mô tả thực trạng một số kiến thức, thực hành về chăm sóc sức khoẻ mẹ trước, trong, sau sinh và chăm sóc trẻ sơ sinh - Pdf 24

ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, sức khoẻ sinh sản (SKSS) đã trở thành một
trong các lĩnh vực quan trọng được Đảng, Nhà nước và nhiều tổ chức quan tâm.
Điều này không chỉ bởi SKSS có liên quan trên phạm vi dân số khá lớn mà còn
do tác động của nó tới suốt cuộc đời mỗi cá nhân cũng như toàn xã hội Chương
trình SKSS của Liên hiệp quốc họp tại Cairo- Ai Cập năm 1994 trong đố Việt
Nam có tham dự đã xác định SKSS bao gồm mười nội dung cơ bản trong đó
CSSK bà mẹ trước, trong, sau khi sinh và trẻ sơ sinh là nội dung quan trọng bậc
nhất [9].
Với những cố gắng, nỗ lực trong nhiều năm qua, ngành y tế Việt Nam đã
thu được những thành tựu đáng kể trong công tác chăm sóc SKSS. Tuy nhiên
Báo cáo chiến lược quốc gia về chăm sóc SKSS tại hội nghị quốc gia về dân số
và phát triển bền vững cho thấy tỷ lệ các bà mẹ được khám thai và khi đẻ được
cán bộ chuyên môn giúp còn thấp, việc chăm sóc sau sinh, việc hướng dẫn cho
bú và cách nuôi con chưa được chú ý làm tốt. Nguyên nhân là do sự yếu kém
của hệ thống cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em
(CSSKBMTE) và sự thiếu hiểu biết của người dân trong cộng đồng, đặc biệt là
ở một số vùng khó khăn. Do đó, tỷ lệ tử vong mẹ do những nguyên nhân liên
quan tới quá trình sinh đẻ, mà chủ yếu là các tai biến sản khoa, cũng như tỷ lệ tử
vong chu sinh còn cao, năm 2003 tỷ lệ tử vong mẹ là 85 trên 100.000 trẻ đẻ
sống, tỷ lệ tử vong chu sinh là 21‰ [4]. Giáo dục sức khoẻ (GDSK) nâng cao
nhận thức của người dân cũng như củng cố hệ thống y tế được coi là những giải
pháp hữu hiệu để cải thiện tình trạng trên đây.
Phủ Lý, Hợp Thành, Ôn Lương là ba xã nghèo ở phía Bắc huyện Phú
Lương, tỉnh Thái Nguyên. Đây là địa bàn sơ tán của Trường Đại học Y Hà Nội
trong những năm chiến tranh, và hiện nay là địa bàn của sinh viên Trường Đại
học Y Hà Nội thực hành về y tế cộng đồng. Thực hiện truyền thống uống nước
nhớ nguồn, trong những năm vừa qua, Trường đã phối hợp với tổ chức Thầy
thuốc thế giới hỗ trợ một dự án Chăm sóc sức khoẻ ban đầu trong đó hoạt động
1
trọng tâm là hỗ trợ cải thiện vệ sinh môi trường và bước đầu đã đạt được những

TỔNG QUAN
1.1. NỘI DUNG CỦA CÔNG TÁC CSSK THAI SẢN VÀ TRẺ SƠ SINH:
1.1.1. Một số nội dung CSSK thai sản:
Thai nghén với người phụ nữ là một hiện tượng sinh lý mang nhiều tính
chất đặc biệt rất dễ chuyển thành bệnh lý vì thế chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trong
quá trình thai nghén là một công việc quan trọng. Qúa trình này, theo quy định
của Hướng dẫn chuẩn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản [3],
gồm 3 thời kỳ :
1.1.1.1. Trước sinh : thời kỳ trước sinh được tính từ khi bắt đầu có thai đến
trước khi có dấu hiệu chuyển dạ, trung bình kéo dài 38-40 tuần.
Thời kỳ này, về chăm sóc y tế, bà mẹ cần được khám thai ít nhất 3 lần
vào 3 quí của thai kỳ, được tiêm vắc xin phòng uốn ván, uống bổ sung viên sắt
phòng thiếu máu.
Việc khám và quản lý thai nghén là rất cần thiết để phát hiện kịp thời các
nguy cơ như thể trạng mẹ không đảm bảo, các bệnh lý của người mẹ có sẵn
cũng như mới xuất hiện do thai nghén lần này như thiếu máu, nhiễm độc thai
nghén.
Về nội dung uống bổ sung viên sắt phòng thiếu máu:
- Bà mẹ mang thai cần uống 1 viên/ ngày trong suốt thời gian có thai đến
hết 6 tuần sau đẻ. Tối thiểu phải uống ít nhất trước đẻ 90 ngày.
- Việc cung cấp viên sắt cần được thực hiện ngay từ lần khám thai đầu.
Để phòng uốn ván cho bà mẹ và trẻ sơ sinh, có 2 nội dung phải làm :
- Tiêm vắc xin phòng uốn ván: mũi thứ nhất từ tháng thứ tư trở đi, mũi
thứ hai cách mũi đầu ít nhất 1 tháng và chậm nhất là trước khi đẻ 1 tháng.
- Làm rốn vô khuẩn.
Ngoài những lần khám thai theo quy định, các bà mẹ mang thai cần đi
khám ngay khi có những dấu hiệu bất thường như đau đầu dữ dội; nhìn mờ; rối
3
loạn thị lực; phù mặt, tay chân; co giật; thai cử động không bình thường; ra máu
âm đạo; sốt cao; đau bụng [6]

hợp với nhu cầu của trẻ sơ sinh. Việc cho trẻ bú sớm sẽ kích thích tiết sữa và
xuống sữa [7].
Trong thời kỳ sơ sinh, những đặc điểm bệnh lý của trẻ khó nhận biết, dễ bị
bỏ qua, bệnh lại dễ chuyển thành nặng, nguy hiểm đến tính mạng. Các dấu hiệu
bệnh tật thường gặp là các dấu hiệu khó thở, thở nhanh, yếu, không cử động,
màu da bất thường, hạ thân nhiệt hoặc sốt, nhiễm khuẩn mắt (mắt có gỉ).
Đảm bảo thân nhiệt và dinh dưỡng là những nguyên tắc cơ bản trong xử trí
ban đầu những bệnh thưồng gặp ở trẻ sơ sinh.
Các nguyên nhân gây tử vong chủ yếu ở trẻ sơ sinh là nhiễm khuẩn, đặc
biệt nhiễm khuẩn rốn; ngạt khi đẻ; chấn thương khi đẻ; đẻ non tháng; nhẹ cân;
suy dinh dưỡng; viêm ruột hoại tử; ỉa chảy; xuất huyết não, màng não [15]

1.2. CÔNG TÁC CHĂM SÓC SỨC KHOẺ BÀ MẸ- TRẺ SƠ SINH Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY:
1.2.1. Thực trạng chăm sóc thai sản và chăm sóc trẻ sơ sinh:
Việt Nam là nước có số dân lớn thứ hai trong khu vực Đông Nam Á, kết
cấu dân số trẻ với tỷ lệ tăng dân cao, khoảng 1,7% mỗi năm, tỷ suất sinh thô
21,5%, số con trung bình của một phụ nữ là 2,33 con. Điều đó có nghĩa là số
phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ chiếm tỷ lệ cao mà phần lớn trong số đó sống ở nông
thôn, miền núi với những khó khăn trong đời sống cũng như trong việc tiếp cận
các dịch vụ y tế [2].
Nhà nước đã đặt nhiệm vụ chăm lo, bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em luôn
luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu. Với chủ trương đó, công tác
CSSKBMTE đã được triển khai rộng khắp trong cả nước. Tại tuyến cơ sở,
công tác này được thực hiện bởi cán bộ trạm y tế xã và đội ngũ y tế thôn bản [8].
Báo cáo tổng kết 20 năm thực hiện CSSKBĐ ở Việt Nam năm 1999 cho
biết 55% bà mẹ đươc khám thai, 26,5%được khám đủ 3 lần, 83,3% bà mẹ được
5
tiêm phòng uốn ván, 73% bà mẹ đẻ tại trạm y tế xã, phường, bệnh viện [5]. Tuy
nhiên tỷ lệ sử dụng các dịch vụ chăm sóc thai sản nhìn chung chưa cao và không

hàng năm có từ 22000 –28000 bà mẹ tử vong tức là mỗi ngày có 7 bà mẹ chết do
các nguyên nhân có liên quan tới thai nghén và sinh đẻ. Suy dinh dưỡng, thiếu
máu và các tai biến sản khoa là những nguyên nhân nổi trội trong tử vong mẹ.
Theo Báo cáo hội thảo quốc gia về chính sách chăm sóc sản khoa thiết yếu của
Bộ Y tế và Quỹ dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) năm 1999, 35% tổng số các
trường hợp chết mẹ hoàn toàn có thể phòng ngừa được và 53% có thể phòng
ngừa được nếu có được sự chăm sóc thai sản đầy đủ [5].
- Các dịch vụ chăm sóc mẹ ở Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu sức
khỏe của người dân. Khoảng 66% phụ nữ có thai nhận được chăm sóc trước đẻ
nhưng chỉ 1/3 được khám thai đủ 3 lần. Số lượng phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ được
tiêm vắc xin dao động từ 26% ở nông thôn đến 73% ở thành thị. Tỉ lệ thai phụ được
khám thai đủ 3 lần và được nhân viên y tế có chuyên môn đỡ đẻ còn thấp. Các tồn
tại nói trên chủ yếu ở các vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn. Hệ quả của nó là
khoảng 80% tử vong mẹ xảy ra ở các vùng nông thôn, miền núi [17].
-Hệ thống cung cấp các dịch vụ bảo vệ sức khoẻ bà mẹ tuy đã được xây
dựng tương đối hoàn chỉnh song vẫn còn nhiều nhược điểm và tồn tại. Cơ sở
vật chất trang thiết bị dụng cụ còn hạn chế. Phương tiện vận chuyển các cấp cứu
sản khoa còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thuốc, thiếu thông tin giáo dục sức khỏe
và các phương tiện truyền thông, yếu kém trong xử lý thông tin và thiếu các
chính sách phù hợp và các hướng dẫn chi tiết cho chăm sóc trước, trong và sau
đẻ. Kinh phí của nhà nước cung cấp cho lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ thai sản rất
hạn hẹp, phần lớn dựa vào ngân sách của địa phương. Như vậy, các địa phương
có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn lại càng không thể có được những hoạt
động chăm sóc sức khoẻ cho toàn cộng đồng.
Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ còn thiếu nghiêm trọng, đặc biệt là y sỹ sản
nhi, nữ hộ sinh, cộng thêm trình độ tay nghề chưa được cập nhật nên chưa đáp
ứng tốt nhu cầu ngày một cao của các hoạt động này [17].
7
- Nhận thức về nội dung và ý nghĩa của chăm sóc sức khoẻ bà mẹ khi có
thai chưa đầy đủ và chưa được quan tâm một cách chủ động. Sự thiếu hiểu biết

- Tỷ lệ sản phụ được nhân viên y tế trợ giúp khi sinh đạt 97%.
- Tỷ lệ sản phụ sinh con tại cơ sở y tế đạt 80%.
- Giảm tỷ lệ tử vong mẹ xuống dưới 70/100000 trẻ đẻ sống.
- Giảm tỷ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi xuống dưới 20
o
/
oo
- Giảm tỷ lệ trẻ mới đẻ có trọng lượng nhỏ hơn 2500g xuống dưới 6%
- Giảm tỷ lệ tử vong chu sinh xuống dưới 18‰ [2].
1.4. KHÁI QUÁT VỀ BỐI CẢNH ĐỊA LÝ, KINH TẾ, VĂN HOÁ - XÃ HỘI VÀ HỆ
THỐNG Y TẾ CỦA 3 XÃ NGHIÊN CỨU:
1.4.1. Điều kiện kinh tế xã hội:
Phủ Lý, Hợp Thành, Ôn Lương là 3 xã ở phía Bắc huyện Phú Lương, một
huyện miền núi phía Bắc cách Hà Nội 102 km. Đất đai ở đây chủ yếu là đồi núi,
đất rừng, chiếm 65%, đất canh tác nông nghiệp chỉ chiếm 12%. Các ngành kinh
tế chủ yếu là nông nghiệp trồng chè và lúa nước, lâm nghiệp, khai thác gỗ. Thực
trạng ở 3 xã có các vấn đề khó khăn tương tự như những vùng nông thôn miền
núi khác ở miền Bắc Việt Nam: tỷ lệ người nghèo cao (20%), cơ sở hạ tầng hạn
chế, tình trạng thiếu ăn còn phổ biến (25% số hộ còn thiếu ăn 1 đến 3 tháng
trong năm), tỷ lệ SDD và tỷ lệ tử vong trẻ cao (40,2% trẻ dưới 5 tuổi bị SDD),
thiếu nguồn vốn tín dụng để tăng thu nhập và thiếu cơ hội để cải thiện mức
sống.
Nhóm dân tộc chính sống ở 3 xã chủ yếu là người Tày ( chiếm 70,1% ),
tiếp theo là người Kinh ( chiếm 25,5% ), người Dao, Nùng và Sán Chí chỉ chiếm
tỷ lệ nhỏ. Người dân giao tiếp bằng tiếng phổ thông là chính, bên cạnh đó họ
vẫn dùng tiếng của dân tộc mình. Phụ nữ tuổi 15- 49 chiếm 29% tổng dân số.
Trẻ dưới 1 tuổi chiếm 7,1% dân số. Bình quân mỗi hộ gia đình có 4,6 người. Đa
số các gia đình có ba thế hệ sống chung [11].
Người dân tiếp nhận thông tin chủ yếu từ đài , ti vi và một phần nhỏ từ
báo chí. Mạng lưới điện quốc gia vẫn chưa bao phủ hết cả vùng, người dân có sử

10
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU:
Sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả căt ngang kết hợp hồi cứu.
2.2. ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU:
Nghiên cứu được tiến hành tại 3 xã Phủ Lý, Hợp Thành và Ôn Lương,
huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên, tháng 4/ 2003.
2.3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Nghiên cứu được tiến hành trên 105 bà mẹ có con nhỏ dưới 1 tuổi trên địa
bàn 3 xã, chiếm 100% tổng số các bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại 3 xã ở thời điểm
nghiên cứu : 31 tại Phủ Lý
40 tại Hợp Thành
34 tại Ôn Lương
Nghiên cứu này được thực hiện dựa trên cơ sở một dự án của Đơn vị
nghiên cứu sức khoẻ cộng đồng (CHRU), Trường Đại học Y Hà Nội. Trong
thiết kế nghiên cứu của dự án không sử dụng các đối tượng như cán bộ y tế, hội
viên hội phụ nữ, là những người có am hiểu sâu và trực tiếp hay liên quan nhiều
tới đối tượng nghiên cứu. Vì vậy việc đánh giá kiến thức và thực hành của các
bà mẹ có phần bị hạn chế.
2.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu được áp dụng là phương pháp định lượng kết
hợp với định tính, các thông tin trong nghiên cứu định tính sẽ góp phần bổ sung
giải thích một số thông tin trong phần định lượng.
- Phương pháp nghiên cứu định lượng : phỏng vấn 105 bà mẹ bằng bộ câu
hỏi .
- Phương pháp nghiên cứu định tính: tiến hành 6 cuộc thảo luận nhóm và
phỏng vấn sâu tại 3 xã.
2.4.1. Phương pháp thu thập thông tin:
- Phỏng vấn định lượng theo phiếu hỏi

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
12
3.1. KIẾN THỨC –THỰC HÀNH CHĂM SÓC THAI SẢN : TRƯỚC, TRONG VÀ
SAU SINH.
3.1.1. Tình hình khám thai của các bà mẹ :
100% các bà mẹ được khám thai trước khi đẻ ít nhất 1 lần.
81,0%
17,1%
1,9%



Biểu đồ 3.1: Số lần khám thai của các bà mẹ trong thời kỳ thai nghén
Biểu đồ 3.1 cho thấy đa số bà mẹ được khám thai trên 3 lần.
Khi hỏi những bà mẹ không đi khám thai đủ 3 lần, các bà mẹ cho biết
những lý do như bận việc nhà, do thấy người khoẻ nên không đi khám, do điều
kiện kinh tế khó khăn nên chỉ khám 1 hoặc 2 lần, hoặc quên không nhớ ngày
khám thai.
Bảng 3 1: Nơi khám thai
Bệnh viện
huyện
Trạm y tế

Phòng
khám tư
Y tế thôn bản,
bà mụ vườn
Tổng
số
Tần số 1 100 0 4 105

Biểu đồ 3.2 cho thấy lý do hàng đầu được các bà mẹ quan tâm khi khám
thai là theo dõi sự phát triển của thai. Việc khám thai theo sự chỉ dẫn của nhân
viên y tế chiếm hàng thứ hai. Rất ít bà mẹ nhận thức được việc khám thai là để
phòng biến chứng.
Tại các cuộc thảo luận nhóm, các bà mẹ cho biết rằng họ đi khám thai một
cách tự nguyện và để cảm thấy yên tâm hơn trong quá trình mang thai.
3.1.2. Tiêm phòng uốn ván khi mang thai và uống bổ sung viên sắt :
82,9%
11,4%
4,7%
1,0%
Tiªm 2 mòi
Tiªm 1 mòi
Kh«ng tiªm
Kh«ng nhí
Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ tiêm phòng uốn ván của các bà mẹ trong khi mang thai.
Biểu đồ 3.3 cho thấy khi mang thai, tỷ lệ bà mẹ được tiêm phòng uốn ván
chiếm khá cao. Tuy nhiên vẫn còn có trường hợp không được tiêm phòng uốn
ván hoặc không nhớ đã tiêm chưa.
Khi hỏi lý do các trường hợp không tiêm phòng uốn ván, các bà mẹ cho
biết do không đi khám thai đầy đủ nên không được tiêm phòng.
14
55,3%
0,9%
10,5%
33,3%
Díi 90 ngµy
Trªn 90 ngµy
Kh«ng nhí
Kh«ng uèng

thời gian nghỉ .” (ÔL 4). Tuy nhiên theo một bà mẹ phát biểu thì: “Người già
còn bảo phải làm nhiều thì đẻ mới dễ.” (HT5).
3.1.4. Thực hành chuẩn bị cho cuộc đẻ của các bà mẹ :
Bảng 3.2 : Dự kiến thời gian đẻ của các bà mẹ
Tính ngày Tần số %
Theo tuần 51 49,5
Theo tháng 48 46,6
Không nhớ rõ 4 3,9
Tổng 105 100,0
Bảng 3.3 cho thấy có gần một nửa số người được hỏi không biết cách tính
thời gian dự kiến đẻ theo tuần và một tỷ lệ nhỏ không tính thời gian dự kiến đẻ.
Bảng 3.3: Chuẩn bị tại gia đình đồ dùng và phương tiện
cần thiết cho việc sinh đẻ
Các thứ
được
chuẩn bị
Quần
áo
Thực
phẩm
Tiền
Phương
tiện đi
lại
Nơi đẻ
Người
đỡ đẻ
Không
chuẩn
bị gì

17
Khi thảo luận nhóm các bà mẹ cho biết họ hầu như không có thông tin gì về
sự cần thiết phải uống vitamin A sau đẻ.
3.1.5.4. Chế độ ăn, nghỉ của phụ nữ sau sinh :
Trong các cuộc thảo luận nhóm, hầu hết các bà mẹ cho biết hiện nay sau
sinh phụ nữ không còn nhiều tục lệ ăn kiêng khắt khe như xưa. Phần lớn các bà
mẹ ăn uống bình thường. Lý do không ăn kiêng của chị em phần lớn là do
điều kiện kinh tế eo hẹp. Một bà mẹ phát biểu: “ Nhà nghèo chỉ làm ruộng,
không có nghề phụ, không có tiền nên có gì ăn nấy như mọi người trong gia
đình thôi. Có gì lạ để ăn đâu mà kiêng.” (ÔL3).
Một số bà mẹ thì vẫn ăn kiêng rau cải (sợ đi giải nhiều) hoặc chất tanh
(cá mè, cua ốc), thịt trâu (sợ lạnh). Hầu hết chị em kiêng một cách thụ động
do các vấn đề tâm lý như: “Ăn thì cũng tốt nhưng nhỡ sau này bị hậu sản thì
lại bảo là tại ăn tham.” (HT7), hoặc “Nhiều người kiêng thì mình cũng kiêng
để khỏi áy náy nếu có bị làm sao” (PL4)
Qua thảo luận nhóm, các bà mẹ cho biết thời gian nghỉ ngơi sau sinh phụ thuộc
điều kiện trong gia đình. Thông thường thời gian nghỉ sau sinh của chị em
khoảng 1-3 tháng.
Cá biệt có trường hợp mới một tháng đã ra làm đồng: “Nhà chỉ có hai vợ
chồng với hai ông bà già, đang vào vụ gặt thì cả nhà phải đi làm hết thôi.” ( ÔL
5 .
3.2. KIẾN THỨC CỦA CÁC BÀ MẸ VỀ CÁC DẤU HIỆU NGUY HIỂM CẦN PHẢI
ĐI KHÁM :
18


























9$J @; '$ ='5)
>52?$
9.+%?
*/

-
J
KL
*'*/
(M
3 ;


2'<

C'. >
5E
2'2I
5,

Biểu đồ 3.8: Nhận biết về các dấu hiệu nguy hiểm sau khi đẻ :
Biểu đồ 3.8 cho thấy ba dấu hiệu được nhận biết với tỷ lệ cao là ra máu âm đạo
nhiều, đau bụng, sốt cao. Rất ít người biết sản dịch có mùi hôi là nguy hiểm.
Vẫn không có bà mẹ nào biết về những dấu hiệu nguy hiểm của nhiễm độc thai
nghén.
Bảng 3.5 : Số lượng dấu hiệu nguy hiểm được nhận biết :
Số lượng dấu hiệu
Thời điểm xuất hiện 0 1 2 3 4
Trước sinh 43,4 27,3 13,1 11,2 5,0
Khi chuyển dạ 21,3 15,1 28,5 20,9 13,2
Sau sinh 13,8 15,8 39,7 20,8 9,9

Bảng 3.6 cho thấy đối với những dấu hiệu nguy hiểm trong thời kỳ mang
thai,rất nhiều bà mẹ không kể được bất cứ một dấu hiệu nguy hiểm nào. Gần
một nửa trong số họ chỉ kể được một đến hai dấu hiệu. Số bà mẹ nêu được ba
đến bốn dấu hiệu nguy hiểm còn ít hơn nữa.
Đa số bà mẹ kể được hai đến ba dấu hiệu nguy hiểm khi chuyển dạ, số bà
mẹ nhận biết được một hoặc bốn dấu hiệu là tương đương nhau, chiếm tỷ lệ ít
20
hơn, còn đến hơn 1/5 các bà mẹ không kể được một dấu hiệu nguy hiểm nào
trong khi chuyển dạ.
Trong các dấu hiệu nguy hiểm sau đẻ, số bà mẹ nhận biết được từ hai đến











:V "V'
WXD(Y
Z- H
2G
[P%'S3, 3,?
Biểu đồ 3.10: Nhận biết các dấu hiệu bị ốm ở trẻ khi vừa đẻ ra
Biểu đồ 3.10 cho thấy trong 5 triệu chứng được coi là ốm ở trẻ vừa sinh
ra, dấu hiệu khó thở được nhắc tới với tỷ lệ cao nhất, các dấu hiệu yếu- không
cử động, màu da không bình thường, người lạnh được ít bà mẹ nhận biết hơn.
Dấu hiệu thở nhanh trên 60 lần trong 1 phút được nhận biết với tỷ lệ thấp nhất.
8
\8
8
8
8
0 dÊu hiÖu
1 dÊu hiÖu
2 dÊu hiÖu
3 dÊu hiÖu
>=4 dÊu hiÖu

Dấu hiệu bệnh Tỷ lệ bà mẹ nhận biết được ( % )
Khó thở 31,2
Vàng da 4,7
Tím tái 2,8
Sốt 52,3
Không ăn, không bú 48,5
Nôn, bụng chướng 13,3
Hôn mê, lịm 5,7
Khóc, cử động bất thường 43,8
Tiêu chảy 31,4
Táo bón 3,8
Mắt có gỉ 5,7
Viêm rốn 15,2
23
, chy nc) v ỏnh giỏ nhng cỏch x trớ m b m ó ỏp dng trờn thc t.
Trong s 105 b m c hi, cú
- 13 tr ó tng b khú th trong vũng 1 thỏng u sau sinh.
- 16 trng hp st.
- 20trng hp cung rn , chy nc.
Cỏch x trớ m b m ó ỏp dng:











hơn. Số bà mẹ đã biết cởi bỏ bớt quần áo, đắp khăn ướt và lau mình cho trẻ bằng
khăn ấm chỉ chiếm khoảng 1/3. Rất ít bà mẹ mua thuốc tây về tự điều trị.
Trong thảo luận nhóm, các bà mẹ đã kể ra nhiều cách hạ sốt bằng y học
cổ truyền như cho trẻ uống nước lá rau ngót dã, uống và đắp lá nhọ nồi, diếp cá.
















F*;$)
-
F*^S5 (<  $
*^M
/? .
U
23'*^2
-)5'.
5'; O
B2*A


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status