ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN XÃ HỘI HỌC
TRẦN THỊ THẮM KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH
VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN
CỦA PHỤ NỮ CÓ CHỒNG TRONG ĐỘ TUỔI SINH ĐẺ
(Nghiên cứu trường hợp tỉnh Cao Bằng) LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 603130
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trịnh Hòa Bình HÀ NỘI – 2010 MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Ý nghĩa của đề tài 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 4
5. Phương pháp nghiên cứu 4
6. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 8
7. Hạn chế của luận văn 8
8. Cấu trúc luận văn 9
PHẦN NỘI DUNG 10
Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
10
1.1. Cơ sở lý luận và cách tiếp cận 10
1.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 13
1.3. Các khái niệm công cụ 27
Bảng 2.3. Nguồn cung cấp thông tin về các chủ đề CSSKSS 33
Bảng 2.4. Tỷ lệ phụ nữ biết tên các BPTT 35
Bảng 2.5. Tỷ lệ phụ nữ sử dụng một trong các BPTT 37
Bảng 2.6. Tỷ lệ phụ nữ biết thời điểm nên áp dụng BPTT sau đẻ 39
Bảng 2.7. Thái độ của phụ nữ về tư vấn BPTT cho vị thành niên chưa kết hôn 41
Bảng 2.8. Thái độ của phụ nữ với con/cháu gái tuổi vị thành niên chưa kết hôn mang thai 42
Bảng 2.9. Tỷ lệ phụ nữ biết về số lần cần khám thai trong một thai kỳ 44
Bảng 2.10. Nơi người phụ nữ đã sinh con trong lần sinh con gần đây nhất và dự kiến nơi sẽ sinh
con lần tới 47
Bảng 2.11. Nhận thức của phụ nữ về thời điểm cho con bú sau khi sinh 49
Bảng 2.12. Nhận thức của phụ nữ về thời gian nên cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn 49
Bảng 2.13. Tỷ lệ phụ nữ biết về quyền của khách hàng 50
Bảng 3.1. Mối liên quan giữa tỷ lệ đối tượng đang sử dụng BPTT hiện đại với một số yếu tố 53
Bảng 3.2. Mối liên quan giữa tỷ lệ đối tượng biết cần khám thai ít nhất 3 lần với một số yếu tố 54
Bảng 3.3. Mối liên quan giữa tỷ lệ đối tượng sinh con có nhân viên y tế đỡ trong lần sinh con gần
nhất với một số yếu tố 55
Bảng 3.4. Tỷ lệ phụ nữ biết tên các BPTT và hiện đang sử dụng BPTT 56
Bảng 3.5. Nhận thức đúng về khám thai với tỷ lệ phụ nữ khám thai đủ 57
Bảng 3.6. Nhận thức đúng và thực hành tiêm vắc-xin phòng uốn ván trong lần mang thai đầu tiên
58 DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1. Tỷ lệ phụ nữ biết tên các BPTT 36
Biểu đồ 2.2. Tỷ lệ sử dụng BPTT của phụ nữ 38
Biểu đồ 2.3. Tỷ lệ quyết định sử dụng BPTT trong gia đình 40
Luong Thong
Vi Quang
Hong Viet
Binh Long
Ngu Lao
Phuc Hoa
Doai Khon
Quoc Dan
Ngoc Dong
Cao Chuong
Luu Ngoc
Duc Long
Cong Trung
Thang Loi
Viet Chu
Vinh Quy
Co Ngan
Duc Long
Le Loi
Van Trinh
Le Chung
Vinh Phong
Ly Bon
Bao Lam1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sức khỏe sinh sản là sự phát triển hài hòa của mỗi con người về thể lực,
này, tác giả chỉ đi sâu vào nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành về kế
hoạch hoá gia đình, nạo hút thai và làm mẹ an toàn của phụ nữ có chồng trong độ
tuổi sinh đẻ. Nghiên cứu được thực hiện tại tỉnh Cao Bằng, là tỉnh miền núi phía
Bắc, với điều kiện kinh tế, xã hội còn gặp nhiều khó khăn.
Vì những lý do trên, tác giả luận văn đã tiến hành thực hiện nghiên cứu đề
tài: “Kiến thức, thái độ, thực hành về chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ
có chồng trong độ tuổi sinh đẻ” (Qua nghiên cứu trường hợp tỉnh Cao Bằng).
Nguồn số liệu được sử dụng trong luận văn lấy từ số liệu gốc của cuộc
khảo sát “Đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành của ngƣời sử dụng các
dịch vụ bảo hiểm y tế, CSSKSS, phòng chống HIV/AIDS và các bệnh lây
truyền qua đƣờng tình dục tại Cao Bằng và Sơn La” thuộc dự án 3 năm “Cải
thiện các dịch vụ y tế tại tỉnh Cao Bằng và Sơn La” do Trung tâm Nghiên cứu
Dân số và Sức khỏe Nông thôn thực hiện năm 2007-2008, với sự hỗ trợ tài chính
của Tổ chức Deutsche Gesellschaft Technische Zusammenarbeit (GTZ) - Chính
phủ Đức. Tác giả luận văn đã trực tiếp tham gia thiết kế bộ công cụ nghiên cứu,
điều tra thực địa tại Cao Bằng, tham gia xử lý số liệu, viết báo cáo và được phép
của Ban quản lý dự án cho sử dụng bộ số liệu điều tra để thực hiện luận văn. 3
2. Ý nghĩa của đề tài
2.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài góp phần vào việc vận dụng các lý thuyết xã hội học trong việc
phân tích, làm rõ thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành và các nhân tố tác
động đến vấn đề CSSSKS của phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại một địa
bàn cụ thể.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn
Góp phần làm rõ thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của phụ nữ có
chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại tỉnh Cao Bằng về CSSKSS và phân tích một số
yếu tố liên quan.
4.4. Phạm vi khảo sát
Không gian: Địa bàn tỉnh Cao Bằng thuộc miền núi Đông Bắc, Việt Nam.
Thời gian: Năm 2007-2008
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Hồi cứu tƣ liệu
Hồi cứu tư liệu nhằm mục đích phân tích, đánh giá đối với các nghiên cứu
liên quan đến chủ đề của luận văn.
5.2. Phân tích số liệu định lƣợng thứ cấp
Tác giả sử dụng kết quả đánh giá ban đầu dự án Cải thiện các dịch vụ y tế
tại tỉnh Cao Bằng và Sơn La thực hiện năm 2007-2008. Mục tiêu của cuộc đánh
giá này là nhằm tìm hiểu kiến thức, thái độ và thực hành của người sử dụng các
dịch vụ bảo hiểm y tế, CSSKSS, phòng chống HIV/AIDS và các bệnh lây truyền
qua đường tình dục tại Cao Bằng và Sơn La. Đối tượng nghiên cứu bao gồm phụ
nữ, nam giới có chồng/vợ trong độ tuổi sinh đẻ, thanh thiếu niên nam nữ tuổi từ
15 đến 24 chưa lập gia đình, người cung cấp dịch vụ y tế. Tuy nhiên, tác giả luận
5
văn chỉ sử dụng nguồn số liệu về kiến thức, thái độ và thực hành về CSSKSS của
phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ để thực hiện luận văn.
Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu được mô tả như sau:
Cỡ mẫu: cỡ mẫu cho đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành về chăm sóc
sức khỏe sinh sản của phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ được tính theo công
thức sau:
n = Z
2
1-/2
pq
d
2
Tại mỗi huyện được lựa chọn, chọn 30 xã theo phương pháp ngẫu nhiên
hệ thống.
+ Lập danh sách của tất cả các xã trong tỉnh theo thứ tự từng huyện, bao
gồm các cột: số thứ tự, tên xã, dân số cộng dồn.
+ Xác định khoảng cách k bằng cách: chia tổng dân số tích lũy của các
huyện được chọn trong tỉnh cho 30.
k =
Dân số cộng dồn
30
+ Dùng bảng số ngẫu nhiên để chọn một số ngẫu nhiên có giá trị nằm
trong khoảng từ 1 đến k.
+ Xác định xã đầu tiên được chọn là xã mà dân số cộng dồn bằng hoặc lớn
hơn giá trị của số ngẫu nhiên vừa chọn.
+ Xã thứ 2 được chọn bằng cách: lấy số ngẫu nhiên cộng với khoảng cách
mẫu k, sau đó so với dân cộng dồn (xã thứ 2 là xã mà dân số cộng dồn của nó
bằng hoặc lớn hơn tổng số ngẫu nhiên cộng với k). Tiếp tục làm như vậy để chọn
tiếp các xã khác (số ngẫu nhiên cộng 2k, số ngẫu nhiên cộng 3k…) cho đến khi
chọn đủ 30 xã.
Vị trí các xã chọn để nghiên cứu, được tính theo công thức sau:
n
i
= số ngẫu nhiên + (i – 1)k (trong đó i từ 1 – 30)
Chọn thôn để phỏng vấn: Tại mỗi xã được chọn, lập danh sách tất cả các
thôn. Bốc thăm ngẫu nhiên lấy một thôn bất kỳ để tiến hành phỏng vấn. Việc
chọn thôn được tiến hành trước khi tiến hành phỏng vấn.
Chọn đối tượng nghiên cứu: Tại mỗi xã, chọn ngẫu nhiên một thôn điều
tra 10 đối tượng phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ (từ 15 đến 49 tuổi). Như
vậy, 30 xã có 300 đối tượng được chọn để phỏng vấn. Sử dụng danh sách hộ gia
6.1. Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về CSSKSS của phụ nữ có chồng
trong độ tuổi sinh đẻ tại Cao Bằng hiện nay như thế nào?
Những yếu tố về y tế, văn hóa và giáo dục tác động đến việc CSSKSS của
phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại Cao Bằng hiện nay như thế nào?
6.2. Giả thuyết nghiên cứu
Kiến thức, thái độ và thực hành về CSSKSS của phụ nữ có chồng trong độ
tuổi sinh đẻ tại Cao Bằng hiện nay còn hạn chế.
Một số các yếu tố về y tế, văn hóa và giáo dục có ảnh hưởng rõ rệt đến
vấn đề CSSKSS của phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại Cao Bằng hiện
nay.
7. Hạn chế của luận văn
Ý tưởng nội dung nghiên cứu của luận văn là xuất phát từ một cuộc khảo
sát về kiến thức, thái độ và thực hành của người sử dụng các dịch vụ bảo hiểm y
tế, dịch vụ CSSKSS, phòng chống HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường
tình dục tại Cao Bằng và Sơn La. Bộ phiếu điều tra được thiết kế chủ yếu phục
vụ cho cuộc kháo sát. Do đó, tác giả không chủ động được trong việc phân tích
kết quả, phải phụ thuộc nhiều vào bộ số liệu đã có. Tuy nhiên, tác giả đã cố gắng
khai thác những thông tin định tính để khắc phục những hạn chế nói trên.
9
8. Cấu trúc luận văn
Luận văn bao gồm ba phần chính, mỗi phần bao gồm các chương, mục
sau:
Phần mở đầu: giới thiệu một số thông tin cơ bản của luận văn bao gồm lý
do chọn đề tài, ý nghĩa đề tài, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng,
khách thể và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu
và giả thuyết nghiên cứu.
Phần nội dung chính: bao gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và cách tiếp cận. Nội dung của chương nhằm làm
vạch ra những quy luật khách quan chi phối đến sự vận động và phát triển đó.
Như vậy, khi nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành về CSSKSS của phụ nữ,
chúng ta không chỉ dừng lại ở các hiện tượng bên ngoài mà cần nhận thức được
bản chất bên trong của vấn đề.
Bên cạnh đó, khi nghiên cứu cũng cần đặt vấn đề CSSKSS của nhóm xã
hội này trong một bối cảnh, thời điểm nhất định. Bởi lẽ, hoàn cảnh, điều kiện có
tác động chi phối đến hành động của con người, ví dụ khả năng kinh tế đã hạn
chế các cá nhân trong việc tiếp cận với các dịch vụ có chất lượng với chi phí cao.
Hoặc, điều kiện về địa lý, khoảng cách cũng gây trở ngại cho người dân đến với
các cơ sở y tế thường được đặt ở các trung tâm.
1.1.2. Lý thuyết tiếp cận
Lý thuyết chức năng
Lý thuyết chức năng là một lý thuyết xã hội quan trọng, phạm vi bao trùm
rộng, mang tính vĩ mô. Song ở đây, với phạm vi của đề tài nghiên cứu, chúng tôi
chỉ sử dụng một phần nhỏ trong quan điểm về lý thuyết chức năng của Merton.
Merton cho rằng cấu trúc xã hội là tập hợp các quan hệ xã hội có tổ chức,
trong đó các thành viên của xã hội hay nhóm có mối liên quan đa dạng và ông
11
cho rằng phép phân tích chức năng cấu trúc tập trung vào các nhóm, các tổ chức
xã hội, các thể chế và các nền văn hóa. Bất kỳ một đối tượng nào có thể áp dụng
phép phân tích chức năng cấu trúc phải thể hiện một hạng mục đã chuẩn mực hóa
(nghĩa là, đã định khuôn mẫu và tính lặp lại nhiều lần).
Xét về vấn đề được đề cập đến trong luận văn, gia đình được xem xét với
tư cách một thiết chế xã hội và đảm bảo rất nhiều chức năng, phân thành các
chức năng sản xuất và các chức năng tái sản xuất. Nếu như đối với chức năng sản
xuất, người đàn ông trong gia đình giữ vai trò chủ đạo, thì người phụ nữ lại là
nhân vật chính đảm bảo chức năng tái sản xuất của gia đình. Thực hiện vấn đề
CSSKSS chính là họ đang đảm bảo chức năng tái sản xuất của gia đình.
Bên cạnh đó, quá trình tái sản xuất được xem như sự sắp đặt hài hòa
người phụ nữ cũng thay đổi và kéo theo địa vị của họ cũng đã có những biến
chuyển rất tích cực. Trong quá trình ra quyết định liên quan đến gia đình của
mình, tiếng nói của họ có trọng lượng hơn, có ảnh hưởng hơn đối với đời sống
gia đình. Cụ thể là họ có quyền hơn trong việc lựa chọn cách chăm sóc sức khỏe,
sinh con hay áp dụng các BPTT Đây là một biến chuyển tích cực, bởi lẽ việc
CSSKSS luôn gắn liền với người phụ nữ.
Vận dụng lý thuyết về vai trò xã hội trong đề tài nghiên cứu, chúng tôi
muốn nhấn mạnh sự biến đổi vai trò người phụ nữ trong việc CSSKSS trong giai
đoạn hiện nay trước những tác động của các nhân tố ảnh hưởng.
Lý thuyết hành động xã hội
Đây là một lý thuyết xã hội học được vận dụng khá phổ biến trong các
nghiên cứu liên quan đến các hành vi của con người/nhóm xã hội nhất định. Nói
đến hành động xã hội là nói đến động cơ, điều kiện và phương tiện để thực hiện
các mục đích đã định. Các nhà xã hội học là chủ thuyết hành động xã hội cho
rằng các hành vi, hoạt động của con người đều diễn ra trong một bối cảnh xã hội
nhất định. Đó là những hành vi có mục đích, có đối tưọng và chịu tác động bởi
các bối cảnh xã hội xung quanh.
Trong đề tài này, lý thuyết hành động xã hội giúp cho việc phân tích và lý
giải các hành vi CSSKSS của nhóm phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ và các
13
yếu tố tác động đến như văn hoá, xã hội, giáo dục, không gian Bên cạnh đó, lý
thuyết này còn góp phần lý giải mối quan hệ giữa việc thực hành việc CSSKSS
với thái độ và kiến thức của nhóm đối tượng được đề cập trong nghiên cứu này.
1.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.2.1. Điều kiện kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu
Cao Bằng là tỉnh miền núi nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam. Phía Bắc và
Đông Bắc giáp với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), với đường biên giới dài 311
km. Phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang. Phía Nam giáp tỉnh Bắc Kạn
và Lạng Sơn [23].
vậy, tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi chiếm một tỷ lệ không nhỏ.
Sức khỏe sinh sản là mối quan tâm của cả cuộc đời người phụ nữ bởi sự
liên quan và dễ đưa đến những nguy cơ rủi ro về sức khỏe từ tình dục và sinh
sản. Phần lớn gánh nặng sức khỏe của phụ nữ đều liên quan tới tình dục và sinh
sản, đặc biệt là đối với phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, tỷ lệ này là 40% ở vùng
Châu Phi cận Sahara và hơn 20% ở các nước đang phát triển [29]. Những điều
kiện liên quan đến sức khỏe sinh sản chiếm một nửa trong số 10 nguyên nhân
hàng đầu gây ra gánh nặng bệnh tật cho phụ nữ ở tuổi sinh đẻ. Trong nhiều năm
qua, việc quan tâm đến sức khỏe người phụ nữ được đưa lên hàng đầu trong
nhiều diễn đàn quốc tế và quốc gia. Nhiều hội nghị của Liên Hiệp Quốc kêu gọi
bình đẳng và tạo nhiều cơ hội hơn cho phụ nữ, nhiều chính phủ công nhận sự tiến
bộ cho phụ nữ là chìa khóa để đạt được các mục tiêu về sức khỏe và phát triển
của xã hội [35], bởi vì phụ nữ là nguồn trực tiếp tái sản xuất ra con người, nguồn
nhân lực cho tương lai của bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới [31].
Nhưng hiện nay, chúng ta vẫn chưa thực sự quan tâm đúng mức đến
CSSKSS để người phụ nữ thực hiện chức năng sinh sản một cách an toàn. Hàng
năm trên thế giới có khoảng gần 580.000 phụ nữ tử vong có liên quan đến thai
15
sản. Ước tính cứ một phút qua đi lại có một bà mẹ chết do hậu quả hoặc những
biến chứng do thai nghén hoặc sinh đẻ. Trong số họ, phần lớn là những người
còn trẻ hoặc mới bắt đầu làm mẹ. Không những thế, cứ 1 bà mẹ tử vong do thai
sản thì có khoảng 100 bà mẹ khác bị đau yếu, mất sức lao động hoặc bị tật
nguyền, bị những tổn thương sinh lý do hậu quả của các biến chứng thai sản [1].
Tại Việt Nam, theo ước tính, mỗi năm vẫn có khoảng 1000 bà mẹ chết do
các nguyên nhân kể trên và như vậy mỗi ngày trên cả nước có tới 3 phụ nữ chết
có liên quan đến thai sản [2]. Những biến chứng của quá trình mang thai và sinh
con là nguyên nhân hàng đầu dẫn tới tử vong và thương tật cho phụ nữ ở độ tuổi
15-49 tại hầu hết các nước đang phát triển, chăm sóc tốt hơn trong khi sinh con
và cơ hội tiếp cận nhiều hơn tới dịch vụ đó có khả năng làm giảm tử vong sản
không an toàn, vì vậy làm giảm các nguy cơ biến chứng của phá thai. Bên cạnh
đó KHHGĐ còn giúp cho phụ nữ có một sức khoẻ tình dục lành mạnh, an toàn.
Việc thực hiện KHHGĐ còn rất khác nhau theo từng vùng địa lý và mỗi
quốc gia. Theo điều tra Dân số học 1995 – 2000 tại Mêhicô có 67% số cặp vợ
chồng đang thực hiện KHHGĐ, ở Kênya là 39%, Pakixtan chỉ có 18% [50].
Tại Maldives, tỷ lệ sử dụng BPTT của các cặp vợ chồng tuổi 15-20 là
30%. Ở Ugana, việc áp dụng các BPTT của phụ nữ mới kết hôn là 23%. Ở Ghi-
nê, 72% phụ nữ biết các BPTT trong đó BPTT hiện đại 71% nhưng chỉ có 8% sử
dụng, trong đó BPTT hiện đại là l5% [48]. Qua cuộc điều tra Nhân khẩu học và
Sức khoẻ ở Kazakhstan cho thấy 53% phụ nữ đang áp dụng một BPTT hiện đại,
trong đó vòng tránh thai được sử dụng nhiều nhất (42%) [39].
Ở Ấn Độ, 48% phụ nữ hiện đang có chồng sử dụng một BPTT bất kỳ,
trong đó đình sản nữ là phổ biến nhất (34%) [42].
Tại Thổ Nhĩ Kỳ, phần lớn phụ nữ và nam giới đã có gia đình đều hiểu biết
về KHHGĐ, các BPTT phổ biến là thuốc viên tránh thai, đặt vòng và các BPTT
truyền thống. Có 64% phụ nữ có chồng hiện đang áp dụng các BPTT, đặt vòng
chiếm 21%, 8% phụ nữ và 11% nam giới có sử dụng bao cao su, 24% phụ nữ sử
dụng BPTT truyền thống [40].
17
Sự khác nhau trong công tác KHHGĐ ở mỗi quốc gia còn phụ thuộc vào
nhiều yếu tố như: phong tục, tập quán, tôn giáo…, tại các nước Châu Phi cận
Sahara chỉ có 10% phụ nữ sử dụng BPTT, tại Bangladesh 63% phụ nữ chưa từng
sử dụng một BPTT hiện đại nào bởi nhiều lý do như e sợ tác dụng phụ của
BPTT, gia đình chồng muốn có thêm con [31],[47]. Nhưng nguyên nhân chính
của trở ngại sử dụng BPTT là sự thiếu hiểu biết về các BPTT và khả năng tiếp
cận dịch vụ CSSKSS hạn chế, trong khi khả năng tiếp cận BPTT có thể đóng góp
tới 40% kết quả giảm sinh toàn cầu [48].
1.2.3.2. Nạo hút thai
Phá thai là một nguyên nhân gây tử vong mẹ quan trọng do nạo hút thai
Dương, 10 ở Nga, và 4 ở Châu Âu [48]. Khi người phụ nữ phá thai là họ phải đối
mặt với rất nhiều tai biến, trong đó có những tai biến có thể đe doạ đến tính mạng
và ảnh hưởng tới cuộc sống của họ. Hơn nữa theo ước tính của Tổ chức Y tế thế
giới, cứ một phụ nữ chết do nạo hút thai không an toàn thì có 30 người khác bị
các vấn đề lâu dài về sức khoẻ như vô sinh hay tổn thương cơ quan sinh sản [49].
Mặc dù vậy, các tai biến và biến chứng liên quan đến thai nghén vẫn có
thể phòng tránh được nếu như có sự quản lý và chăm sóc thai nghén đúng đắn,
được tiếp cận các dịch vụ nạo hút thai an toàn và giảm nhu cầu phá thai thông
qua các hoạt động của chương trình KHHGĐ [35].
1.2.3.3. Làm mẹ an toàn
Vấn đề làm mẹ an toàn đã được các nhà hoạch định chính sách và chuyên
môn quan tâm và đề xuất nhiều giải pháp từ thập kỷ trước, nhưng tỷ lệ tử vong
mẹ vẫn giảm chưa nhiều. Thuật ngữ Làm mẹ an toàn được ra đời vào năm 1987
tại Nairobi (Kenya) do tầm quan trọng về sức khoẻ của người mẹ bởi vì nó liên
quan đến tử vong và bệnh tật của người mẹ. Mục tiêu của làm mẹ an toàn là làm
giảm tỷ lệ tử vong và bệnh tật của bà mẹ và trẻ sơ sinh. Sáng kiến làm mẹ an toàn
đã được hơn 100 quốc gia và các tổ chức quốc tế chọn làm chương trình hành
động [15].