1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở trẻ em, đặc biệt là trẻ nhỏ hệ thống miễn dịch của cơ thể còn chưa
hoàn thiện nên trẻ dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn như tiêu chảy, nhiễm khuẩn
đường hô hấp….[1], [2]. Mặt khác một đặc điểm cơ bản của điều hòa nhiệt ở
trẻ em là trung tâm điều nhiệt chưa trưởng thành, rất dễ bị tác động, dễ sốt cao
ngay cả khi có nhiễm trùng nhẹ. Diện tích da của trẻ (theo cân nặng) lớn hơn,
mạng lưới mao mạch dưới da nhiều hơn so với người lớn nên thân nhiệt trẻ
em dễ bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ môi trường. Vì vậy, so với người lớn, trẻ em
dễ bị sốt và thường sốt cao hơn [3]. Khi trẻ ốm, sốt là một triệu chứng thường
gặp, nhưng đồng thời có nhiều bệnh lí khác của cơ thể biểu hiện bằng sốt. Sốt
thường có biểu hiện đi kèm như bú kém, ăn kém, quấy khóc, ho, sổ mũi …
Sốt là một phản ứng của cơ thể, có tác dụng làm tăng tốc độ các phản ứng hóa
học để bảo vệ cơ thể khi cần thiết nhưng sốt quá cao và kéo dài lại gây ra
nhiều hậu quả xấu đối với cơ thể [4- 6]. Sốt cao hoặc sốt kéo dài dễ dẫn đến
tình trạng mất nước, điện giải, thiếu các chất dinh dưỡng do tăng chuyển hóa,
giảm hấp thu, kém ăn. Trẻ sốt kéo dài dẫn đến nguy cơ suy dinh dưỡng, chậm
phát triển về thể chất [2]. Ở trẻ dưới 6 tuổi sốt cao có khi kèm theo co giật [5].
Sốt cao co giật thường gặp ở trẻ nhỏ và để lại những di chứng nặng nề cho
đứa trẻ sau này giả ở Mỹ và châu Âu, 3-5 % số trẻ em < 5 tuổi bị sốt cao co
giật một hoặc nhiều lần, tỷ lệ gặp cao nhất trong khoảng 10 tháng đến 2 tuổi
[7-9]. Ở Việt Nam theo Lê Thanh Hải và cộng sự, co giật do sốt ở trẻ dưới 7
tuổi vào khoa cấp cứu lưu bệnh viện Nhi Trung Ương giai đoạn 1984-1990
chiếm 2.12% số trẻ nhập viện trong thời gian đó [10]. Cơn co giật kéo dài dẫn
đến thiếu oxi não làm tổn thương các tế bào thần kinh (giảm trí nhớ, động
kinh), thậm chí hôn mê, tử vong hoặc làm tăng nguy cơ co giật cho những lần
sau khi trẻ sốt [3], [4].
2
Nhận biết và xử trí tại nhà khi trẻ sốt là rất quan trọng, làm hạn chế
được các biến chứng do sốt gây nên trước khi trẻ tiếp cận với dịch vụ chăm
sóc sức khỏe ban đầu. Để đạt được điều này phụ thuộc rất nhiều vào cách
38
0
C (ở trẻ lớn hơn) trong điều kiện cơ thể nghỉ ngơi, do hậu quả của sự rối
loạn trung tâm điều hoà nhiệt ở vùng dưới đồi làm tăng ngưỡng thân nhiệt” [3].
Cơ chế điều hòa nhiệt của cơ thể người:
Ở cơ thể người cũng như ở các loài động vật máu nóng khác, thân nhiệt
luôn được duy trì ở mức hằng định hoặc dao động trong một giới hạn hợp lý
do có sự cân bằng giữa hiện tượng “sinh nhiệt” và hiện tượng “thải nhiệt”.
- Hiện tượng sinh nhiệt: Nhiệt lượng được sinh ra trong cơ thể người do
quá trình “đốt cháy” carbonhydrat, acid béo và acid amin mà chủ yếu là trong
quá trình co cơ và tác động của hormon thông qua men ATP-aza (Adenosin
triphosphataza). Sinh nhiệt do cơ bắp có tầm quan trọng đặc biệt vì nó có thể
thay đổi tùy theo nhu cầu do sự chỉ huy của võ não (hữu ý) hoặc do thần kinh
tự động [12].
- Hiện tượng thải nhiệt: Cơ thể thải nhiệt ra môi trường xung quanh chủ
yếu bằng các con đường đối lưu, bức xạ và bốc hơi qua bề mặt da. Chi phối
các quá trình này do tuần hoàn đưa máu đến bề mặt của cơ thể nhiều hay ít và
bài tiết mồ hôi dưới tác động của thần kinh giao cảm. Ngoài con đường trên,
4
cơ thể còn thải nhiệt qua hô hấp, mất nhiệt qua các chất thải (phân, nước
tiểu…) [6], [12].
- Trung tâm điều hòa nhiệt: Duy trì sự cân bằng giữa sinh nhiệt và thải
nhiệt được đặt dưới sự điều hành của trung tâm điều hòa nhiệt, nằm dưới đồi
thị của não. Nếu tổn thương trung tâm điều hòa nhiệt thì cơ thể người sẽ mất
khả năng duy trì thân nhiệt ổn định và lúc đó nhiệt độ của cơ thể sẽ biến đổi
theo nhiệt độ của môi trường xung quanh gọi là hiện tượng “biến nhiệt” [6].
1.2. Cơ chế bệnh sinh của sốt.
Sốt là trạng thái tăng thân nhiệt chủ động do trung tâm điều hòa nhiệt bị
rối loạn trước tác động của chất gây sốt (chất sinh nhiệt). Chất sinh nhiệt có
hai loại: chất sinh nhiệt nội sinh và chất sinh nhiệt ngoại sinh [6], [12].
khi sốt gây rối loạn những chức năng của cơ quan trong cơ thể lúc đó mới cần
phải hạ sốt [12].
1.3. Phân loại sốt.
1.3.1 Theo mức thân nhiệt.
- Sốt nhẹ: 37.5
0
C – 38
0
C
- Sốt vừa: 38
0
C – 38.5
0
C
- Sốt cao: 38.5
0
C – 39
0
C
- Sốt rất cao: ≥ 39.5
0
C
Cách phân loại trên dựa vào nhiệt độ đo ở nách [13],[17].
1.3.2. Theo thời gian sốt.
- Sốt cấp tính: thường dưới 7 ngày, gồm các bệnh nhiễm trùng do virus.
- Sốt kéo dài: là thuật ngữ dùng chỉ những người bệnh có nhiệt độ đo ở
hậu môn trên 37.8
0
C (ở trẻ nhỏ) hoặc trên 38
0
0
C và dao
động chênh lệch 0.5
0
C.
- Sốt thành cơn: khi trong ngày có những cơn sốt rõ rệt (kể cả cảm giác
của người bệnh và lấy nhiệt độ chứng minh) xen kẽ với những thời gian hoàn
toàn không sốt. Trong ngày có thể có 1 hoặc nhiều cơn sốt.
- Sốt có chu kỳ: cơn sốt trong ngày xảy ra cùng một thời gian và kiểu sốt
tương tự. Chu kỳ có thể xảy ra hàng ngày hoặc cách ngày hoặc cách 2 ngày.
Kiểu sốt này hay gặp trong sốt rét tái phát. “Sốt hồi quy” cũng có thể coi là
sốt có chu kỳ nhưng từng đợt sốt kéo dài nhiều ngày xen kẽ những đợt nghỉ
nhiều ngày không sốt.
7
1.3.3.2. Kiểu khởi phát sốt
Trong lâm sàng, kiểu khởi phát sốt được các thầy thuốc rất chú ý bởi lẽ
có thể là định hướng cho chẩn đoán nguyên nhân. Dựa vào kiểu khởi phát sốt,
nguời ta chia sốt ra làm 3 loại: đột ngột, tương đối đột ngột và từ từ.
- Sốt đột ngột: là khi nhiệt độ ở bệnh nhân tăng lên rất nhanh, đạt tới
đỉnh cao trong vòng 1 ngày, đúng hơn là trong vòng 12 giờ. Sốt đột ngột gần
đồng nghĩa với sốt cấp tính.
- Sốt tương đối đột ngột: khi nhiệt độ của bệnh nhân đạt tới đỉnh cao từ
1-2 ngày.
- Sốt từ từ: khi nhiệt độ ở bệnh nhân tăng dần chậm và sau 3 ngày mới
đạt đỉnh cao.
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới sốt
1.4.1. Vai trò của vỏ não
Thí nghiệm: trước khi gây sốt, nếu tiêm cafein, cơn sốt cao hơn bình
thường nhưng nếu cho động vật uống bromua thì sốt nhẹ hơn. Như vậy mức
độ sốt phụ thuộc vào mức hưng phấn của vỏ não và hệ giao cảm [6].
Đa số các bệnh sốt là những bệnh nhiễm khuẩn. Chính vì vậy, trước một
bệnh nhân có sốt, đầu tiên người thầy thuốc phải nghĩ tới bệnh nhiễm khuẩn.
Tuy vậy, các bệnh nhiễm khuẩn khác nhau cũng có những đặc điểm sốt khác
nhau mà dựa vào đó mà thầy thuốc lâm sàng có thể chẩn đoán được căn nguyên
- Nhiễm virus: đa số các bệnh do virus gây ra đều có sốt đột ngột hoặc
tương đối đột ngột và thời gian sốt thường chỉ kéo dài 2-7 ngày hoặc tới 10
ngày. Sốt do virus còn gọi là sốt cấp tính hay sốt ngắn ngày (để phân biệt với
sốt kéo dài). Tuy vậy cũng có một số virus gây sốt kéo dài như: Epstein-Barr,
virus Coxsackie nhóm B, virus sốt chim, vẹt…nhưng nhìn chung đây là
những bệnh ít phổ biến [18].
9
- Nhiễm vi khuẩn: có rất nhiều vi khuẩn gây bệnh, do vậy bệnh do vi
khuẩn gây ra cũng là bệnh thường gặp. Sốt do nhiễm các vi khuẩn rất đa dạng
và không có một đặc điểm chung nhất. Tuy nhiên, căn cứ vào cơ quan tổn
thương và tính chất của sốt cũng có thể chẩn đoán được căn nguyên bệnh. Ví
dụ như một bệnh nhân có ho, tức ngực, khạc đờm màu socola và có sốt cấp tính
kèm những cơn rét run thì căn nguyên sẽ là phế cầu khuẩn; một bệnh nhân có
sốt cao tăng dần hình cao nguyên và có tổn thương đường tiêu hóa (đi ngoài
phân lỏng màu nâu) thì nghĩ ngay đến căn nguyên là do trực khuẩn thương hàn.
Bệnh nhân sốt kèm theo mụn mủ lớn (viêm nang lông) ngoài da là do căn
nguyên tụ cầu vàng v.v…Nhiễm khuẩn khu trú ở sâu gây các ổ áp xe (trong ổ
bụng, trong gan, não, lách, thận, tử cung…) sẽ có sốt kéo dài và có những cơn
rét run. Nhiễm khuẩn huyết sẽ có biểu hiện sốt cao dao động, có những cơn rét
run, kéo dài nhiều ngày và thường có biểu hiện thiếu máu rõ [18].
- Nhiễm ký sinh trùng: đa số các bệnh do ký sinh trùng gây ra đều có sốt
nhẹ và sốt vừa, ít khi có sốt cao, trừ một số đơn bào như sốt rét Plasmodium,
bệnh do Leishmania. Sốt do ký sinh trùng sốt rét Plasmodium có đặc điểm rất
riêng đó là: sốt cao đột ngột, thành cơn (rét, nóng, vã mồ hôi), có chu kỳ
(hàng ngày, cách nhật, hoặc cách 2 ngày tùy từng loại Plasmodium), thường
tái phát. Leishmania gây sốt kéo dài, kèm theo là hội chứng gan, lách to và
nhưng thông thường sốt xuất hiện vào giai đoạn muộn hơn khi đã có một số
triệu chứng kèm theo. Trong bệnh nhược cơ tủy, suy tủy, sốt xuất hiện muộn
và là hậu quả của giảm bạch cầu hạt dẫn đến nhiễm khuẩn. Nhìn chung, sốt
trong các bệnh lý của hệ thống tạo máu thường kéo dài và đa dạng, không
mang đặc điểm riêng nên khó chẩn đoán nếu chỉ dựa vào chúng [12], [19].
- Các bệnh mô liên kết: các bệnh luput ban đỏ hệ thống, viêm khớp dạng
thấp, viêm động mạch, viêm tắc tĩnh mạch, viêm nút quanh động mạch, viêm
11
động mạch tế bào khổng lồ đều có thể có sốt. Các bệnh mô liên kết thường
gây sốt cao, kéo dài và chủ yếu là sốt nóng. Các bệnh lý u, đặc biệt là u ác
tính cũng là nguyên nhân gây sốt kéo dài. Tuy vậy, sốt trong bệnh lý u thường
là muộn và đa số các trường hợp sốt xuất hiện khi đã phát hiện ra khối u trước
đó [12].
- Mắc một số bệnh lý khác: nhiều bệnh lý khác cũng có sốt như: tắc
mạch phổi rải rác, sốt do tan máu bởi các nguyên nhân khác nhau, sốt do phản
ứng với thuốc… [12].
1.5.3. Rối loạn điều hòa thân nhiệt
- Trúng nóng: gặp ở những người lao động gắng sức trong môi trường
nóng mà độ ẩm lại cao. Trúng nóng còn gọi là đột quỵ do nóng thường gặp ở
những vận động viên, người chơi thể thao và những tân binh khi phải tập
luyện dưới nắng nóng. Trúng nóng gây sốt rất cao tới 41-42
0
C, bệnh nhân mất
ý thức và huyết áp thường hạ [12].
- Các bệnh lý gây tổn thương trung khu điều hòa nhiệt: tai biến mạch
máu não, u não, các bệnh thoái hóa não…đều có thể gây ra tình trạng sốt rất
cao và đặc biệt là các thuốc hạ nhiệt đều không có tác dụng giảm sốt [12].
- Cường chức năng tuyến giáp cũng có thể gây sốt do sinh nhiệt quá
mức. Tuy vậy sốt thường ở mức nhẹ và vừa [6].
- Sốt do nguyên nhân tâm lý: thường gặp ở phụ nữ trẻ với biểu hiện sốt
Cần đo nhiệt độ để xác định mức độ sốt của trẻ. Dụng cụ có thể sử dụng
là nhiệt kế thủy ngân và nhiệt kế điện tử để đo ở nách, đo tai, đo trán/thái
dương. Tuy nhiên, hiện nay ít sử dụng nhiệt kế thủy ngân vì không an toàn.
Thủy ngân độc, nếu nhiệt kế bị vỡ sẽ gây nhiều nguy hiểm đến sức khỏe, đặc
biệt là trong trường hợp trẻ nuốt phải. Ngoài ra, cũng không nên sử dụng loại
nhiệt kế điện tử dán trán vì không chính xác. Nhiệt kế điện tử đo tai cũng
thường không chính xác cho trẻ dưới 3 tháng tuổi [21].
1.7.2. Cách đo nhiệt độ
Có thể đo nhiệt độ của trẻ tại nách (đa số), miệng, hậu môn, tai, trán/thái
dương (điện tử dùng tia hồng ngoại)
- Với trẻ sơ sinh, nên sử dụng nhiệt kế điện tử để kẹp vào nách.
- Với trẻ 3 tháng đến 5 tuổi, có thể lấy nhiệt độ tại nách hoặc tai.
- Trẻ lớn hơn thì có thể lấy ở nách là chủ yếu.
13
Thông thường, nếu trẻ có nhiệt độ hậu môn là 36.5- 37.5
0
C là bình
thường. Nếu nhiệt độ hậu môn từ 38
0
C trở lên tức là trẻ sốt. Trong đó, nhiệt
độ hậu môn bằng nhiệt độ nách +0.5 và bằng nhiệt độ tai +0.3.
1.7.2.1. Đo nhiệt độ ở nách
- Lau khô vùng nách
- Vảy mạnh nhiệt kế sao cho mức thủy ngân ở dưới 35
0
C.
- Đặt bầu thủy ngân vào giữa vùng hõm nách. Đọc kết quả sau 5 phút.
1.7.2.2. Đo nhiệt độ ở miệng
- Không ăn uống ít nhất 10 phút trước khi cặp nhiệt độ.
- Kiểm tra mức thủy ngân dưới vạch 35
14
khiến thân nhiệt gia tăng [21]. Ngoài ra, cần chú ý không được pha rượu (gây
ngộ độc) hay thoa chanh (gây tổn thương da) khi lau mát cho trẻ [17], [21].
- Biện pháp dùng thuốc: các thuốc aspirin, ibuprofen và acetaminophen
cùng hàng chục dẫn xuất của chúng thường được sử dụng để hạ thân nhiệt.
Các thuốc an thần cũng được sử dụng, đặc biệt là với trẻ em, ngoài tác dụng
hạ sốt còn đề phòng co giật. Glucocorticoid cũng có tác dụng hạ nhiệt nhưng
ít được sử dụng vì có nhiều tác dụng phụ.
Xử trí bằng thuốc hạ sốt trong các trường hợp:
- Khi trẻ sốt từ 38.5
0
C trở lên kèm theo khó chịu, quấy khóc, biếng ăn, khó ngủ.
- Sốt từ 38
0
C trở lên có tiền sử bệnh lý tim/phổi, tiền sử co giật…
Khi sử dụng thuốc hạ sốt cần lưu ý, có thể dùng paracetamol hoặc
acetaminophen: 10-15mg/kg cân nặng, uống khi cần mỗi 4-6 giờ. Không cho
trẻ uống Aspirin khi có triệu chứng thủy đậu hay cúm, vì có thể gây ra hội
chứng Reye [17], [21-22].
Tiến hành lau mát ngay khi sốt kèm theo co giật, sốt trên 40
0
C, không
đáp ứng với thuốc hạ nhiệt. Phương pháp này không dùng thường quy vì trẻ
dễ run, dễ khiến trẻ khó chịu, mất nhiệt.
15
Nuôi dưỡng khi trẻ sốt
- Cần chú ý chế độ dinh dưỡng hợp lý, ăn bình thường theo nhu cầu của
trẻ, khi trẻ sốt hay cho trẻ ăn từng bữa nhỏ, cho trẻ ăn làm nhiều lần. Hãy cho
trẻ ăn những món mà trẻ thích. Hãy cho trẻ uống thêm nước hoa quả tươi như
lê, táo, cam, dưa hấu [21].
16
- Gây hại cho gan, thận: Với thận, PG có vai trò quan trọng trong tuần
hoàn thận. Ức chế tổng hợp PG gây hoại tử gan và sau là viêm thận kẽ mãn
tính, giảm chức phận cầu thận. Thuốc hạ sốt nhóm không steroid chuyển hóa
qua gan và thải trừ qua thận, nên nếu sử dụng kéo dài và trên những người
giảm chức năng gan, thận sẽ gây hại cho gan, thận.
Ngoài các tác dụng không mong muốn chính nêu trên còn có thể gặp các
tác dụng không mong muốn khác như:
Mọi thuốc chống viêm không steroid đều có khả năng gây cơn hen giả.
Với aspirin, nếu dùng lâu có thể gây “hội chứng salicyle”: buồn nôn, ù tai,
điếc, nhức đầu, lú lẫn. Gây các phản ứng dị ứng như nổi mề đay, phù, hen,
phù Quicke. Ở trẻ nhỏ, nếu ngộ độc aspirin có thể gây nhiễm kiềm hô hấp
( làm thở nhanh và sâu), từ đó dẫn đến hậu quả nhiễm toan chuyển hóa.
Trong 3 loại thuốc hạ sốt hay được sử dụng hiện nay bao gồm aspirin,
ibuprofen và paracetamol thì paracetamol là loại thuốc hay được sử dụng
nhiều nhất vì thuốc ít gây tác dụng phụ. Tuy nhiên chúng ta nên chú trọng sử
dụng các biện pháp hạ sốt vật lý trước khi sử dụng các loại thuốc hạ sốt cho
trẻ. Khi sử dụng thuốc hạ sốt cho trẻ cần tuân thủ tuyệt đối thời điểm dùng
thuốc, thời gian giữa 2 lần dùng thuốc và liều lượng thuốc phù hợp với cân
nặng của trẻ.
1.10. Biến chứng của sốt
Khi trẻ sốt, có thể gặp các biến chứng sau[2], [5- 6]:
- Sốt cao gây co giật
- Gây mất nước, điện giải
- Gây rối loạn hô hấp, giai đoạn đầu gây thở nhanh
- Gây gầy sút cân do tăng chuyển hóa, giảm hấp thu, kém ăn và rối loạn
tiêu hóa. Nguy cơ chậm phát triển thể chất nếu trẻ sốt kéo dài .
Tóm lại: Sốt là một triệu chứng mang tính khách quan của nhiều bệnh
lý và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố ở trong cơ thể và ngoài môi trường. Cơ
chế của sốt rất phức tạp trong đó giữ vị trí quan trọng là thần kinh- thể dịch.
bị sốt cao đến khám và điều trị tại bệnh viện Phúc Yên. Theo kết quả nghiên cứu
18
của tác giả, tỷ lệ các bà mẹ có kiến thức đúng về sốt rất thấp chiếm 36.8%. Các
bà mẹ có cách xử trí sốt đúng cho trẻ chiếm tỷ lệ thấp 34.9%. Đặc biệt tác giả chỉ
ra rằng chỉ có 35.8% các bà mẹ có thái độ đúng về chăm sóc và xử trí sốt cho trẻ.
Năm 2013, tại khoa Truyền nhiễm bệnh viện Nhi Trung Ương, Hồ Thị Bích,
Doãn Thúy Quỳnh cũng đã thực hiện một đề tài tương tự. Kết quả nghiên cứu
của tác giả Hồ Thị Bích, Doãn Thúy Quỳnh cho thấy gần ¾ bà mẹ hiểu sai khái
niệm về sốt, gần 70% bà mẹ cho trẻ uống thuốc hạ sốt không theo đơn bác sỹ và
không quan tâm đến nhiệt độ sốt ở trẻ. Vẫn có bà mẹ chườm đá để hạ sốt cho trẻ.
Qua nghiên cứu, tác giả chỉ ra gần 80% các bà mẹ có hành vi chăm sóc khi trẻ
sốt sai…[28].
Nhìn chung vấn đề sốt ở trẻ đặc biệt là cách xử trí và chăm sóc trẻ sốt
của người nuôi dưỡng trẻ được các tác giả quan tâm và tiến hành nghiên cứu.
Qua đó có những biện pháp can thiệp kịp thời để hạn chế biến chứng sốt ở trẻ
và nâng cao chất lượng chăm sóc trẻ khi sốt tốt hơn.
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu :
Đối tượng nghiên cứu là các bà mẹ có con dưới 5 tuổi bị sốt đến khám
và điều trị tại bệnh viện Nhi Trung Ương từ ngày 1/9/2012 - 31/12/2012.
Tiêu chuẩn chọn lựa
- Mẹ của trẻ bị sốt đến khám và điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung Ương.
- Mẹ trẻ có thể nghe, hiểu, nói được bằng tiếng Kinh và không có bất
thường về ngôn ngữ cũng như ý thức.
19
- Mẹ trẻ đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp tiến cứu, mô tả cắt ngang.
+ Dùng thuốc khi nào: Đúng khi nhiệt độ trẻ ≥ 38.5
0
C
+ Tác hại của thuốc hạ sốt: + Gây hại cho hệ tiêu hóa
+ Gây hại cho gan
+ Gây hại cho thận
+ Tác hại khác
+ Thời gian giữa hai lần dùng thuốc hạ sốt: từ 4-6 giờ
+ Loại thuốc hạ sốt hay dùng cho trẻ
2.2.3.4. Thái độ của bà mẹ về sốt:
- Sốt ở trẻ có là vấn đề nguy hiểm, cần quan tâm không?
- Cách tìm hiểu kiến thức về vấn đề sốt và nguồn thông tin tìm hiểu
2.2.3.5. Thực hành của bà mẹ về vấn đề sốt ở trẻ:
- Cách phát hiện trẻ sốt : + Bằng nhiệt kế
+ Bằng tay
+ Áp má
- Vị trí cặp nhiệt độ
- Các biện pháp hạ sốt ban đầu cho trẻ
- Nuôi dưỡng khi trẻ sốt
2.2.3.6. Mối liên quan giữa TĐHV với kiến thức, thực hành về chăm sóc trẻ
sốt của bà mẹ.
- Mối liên quan giữa TĐHV với kiến thức của bà mẹ về khái niệm sốt, về biến
chứng của sốt, cách sử dụng thuốc hạ sốt…
- Mối liên quan giữa TĐHV với thực hành về cách phát hiện trẻ sốt, biện pháp
hạ sốt ban đầu cho trẻ, cách nuôi dưỡng trẻ khi sốt.
2.2.4 Phương pháp thu thập số liệu
- Thiết lập bộ câu hỏi phỏng vấn có cấu trúc theo mẫu chuyên biệt phù
hợp với mục tiêu nghiên cứu.
- Nguồn thu thập số liệu: Phỏng vấn trực tiếp từ mẹ của bệnh nhân.
2.2.5 Phương pháp xử lí số liệu
3.1.2. Đặc điểm của bà mẹ trong nhóm nghiên cứu
Bảng 3.1 : Đặc điểm của bà mẹ trong nhóm nghiên cứu
Thông tin về mẹ n Tỉ lệ %
Tuổi mẹ ( năm ) ≤ 22 21 10.5
23 – 35 166 83.0
23
≥ 36 13 6.5
Tuổi trung bình (
X
± SD ) 28.7±4.7
Địa dư Nông thôn 112 56.0
Thành phố 88 44.0
Trình độ học vấn ≤ THCS 72 36.0
THPT và trung cấp 74 37.0
≥ Cao đẳng 54 27.0
Nghề nghiệp Nông nghiệp 65 32.5
Công nhân 33 16.5
Buôn bán 11 5.5
CNVC 65 32.5
Nội trợ 18 9.0
Nghề khác 12 6.0
Nhận xét :
- Tuổi trung bình là 28.7 ± 4.7. Độ tuổi từ 23-35 tuổi chiếm tỷ lệ
cao nhất (83%).
- Tỉ lệ bà mẹ sống tại nông thôn là 56%, thành phố là 44%.
- Hơn 70% bà mẹ có trình độ học vấn từ trung cấp trở xuống.
- Hơn 50% bà mẹ làm nông nghiệp, công nhân và nghề tự do.
- 32.5% các bà mẹ là cán bộ CNVC.
3.2. Kiến thức, thái độ và cách xử trí sốt của bà mẹ.
3.2.1 Kiến thức của bà mẹ về vấn đề sốt ở trẻ
Bảng 3.5: Kiến thức của bà mẹ về sử dụng thuốc hạ sốt ở trẻ
Sử dụng thuốc hạ sốt n Tỷ lệ %
Dùng ngay thuốc hạ
sốt khi trẻ sốt cao
Có 93 46.5
Không 107 53.5
Tác hại của thuốc hạ
sốt
Gây độc cho gan 20 10.0
Gây độc cho thận 4 2.0
Gây hại cho hệ tiêu hóa 75 37.5
Không biết 116 58.0
Thời gian giữa 2 lần
dùng thuốc hạ sốt
(4-6 tiếng)
Đúng 163 81.5
Sai 8 4.0
Không biết 29 14.5
Nhận xét :
- 46.5% các bà mẹ cho trẻ uống ngay thuốc hạ sốt khi trẻ sốt cao.
- Khoảng 40% các bà mẹ biết tác hại của thuốc hạ sốt, trong đó
37.5% các bà mẹ biết rằng thuốc hạ sốt có hại cho hệ tiêu hóa.
- 81.5% các bà mẹ biết thời gian giữa 2 lần dùng thuốc hạ sốt là 4-6
giờ. Gần 20% các bà mẹ chưa có kiến thức đúng về thời gian giữa
2 lần dùng thuốc hạ sốt.
Bảng 3.6: Kiến thức của bà mẹ về loại thuốc hạ sốt hay dùng cho trẻ
Loại thuốc hạ sốt hay dùng cho trẻ n Tỷ lệ %
Paracetamol 117 58.5