BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI TRẦN THỊ LIÊN NHI KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CHĂM SÓC SỨC KHỎE BÀ MẸ -
TRẺ EM, KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH CỦA PHỤ NỮ CÓ CON
DƯỚI 5 TUỔI TẠI HAI NHÀ MÁY TỈNH THANH HÓA KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ ĐA KHOA
KHÓA 2005 - 2011 Người hướng dẫn:
ThS. TRẦN THỊ NGA
HÀ NỘI - 2011 LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Ban Giám Hiệu,
phòng đào tạo Đại học trường Đại học Y Hà Nội, thư viện trường Đại học Y
Hà Nội cùng toàn thể các thầy cô của Bộ môn Tổ chức và quản lý y tế, viện
Đào tạo y học dự phòng và y tế cộng đồng đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ
Phòng đo tạo trờng Đại học Y H Nội.
Khoa Y Tế Cộng Cộng trờng Đại học Y H Nội.
Bộ môn Tổ chức v Quản lý y tế trờng Đại học Y H Nội.
Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp
Tội xin cam đoan khóa luận ny do tôi thực hiện. Các kết quả, số liệu
trong khóa luận đều có thật v cha đợc đăng tải trên ti liệu khoa học no.
Hà Nội, ngày tháng năm 2011
Sinh viên
Trần Thị Liên Nhi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương I:
TỔNG QUAN 3
I. Chăm sóc sức khỏe bà mẹ -trẻ em: 3
1.Chăm sóc sức khỏe bà mẹ 3
1.1. Nội dung chăm sóc sức khỏe bà mẹ: 3
1.2. Thực trạng CSSKBM trên thế giới và ở Việt Nam 4
3.2. Kiến thức và thực hành CSSK phụ nữ mang thai, sinh đẻ. 22
3.3. Kiến thức và thực hành CSSK trẻ em dưới 5 tuổi 25
3.4. Kiến thức và thực hành về KHHGĐ 30
Chương IV:
BÀN LUẬN 33
4.1.Kiến thức và thực hành CSSK phụ nữ có thai và khi sinh. 33
4.2. Kiến thức và thực hành CSSKTE dưới 5 tuổi 37
4.3. Kiến thức và thực hành về KHHGĐ 42
KẾT LUẬN 45
KIẾN NGHỊ 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
A.Tài liệu trong nước 48
B.Tài liệu tham khảo nước ngoài 51
PHỤ LỤC
VIẾT TẮT
BPTT
CPR
CSSK
CSSKBM-TE
CSSKBĐ
GDSK
Maternal mortality rate
Sức khỏe sinh sản
United nation children’s fund
United nation population fund
World health organization
TÊN BẢNG
Bảng 1.2. Các thành tựu trong công tác CSSKBMTE tỉnh Thanh hóa
Bảng 1.1. Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai qua các năm.
Bảng 3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.2. Kiến thức của bà mẹ về chăm sóc để thai nhi khỏe mạnh
Bảng 3.3. Thực hành chăm sóc sức khỏe bà mẹ trước sinh
Bảng 3.4. Thực hành chăm sóc khi sinh của các bà mẹ có con ≤ 5 tuổi.
Bảng 3.5. Kiến thức của bà mẹ về chăm sóc sau sinh
Bả
ng 3.6. Kiến thức của bà mẹ về phòng tiêu chảy cho trẻ
Bảng 3.7. Kiến thức của bà mẹ để chăm sóc trẻ khỏe mạnh
Bảng 3.8. Kiến thức của bà mẹ về thành phần thức ăn khi ăn sam.
Bảng 3.9. Thực hành chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi của các bà mẹ.
Bảng 3.10. Xử trí khi trẻ bị sốt
Bảng 3.11. Nơi đưa trẻ đến chữa bệnh khi trẻ
bị ốm
Bảng 3.12. Tỷ lệ các nguồn cung cấp thông tin về KHHGĐ
Bảng 3.13.Tỷ lệ bà mẹ biết về các BPTT
Bảng 3.14. Tỷ lệ sử dụng các BPTT của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi
sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) đã được tuyên bố trong hội nghị Alma-Ata
năm 1978
[48]. KHHGĐ làm giảm số lượng con, giãn khoảng cách sinh con,
giảm kích thước của mỗi gia đình sẽ giúp các thành viên trong gia đình, đặc
biệt là người mẹ có thể chăm sóc đứa trẻ tốt hơn, cũng như đảm bảo được
sức khỏe của chính mình. Tuy nhiên, tại Việt Nam mặc dù tỷ lệ sử dụng
BPTT đã tăng nhưng vẫn còn khoảng 20% các cặp vợ chồng không sử dụng
các BPTT (nă
m 2008) do tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc SKSS- KHHGĐ
vẫn còn gặp nhiều khó khăn vì giá thành dịch vụ cao, xa các trung tâm y tế
2 hay sự hạn chế về trình độ của cán bộ y tế cũng như các biện pháp, công tác
tuyên truyền đến người dân
[38] [40].
Thanh Hóa là một tỉnh đang phát triển với nhiều nhà máy, khu công
nghiệp nên thu hút rất nhiều lao động tại đây và chủ yếu họ đang ở độ tuổi
lao động và còn trẻ, chiếm khoảng 89%
[23]. Theo báo cáo của sở Y tế
Thanh Hóa năm 2008 thì tỷ lệ tử vong của trẻ dưới 5 tuổi là 0,25%, tỷ lệ trẻ
suy dinh dưỡng của tỉnh nằm trong 10 tỉnh cao nhất cả nước và tỷ lệ sinh con
thứ 3 trở lên còn cao (9,6%)
[15]. Vì vậy, để cung cấp thông tin cho các nhà
quản lý trong chăm sóc SKBM-TE cho nữ công nhân làm việc trong các nhà
máy/ khu công nghiệp được tốt hơn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
Kiến thức, thực hành về chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em-kế hoạch hóa
gia đình của phụ nữ có con dưới 5 tuổi tại hai nhà máy tỉnh Thanh hóa.
Mục tiêu:
1. Mô tả kiến thức, thực hành về CSSKBM-TE của phụ nữ có con dưới
chế độ ăn, cân bằng lối sống, phát hiện các yếu tố nguy cơ có thể ảnh hưởng
tới s
ự mang thai sau này, quan trọng nhất là bổ sung acid folic và cuối cùng
là lên kế hoạch có thai
[4].
- Chăm sóc trước sinh: thời kỳ này, bà mẹ cần được khám thai ít nhất 3
lần vào 3 quí của thai kỳ, được tiêm vắc xin phòng uốn ván, uống bổ sung
viên sắt phòng thiếu máu
[4].
Việc khám và quản lý thai nghén là rất cần thiết để phát hiện kịp thời
các nguy cơ như thể trạng mẹ không đảm bảo, các bệnh lý của người mẹ có
sẵn cũng như mới xuất hiện do thai nghén lần này như thiếu máu, nhiễm độc
thai nghén.
4 Ngoài những lần khám thai theo quy định, các bà mẹ mang thai cần đi
khám ngay khi có những dấu hiệu bất thường như đau đầu dữ dội; nhìn mờ;
rối loạn thị lực; phù mặt, tay chân; co giật; thai cử động không bình thường;
ra máu âm đạo; sốt cao; đau bụng…
Về chề độ lao động, sinh hoạt, dinh dưỡng, bà mẹ cần được: Ăn tăng cả
về lượng và chất, làm việc theo khả nă
ng, xen kẽ nghỉ ngơi, tránh làm việc
nặng, nghỉ ngơi hoàn toàn trong tháng cuối
[4].
- Chăm sóc trong quá trình sinh đẻ: một cuộc cuộc chuyển dạ bình
thường chỉ kéo dài trong 24 giờ nhưng tỷ lệ tử vong lại cao nhất trong giai
đoạn này do các tai biến sản khoa như băng huyết; nhiễm trùng, đặc biệt
nguy hiểm là uốn ván, nhiễm trùng nước ối; vỡ tử cung; sản giật…Vì vậy,
cuộc đẻ cần được thực hiện ở cơ sở y tế có nhân viên y tế có chuyên môn
sống
[45]. Nguyên nhân tử vong bà mẹ liên quan đến các tai biến sản khoa
như chảy máu, nhiễm trùng, vỡ tử cung, chấn thương, nạo phá thai không an
toàn…
Việc CSSKBM trong quá trình mang thai, nhất là khi sinh vẫn còn là
một thách thức của các nước trong khu vực này. Ở Đông Timor chỉ 8- 9% số
bà mẹ khi sinh có sự chăm sóc của các cán bộ y tế, tỷ lệ này có cao hơn ở các
nước như Nepan, Bangladesh, Bhutan, Ấn Độ (13%, 21,6%, 23,7%, 42,3%)
nhưng vẫn còn dưới các mục tiêu của Millenium Development Goal 5
(MDG5) rất nhiều. Do t
ỷ lệ người dân ở khu vực này sống ở các vùng nông
thôn còn cao hoặc dù sống ở các thành thị nhưng mức sống của họ rất thấp
nên việc nhận thức của họ còn kém, thậm chí tại một số quốc gia người ta
còn cho rằng việc mang thai là bẩn thỉu, không trong sạch
. Thực hành CSSK
của gia đình và cộng đồng về chăm sóc thai sản, trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ cũng
như hành vi tìm đến cơ sở y tế khi ốm không phải là sự lựa chọn tối ưu của
người dân ở nhiều nước
[45]. Ngoài ra các dịch vụ chăm sóc thai sản khác
như tiêm uốn ván trước sinh, khám thai định kỳ, chăm sóc sau sinh cũng
chưa được chú trọng. Ở Ấn độ, chỉ 1/3 số bà mẹ có ít nhất 1 lần khám thai, ở
Myanmar còn khoảng 15% số bà mẹ không tiêm uốn ván trước sinh, ở
Bangladed chỉ 18% bà mẹ nhận được sự chăm sóc sau khi sinh từ các cán bộ
y tế trong 42 ngày đầu
[45].
6 Một nguyên nhân nữa góp phần vào tử vong của mẹ trên thế giới là tình
trạng phá thai không an toàn (chiếm 13%) mà cách đơn giản nhất để hạ thấp
[11]. Lý do chủ yếu
mà người mẹ đã không đi khám thai khi mang thai là thiếu kiến thức về tầm
quan trọng của việc khám thai (17,2%) và cho rằng khám thai là không cần
thiết (40,6%).Tỷ lệ khám thai đủ của người mẹ và tiêm phòng uốn ván đủ ở
7 cả hai huyện chưa cao nhưng có sự chênh lệch lớn giữa huyện ở miền núi và
huyện ở đồng bằng
[11].
Ngoài ra, một vấn đề rất cấp bách liên quan đến sức khỏe bà mẹ nói
chung và SKSS nói riêng là sự tăng lên đến mức báo động tình trạng phá thai
của giới trẻ. Việt Nam có tỷ lệ phá thai cao, trong đó 20% ở độ tuổi vị thành
niên. Con số này còn có thể cao hơn nữa và chưa được tính đầy đủ tại các cơ
sở phá thai tư nhân. Theo cuộc điều tra đánh giá về giới trẻ (SAVY2) năm
2010 cho thấy kho
ảng 7,5% trẻ vị thành niên có quan hệ tình dục trước hôn
nhân và hoàn toàn thiếu các kiến thức về giới tính và tình dục dẫn đến tỷ lệ
nạo phá thai cao
[31][38].
Như vậy, trong công tác CSSKBM các khó khăn liên quan rất nhiều đến
nhận thức và thực hành CSSKBM.
1.3. Mục tiêu CSSKBM đến năm 2015
Theo MDG5: cải thiện sức khỏe bà mẹ bao gồm 2 mục tiêu chính:
- Giảm 3/4 tỷ lệ tử vong của bà mẹ từ năm 1990 đến 2015.
- Đạt tất cả mọi người đều được tiếp cận với chăm sóc sức khỏe sinh
sản vào năm 2015
2. Chăm sóc sức khỏe trẻ em:
2.1. Nội dung chăm sóc sức khỏe trẻ em dưới 5 tuổi
2.2. Thực trạng CSSKTE dưới 5 tuổi trên thế giới và Việt Nam
2.2.1. Trên thế giới
:
Theo thống kê của UNICEF năm 2010, số tử vong trẻ em dưới 5 tuổi
trên thế giới đã giảm một cách đáng kể từ 12,5 triệu năm 1990 xuống còn
khoảng 8,8 triệu năm 2008, trong đó, các nước có thu nhập thấp như Việt
Nam, Bangladesh đã hạ thấp được tỷ lệ tử vong tương ứng từ 56/ 1000 trẻ đẻ
ra sống xuống còn 14 và 151/ 1000 trẻ đẻ ra sống xuống 61
[39]. Tuy nhiên,
cứ 1 phút lại có 21 trẻ dưới 5 tuổi tử vong vì những nguyên nhân có phòng
tránh được. Hơn 70% trong số 11 triệu trẻ tử vong hàng năm vì các nguyên
nhân: tiêu chảy, sốt rét, nhiễm trùng sơ sinh, viêm phổi, sinh non và thiếu
oxy khi mới ra đời
. Theo WHO, tình trạng thiếu thốn về các điều kiện chăm
sóc trẻ sơ sinh là nguyên nhân chủ yếu tử vong của trẻ nhỏ
[45].
Thực trạng này được giải thích bằng việc ở các nước đang phát triển
khoảng 80% các chăm sóc sức khỏe cho trẻ được làm ở nhà và phần lớn trẻ
chết là do sự chăm sóc ở nhà mà không có sự theo dõi của cán bộ y tế có
9 chuyên môn. Trong khi đó, cách cho ăn phù hợp, bú đúng cách thì không
được thực hiện tốt ở các gia đình
[39]. Khoảng 40% số trẻ chết có thể phòng
tránh được bằng việc nâng cao sự chăm sóc của gia đình- xã hội chứ không
phải bằng các công cụ hiện đại
[39]. Đơn giản là cung cấp cho họ những kiến
thức cơ bản, kỹ năng cần thiết gồm cho con bú đúng cách, thức ăn bổ sung,
cách nhận biết các dấu hiệu bệnh nặng của trẻ và cách chăm sóc khi trẻ bị
cũng được giảm đáng kể, từ 58/1000 ca đẻ sống năm 1990 xuống còn 24,4
năm 2009
[39] . Hơn nữa, tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị nhẹ cân giảm từ 25.2%
năm 2005 xuống còn 18,9% năm 2009. Tỷ lệ tiêm chủng của trẻ dưới 1 tuổi
đạt 97% năm 2009
[39].
Mặc dù đã đạt được những tiến bộ đáng kể nhưng phần lớn số trẻ tử
vong dưới 1 tuổi vẫn xảy ra ở tháng đầu tiên, chiếm gần 60% các ca tử vong
ở trẻ dưới 1 tuổi và 40% các ca tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi. Những nguyên
nhân gây tử vong hàng đầu của trẻ sơ sinh là sinh non, nhiễm khuẩn nặng và
ngạt khi sinh, lần lượt chiếm tỷ lệ 35%, 20%, 26%
[47] và ở trẻ dưới 5 tuổi là
viêm phổi, tiêu chảy chiếm lần lượt 12%, 10% trong các nguyên nhân và chỉ
đứng sau tử vong sơ sinh (56%). Về tình trạng dinh dưỡng, 20% số trẻ bị nhẹ
cân, suy dinh dưỡng vừa và nặng, 33,3% số trẻ bị còi cọc
[39] [40]. Điều này
đã đưa Việt Nam vào danh sách 36 nước có 90% trẻ em bị còi cọc
[39]. Sở dĩ
có tình trạng này vì việc thực hành nuôi con bằng sữa mẹ ở Việt Nam vẫn
chưa tốt. Chỉ 58% bà mẹ cho trẻ bú sớm ngay sau 30 phút sau sinh,17% số
trẻ dưới 6 tháng được bú mẹ hoàn toàn, 23% trẻ được bú mẹ đến 24 tháng.
Tỷ lệ trẻ bị tiêu chảy được uống oresol và chế phẩm tương đương, được tiếp
tục bú chỉ có 65% (UNICEF 2009)
[40]. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị
Kim Liên 2006 tại hai xã Vĩnh Bảo (Hải Phòng) và Mai Sơn (Sơn La) thì tỷ
lệ bà mẹ nhận biết được ít nhất 3 dấu hiệu nguy hiểm khi trẻ bị bệnh rất thấp
(36,9% và 19,5%), chỉ khoảng một nửa số bà mẹ biết cách sử dụng đúng
oresol, tỷ lệ người mẹ tiếp tục cho trẻ ăn và uống nhiều hơn cũng không cao
[11].
người cũng như quyền được lựa chọn số con, khoảng cách sinh và thời gian
mang thai
[34].
- Ngăn ngừa sự mang thai ngoài ý muốn và giảm các tai biến sản khoa,
bệnh tật và tử vong
[34].
- Tăng sự hợp tác và chia sẻ trách nhiệm của nam giới trong thực hành
kế hoạch hóa gia đình
[34].
- Tăng cường cho con bú làm giãn khoảng cách sinh
12 2. Các biện pháp tránh thai
2.1. Các biện pháp tránh thai truyền thống
- Xuất tinh ngoài âm đạo
- Kiêng giao hợp định kỳ
- Cho con bú
2.2. Các biện pháp tránh thai hiện đại
- Bao cao su nam
- Tránh thai trong âm đạo
- Thuốc tránh thai: thuốc uống tránh thai có 3 loại: thuốc uống tránh
thai thông thường (loại có 2 hoóc môn), thuốc uống tránh thai chỉ có một
hoóc môn và thuốc tránh thai khẩn cấp.
- Dụng cụ tử cung
- Triệt sản nam, nữ
3. Thực trạng thực hiện KHHGĐ tại Việt Nam
Tại Việt Nam Công tác tuyên truy
ền và cung cấp các dịch vụ kế hoạch
hoá gia đình (KHHGĐ) hiện đại ngày càng thuận lợi cho người sử dụng,
Với sự sử dụng rộng rãi của các biện pháp tránh thai, tốc độ tăng trưởng
dân số về cơ bản đã được kiểm soát (tỷ lệ tăng dân số năm 2009 là 1,4%). Tỷ
lệ sinh con thứ 3 đã giảm dần ở các vùng theo từng nă
m mặc dù vẫn ở mức
cao
[20].
Tuy nhiên, trong công tác KHHGĐ vẫn còn tồn tại vấn đề quan trọng là
ngừng/không sử dụng các biện pháp tránh thai. Đối với những người sử dụng
thuốc tránh thai và vòng tránh thai, tác dụng phụ và các lý do liên quan đến
sức khỏe là phổ biến, tiếp theo là muốn có thai. Đối với phương pháp tính
Năm CPR
Trong đó
Hiện đại Truyền thống
2005 76,8 65,7 11,1
2006 78,0 67,1 10,9
2007 79,0 68,2 10,8
2008 79,5 68,8 10,7
14 vòng kinh và xuất tinh ra ngoài, biện pháp thất bại là chủ yếu, tiếp theo là
chuyển sang biện pháp hiệu quả hơn và muốn có thai. Đối với những người
sử dụng bao cao su, muốn có thai, chuyển sang những biện pháp có hiệu quả
hơn và không thuận tiên là những nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc
ngừng sử dụng biện pháp. Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác như ít sinh
hoạt tình dục, lý do sức khỏe, khó tiếp cận vì giá thành đắt và tôn giáo
[30].
III. Thông tin về địa điểm nghiên cứu:
Thanh Hóa là tỉnh đang phát triển theo hướng công nghiệp hóa- hiện đại
hóa nên có nhiều khu công nghiệp, chế xuất. Tính đến thời điểm năm 2009,
Quản lý thai nghén 80% 95%
Phụ nữ sinh đẻ được chăm sóc bởi cán bộ y tế 84% 98%
Tử vong mẹ ( trên 100.000 trẻ sinh sống) 110 65
Tử vong trẻ sơ sinh 22‰ 14,1‰
Tử vong trẻ dưới 5 tuổi 35‰ 25‰
Trẻ sơ sinh nhẹ cân 13% 6%
Tuy nhiên, theo báo cáo của liên đoàn lao động Thanh hóa năm 2011,
trong công tác chăm sóc SKSS cho công nhân làm việc trong các khu công
nghiệp, chế xuất, tỷ lệ nạo phá thai ở đối tượng này lại rất cao, ảnh hưởng
đến SKSS đặc biệt là cho giới nữ
[23]. Điều này có thể được giải thích bằng
thực trạng có rất nhiều công nhân nam, nữ thuê phòng trọ cùng nhau và có
quan hệ tình dục trước hôn nhân nhưng cũng phải nhìn nhận lại rằng trong
công tác CSSKSS nói chung và CSSKBM-TE-KHHGĐ nói riêng tại các khu
công nghiệp, chế xuất tại tỉnh Thanh hóa chưa được chú trọng, chưa được
quan tâm đúng mức.
16
Chương II
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu tại: 2 công ty là Công ty giầy Sunjade
thuộc khu công nghiệp Lễ Môn xã Quảng Hưng và Công ty SôTô trên địa
bàn xã Quảng Lợi, huyện Quảng Xương, Thanh Hóa, tháng 3-4/2010.
số tin cậy là 95%.
P là tỷ lệ bà mẹ có con < 5 tuổi, ước tính p= 0,6
q=1- 0,6= 0,4 Thay vào công thức có n=188.
Như vậy, tổng số bà mẹ có con dưới 5 tuổi cần điều tra tại 2 công ty là 188.
3.2.2. Phương pháp chọn mẫu:
Chọn ngẫu nhiên các bà mẹ có con dưới 5 tuổi có trong danh sách của 2
nhà máy.
4. Các biến số nghiên cứu:
Biến số Thông tin cần thu thập Chỉ số
Bà mẹ
- Dân tộc
- Trình độ văn hóa
- Tuổi
- Tình trạng kinh tế
-Tỷ lệ % bà mẹ có trình
độ học vấn cấp 1,2,3,
trên cấp 3.
-Tỷ lệ % các độ tuổi.
- Tỷ lệ % hộ gia đình có
thu nhập thấp.
- Số lần đi khám trong thai kỳ.
- Có uống viên sắt khi mang
thai