịch vụ công (dịch vụ công ích, bệnh viện, quản lý cảng…).
Mặc dù nghĩa vụ cung cấp dịch vụ vẫn thuộc trách nhiệm của khu vực Nhà nước, hoạt
động quản lý kiểm soát và thẩm quyền xử lý hằng ngày được giao cho đối tác tư nhân 12
hoặc nhà thầu. Đối với hầu hết các trường hợp, đối tác tư nhân cung cấp vốn cho hoạt
động quản lý điều hành nhưng không cung cấp vốn đầu tư.
Nhà thầu tư nhân được trả một tỷ lệ được thỏa thuận trước cho chi phí lao động và các chi
phí điều hành khác. Để cung cấp động lực cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động, nhà thầu
được trả thêm một khoản cho việc đạt được những mục tiêu đã được thỏa thuận và quy
định cụ thể từ trước. Một cách khác, nhà thầu quản lý có thể được nhận một phần lợi
nhuận. Khu vực Nhà nước vẫn giữ nghĩa vụ cung cấp các khoản đầu tư chủ yếu, đặc biệt
những khoản đầu tư liên quan đến việc mở rộng và cải thiện hệ thống một cách bền vững.
Hợp đồng có thể quy định cụ thể các hoạt động riêng biệt mà khu vực tư nhân sẽ chị trách
nhiệm góp vốn thực hiện các hoạt động đó. Đối tác tư nhân sẽ liên hệ với các khách hàng
và Khu vực Nhà nước chịu trách nhiệm quy định biểu phí dịch vụ.
Hình 1: Cấu trúc hợp đồng quản lý 1.4.2.3. Hợp đồng giao thầu hoặc cho thuê
Theo một hợp đồng cho thuê, đối tác tư nhân chịu trách nhiệm về toàn bộ dịch vụ và thực
hiện các nghĩa vụ liên quan đến chất lượng và tiêu chuẩn của dịch vụ. Ngoại trừ các
thiết lập các tiêu chuẩn hoạt động và đảm bảo rằng người được nhượng quyền đáp ứng
được các tiêu chuẩn hoạt động đó. Điểm quan trọng là vai trò của khu vực Nhà nước đã
chuyển từ việc là một người cung cấp dịch vụ sang một người điều tiết và quản lý giá và
chất lượng dịch vụ.
Hình 3: Cấu trúc Hợp đồng nhượng quyền Người được nhượng quyền thu phí trực tiếp từ những người sử dụng hệ thống. Mức phí
thông thường được thiết lập trong hợp đồng nhượng quyền, trong đó cũng có những điều
khoản quy định mức phí này có thể được thay đổi như thế nào theo thời gian. Trong một
số trường hợp hạn hữu, Chính phủ có thể lựa chọn việc cung cấp những hỗ trợ tài chính
để giúp người được nhượng quyền có đủ vốn đầu tư. Người được nhượng quyền chịu
trách nhiệm đối với bất kì khoản đầu tư cần thiết nào để xây dựng, nâng cấp hoặc mở rộng
hệ thống và chịu trách nhiệm thu xếp vốn cho các khoản đầu tư có nguồn lực của mình và
từ các khoản phí do người sử dụng hệ thống chi trả. Người được nhượng quyền cũng chịu
trách nhiệm đối với vốn hoạt động của hệ thống. Một hợp đồng nhượng quyền thông
thường có giá trị từ 25 đến 30 năm để nhà điều hành có đủ thời gian thu hồi vốn đầu tư
và có được một khoản lợi nhuận hợp lý trong thời gian nhượng quyền. Cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền có thể đóng góp vào chi phí đầu tư vốn nếu cần thiết. Đây có thể là một
khoản “trợ cấp” đầu tư (khoản tài chính bù đắp) nhằm đảm bảo việc nhượng quyền có thể
tồn tại một cách thương mại. 15
1.4.2.5. Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao và các thỏa thuận tương tự
Hình 4: Cấu trúc hợp đồng BOT BOT và các thỏa thuận tương tự là một hình thức nhượng quyền được chuyên môn hóa
trong đó có một công ty tư nhân hoặc một công-xoóc-xi-um (Consortium) cung cấp vốn
17
một liên doanh, các đối tác Nhà nước và tư nhân có thể thành lập một công ty mới hoặc
thực hiện việc liên doanh sở hữu trong một công ty hiện có thông qua việc bán cổ phần
cho một hoặc một số nhà đầu tư tư nhân. Một yêu cầu chủ chốt cho cấu trúc này là có một
môi trường quản trị công ty tốt, đặc biệt khả năng của công ty trong việc duy trì độc lập
với Chính phủ. Điều này rất quan trọng bởi vì Chính phủ vừa là người sở hữu một phần
công ty, vừa là người quản lý Nhà nước và các quan chức có thể có xu hướng can thiệp
vào công việc kinh doanh của công ty để đạt được những mục đích chính trị. Tuy nhiên,
từ vị trí là một cổ đông, Chính phủ quan tâm đến lợi nhuận và sự bền vững của công ty và
có thể hành động để xoa dịu những cản trở chính trị. Đối tác tư nhân đảm nhiệm vai trò
điều hành và một ban giám đốc thường được xây dựng dựa trên tỷ lệ phần vốn góp hoặc
dựa trên năng lực và trình độ.
Trong cơ cấu liên doanh, cả đối tác Nhà nước và tư nhân phải sẵn sàng đầu tư vào công ty
và cùng chia sẻ những rủi ro nhất định.
1.4.2.7. Các thỏa thuận hỗn hợp
Các thỏa thuận hợp đồng chứa đựng những đặc điểm khác nhau của những loại hợp đồng
khác nhau cũng có thể được xây dựng. Được gọi là các “thỏa thuận hỗn hợp”, chúng kết
Hình 5 : Cấu trúc Hợp đồng liên doanh 19
Nhược điểm:
Các hợp đồng dịch vụ sẽ không phù hợp nếu mục tiêu chính là thu hút vốn đầu tư. Các
hợp đồng có thể nâng cao tính hiệu quả và vì thế giúp đem lại một lượng doanh thu nhất
định để sử dụng cho mục đích khác, nhưng nhà thầu không có nghĩa vụ cung cấp tài chính
cho dự án. Tính hiệu quả của nhà thầu có thể sẽ không đạt được nếu nguồn tài chính cho
dự án (từ Chính phủ hoặc nhà tài trợ) không thể huy động được. Khu vực Nhà nước vẫn
chịu trách nhiệm về tài sản và quy định biểu phí dịch vụ, cả hai vấn đề này đều có tính
nhạy cảm chính trị và là yếu tố then chốt để chống đỡ cho hệ thống.
1.4.3.2. Hợp đồng quản lý
Ưu điểm:
Ưu điểm chính của phương án này là có thể đạt được những kết quả hoạt động từ việc
quản lý của khu vực tư nhân mà không phải chuyển giao các tài sản cho khu vực tư nhân.
Xây dựng hợp đồng quản lý tương đối dễ dàng hơn so với các phương án khác và ít gây
tranh cãi hơn. Hợp đồng quản lý có chi phí tương đối thấp do các nhà điều hành cần ít
nhân viên hơn cho các dịch vụ công ích.
Nhược điểm:
Sự chia tách giữa một bên là nghĩa vụ đối với quản lý và dịch vụ với một bên là việc lập
các kế hoạch mở rộng và đầu tư vốn chứa đựng những rủi ro. Nhà thầu quản lý không có
thẩm quyền hoặc quyền tự chủ cần thiết (chẳng hạn như với lực lượng lao động) để đạt
được những thay đổi sâu sắc, có tính lâu dài
1.4.3.3. Hợp đồng giao thầu hoặc cho thuê
Ưu điểm: Hợp đồng được thực hiện dễ dàng trong việc đàm phán giữa hai đối tác, đối tác
tư nhân tự chủ trong quyết định tài chính.
Nhược điểm:
Vấn đề chủ chốt trong việc chuyển từ các hợp đồng dịch vụ và hợp đồng quản lý sang một
hợp đồng cho thuê là doanh thu của nhà đầu tư từ các khoản thanh toán của khách hàng và
vì thế vấn đề về các mức phí dịch vụ ngày càng trở nên nhạy cảm. Điều này có thể đòi hỏi