ĐÁNH GIÁ kết QUẢ CAN THIỆP cải THIỆN KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG của bà mẹ có CON dưới 5 TUỔI tại xã AN lão, BÌNH lục, hà NAM - Pdf 56

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh tay-chân-miệng (TCM) là một bệnh truyền nhiễm lây từ người sang
người, do vi rút đường ruột gây ra, bệnh thường gặp ở trẻ em (dưới 5 tuổi) với các
biểu hiện sốt (trên 37,5oC), biếng ăn, mệt mỏi, đau họng, loét miệng hoặc bọng
mụn nước ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, vùng mông, đầu gối. Bệnh có thể lây theo
đường tiêu hóa, nguồn lây trực tiếp từ nước bọt, phỏng nước và phân của trẻ nhiễm
bệnh. Bệnh gây nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm não, màng não, viêm cơ
tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong nếu không được phát hiện sớm và xử lý kịp thời.
Bệnh TCM đã gặp ở tất cả các nước trên thế giới như Hoa Kỳ, Úc,
Hungary, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Việt Nam…, nhưng tập
trung chủ yếu tại các nước khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Tại Việt Nam,
ca bệnh TCM đầu tiên được phát hiện vào năm 2003 và bệnh có xu hướng tăng
dần theo thời gian. Năm 2011, bệnh TCM bùng phát trên toàn quốc với số
người mắc và tử vong cao nhất từ trước đến nay và đã xuất hiện ở cả 63 tỉnh
thành phố, với 112.370 ca bệnh, trong đó có 169 ca tử vong, số ca tử vong tăng
gấp 6 lần so với năm 2010.
Hiện nay, bệnh TCM chưa có vắc xin dự phòng và thuốc điều trị đặc
hiệu, việc điều trị chủ yếu là điều trị triệu chứng và biến chứng, do vậy, kiến
thức, thực hành của các bà mẹ có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phòng
bệnh TCM. Với câu hỏi kiến thức và thực hành phòng bệnh TCM của các bà mẹ có con
dưới 5 tuổi tại huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam như thế nào? những giải pháp can thiệp nào
có thể cải thiện kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM của những bà mẹ có con dưới 5
tuổi tại đây? Để trả lời các câu hỏi này chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Đánh giá kết
quả can thiệp cải thiện kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay-chân-miệng của
bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã An Lão, Bình Lục, Hà Nam” với 2 mục tiêu:

1. Mô tả kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay-chân-miệng của bà mẹ có
con dưới 5 tuổi tại xã An Lão và Đồn Xá, huyện Bình Lục, Hà Nam năm 2013.


và 109 tài liệu tham khảo, trong đó có 58 tài liệu bằng tiếng Anh. Đặt vấn đề
gồm 2 trang, tổng quan tài liệu 33 trang, đối tượng và phương pháp nghiên cứu
21 trang, kết quả nghiên cứu 38 trang, bàn luận 26 trang, kết luận 1 trang và
khuyến nghị 1 trang.

Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Giới thiệu về bệnh tay-chân-miệng
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) – bệnh TCM là một bệnh truyền
nhiễm lây từ người sang người, do các vi rút thuộc nhóm đường ruột gây ra.
Bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi với các biểu hiện sốt (trên 37,5 0C), biếng
ăn, mệt mỏi, đau họng, loét miệng hoặc bọng nước ở lòng bàn tay, lòng bàn
chân, vùng mông, đầu gối. Hầu hết các trường hợp là tự khỏi, mà không cần
điều trị. Một tỷ lệ ít các trường hợp có thể nặng và biểu hiện triệu chứng thần
kinh như viêm màng não, viêm não hoặc liệt do Enterovirus gây ra. Bệnh
thường xảy ra quanh năm và có xu hướng theo mùa (tháng 3-5 và tháng 9-12).
Bệnh TCM lây theo đường tiêu hóa, nguồn lây trực tiếp từ nước bọt,
phỏng nước và phân của trẻ nhiễm bệnh, hoặc gián tiếp qua nước, thực phẩm,
tay bẩn bị nhiễm phân của người bệnh.
Để chủ động phòng bệnh TCM, Bộ Y tế khuyến cáo người dân cần thực
hiện 6 biện pháp: Rửa tay thường xuyên với xà phòng, thực hiện tốt vệ sinh ăn
uống, vệ sinh bề mặt, dụng cụ tiếp xúc, sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh, không
cho trẻ tiếp xúc với trẻ bệnh và cần đưa trẻ đi khám khi nghi ngờ trẻ mắc bệnh.


3
1.2. Hoạt động truyền thông phòng bệnh tay-chân-miệng
Truyền thông giáo dục sức khoẻ (TT-GDSK) là một trong những nhiệm
vụ quan trọng trong công tác chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, góp phần giúp mọi
người chủ động chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ. Trong việc phòng bệnh TCM tại

đã có nhiều cách tiếp cận và nhiều biện pháp khác nhau để phòng bệnh TCM,


4
triển khai các chương trình phòng bệnh TCM tại cộng đồng ở nhiều quốc gia
như Trung Quốc, Singapore..., nội dung chính gồm: Giáo dục vệ sinh tốt và vệ
sinh cơ bản thông qua chiến dịch truyền thông sâu, rộng; Xây dựng và củng cố
hệ thống giám sát dịch; hỗ trợ cho trường học và các cơ sở chăm sóc ban ngày;
Phổ biến những yếu tố nguy cơ của bệnh; tuyên truyền các biện pháp thực hành
phòng bệnh, các nghiên cứu đều đạt kết quả tốt trong quá trình thực hiện.
Một số can thiệp YTCC hiệu quả đã được áp dụng phòng chống bệnh
TCM tại Trung Quốc, Singapore, Hồng Kông và được WHO khuyến cáo như:
thiết lập hệ thống giám sát và cảnh báo dịch sớm, thường xuyên; triển khai các
chiến dịch truyền thông; triển khai các chiến dịch vệ sinh, rửa tay bằng xà
phòng, chủ động xây dựng kế hoạch, chính sách phòng bệnh TCM.
Tại Việt Nam, Bộ Y tế đã ban hành quyết định số 581/QĐ-BYT ngày
24/2/2012 hướng dẫn “Giám sát và phòng bệnh TCM” nhằm tuyên truyền cho
người dân các nội dung: Nguy cơ mắc bệnh; đường lây truyền; các triệu chứng
của bệnh và những dấu hiệu bệnh chuyển nặng để người dân chủ động phòng
bệnh, có thể phát hiện sớm các trường hợp mắc bệnh và đưa đến cơ sở y tế kịp
thời; không để bệnh lây lan ra cộng đồng; Thực hiện 3 sạch: Ăn sạch, ở sạch,
bàn tay và chơi đồ chơi sạch. Do vậy, cần có những nghiên cứu can thiệp tiếp
theo, xây dựng mạng lưới truyền thông, huy động sự tham gia của cộng đồng để
phòng chống dịch bệnh được tốt hơn.
1.4. Khung lý thuyết nghiên cứu
Cơ sở xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu:
Kết quả tổng quan các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam cho thấy
việc phòng bệnh TCM của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi phụ thuộc kiến thức
của các bà mẹ. Kết quả này phù hợp với nguyên lý mà mô hình niềm tin sức
khoẻ đưa ra. Bên cạnh các yếu tố thuộc về cá nhân, thì những yếu tố tác động từ

Lão và xã Đồn Xá của huyện Bình Lục, Hà Nam.
• Đối tượng nghiên cứu định tính: CBYT, đại diện cán bộ chính quyền và
một số ban/ngành của huyện, xã, đại diện bà mẹ có con dưới 5 tuổi.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện theo hai giai đoạn.
- Giai đoạn 1: Nghiên cứu cắt ngang nhằm mô tả thực trạng kiến thức, thực hành
phòng bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã An Lão và Đồn Xá.
- Giai đoạn 2: Nghiên cứu can thiệp cộng đồng có nhóm chứng, để đánh giá
thay đổi kiến thức, thực hành phòng chống bệnh TCM của bà mẹ có có
dưới 5 tuổi.
2.3.2. Mẫu nghiên cứu
2.3.2.1. Cỡ mẫu
• Cỡ mẫu cho mục tiêu 1
* Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng:
Đề tài này là một phần của đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu thực trạng, xây
dựng mô hình dự báo, kiểm soát một số nhóm bệnh có liên quan đến biến đổi khí
hậu ở Việt Nam” mã số ĐTĐL.2012- G/32. Từ những người được phỏng vấn
của mỗi xã chúng tôi chỉ lấy bà mẹ có con dưới 5 tuổi để phân tích mô tả thực
trạng kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM. Kết quả có 105 bà mẹ có con dưới
5 tuổi ở xã An Lão và 91 bà mẹ có con dưới 5 tuổi ở xã Đồn Xá được đưa vào
phân tích.
* Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính:
- Tuyến huyện: Thực hiện 02 cuộc phỏng vấn sâu và 01 cuộc thảo luận nhóm
- Tuyến xã: Thực hiện 04 cuộc phỏng vấn sâu và 06 cuộc thảo luận nhóm.
• Cỡ mẫu cho mục tiêu 2
* Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng:

Trong đó:
n1: Cỡ mẫu cho nhóm chứng, n2: Cỡ mẫu cho nhóm can thiệp.

tiến hành nghiên cứu.
Chọn đối tượng nghiên cứu:
+ Ở mỗi xã, chọn ngẫu nhiên 04 thôn. Xã An Lão: Gồm các thôn Vĩnh
Tứ, Đô Hai, Thứ Nhất, An Lão. Xã Đồn Xá: Tiên lý 1, Tiên lý 2, Hoà
Mục, Thôn Nghĩa. Kết quả giai đoạn này đã phỏng vấn được 105 bà mẹ
tại xã An Lão và 91 bà mẹ tại xã Đồn Xá.
+ Chọn ĐTNC cho nghiên cứu đính tính: Chọn chủ đích các đối tượng để
thực hiện phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm.
. Phỏng vấn sâu: Tuyến huyện: Chọn phó chủ tịch huyện phụ trách y tế,
văn hoá xã hội của huyện; Giám đốc TTYTDP của huyện. Tuyến xã:
Chúng tôi chọn phó chủ tịch xã phụ trách y tế, văn hoá của xã; Trạm
trưởng trạm y tế xã.
. Thảo luận nhóm: Tuyến huyện: Chúng tôi chọn các CBYT ở khoa kiểm
soát dịch bệnh và phòng truyền thông thuộc TTYTDP của huyện.
Tuyến xã: Chúng tôi chọn tất cả các CBYT xã và y tế thôn.
. Bà mẹ có con dưới 5 tuổi: Chúng tôi chọn những người đại diện biết
nhiều thông tin về cộng đồng (chúng tôi tham khảo ý kiến của CBYT
để chọn được các bà mẹ này).
Chọn mẫu cho mục tiêu 2:
Chọn xã can thiệp: xã An Lão được được chọn để thực hiện can thiệp, xã
Đồn Xá là xã đối chứng.
Chọn đối tượng can thiệp: Đề tài thực hiện can thiệp trên toàn cộng đồng
và ưu tiên đối tượng là các bà mẹ có con dưới 5 tuổi để đánh giá sự thay đổi


8
về kiến thức thực hành phòng bệnh TCM. Chọn chủ đích các đối tượng để
thực hiện phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm như ở giai đoạn 1.
2.4. Nội dung, các biến số và chỉ số nghiên cứu
2.4.1. Nội dung, biến số và chỉ số cho mục tiêu 1

2.6. Kỹ thuật thu thập thông tin
Phỏng vấn trực tiếp bà mẹ có con dưới 5 tuổi dựa vào bộ câu hỏi được
thiết kế sẵn để thu thập thông tin về kiến thức, thực hành bệnh TCM. Phỏng vấn
sâu lãnh đạo các cơ sở y tế huyện/xã, lãnh đạo uỷ ban nhân dân huyện và thảo
luận nhóm CBYT huyện/xã/thôn, bà mẹ có con dưới 5 tuổi.


9
2.7. Xử lý và phân tích số liệu
Số liệu được nhập và xử lý bằng phần mềm Epidata 3.1 và SPSS 20. Các
kết quả được tính toán theo tỷ lệ phần trăm của các biến số nghiên cứu.
Xử lý số liệu định tính: dựa trên cơ sở nội dung thông tin từ các cuộc thảo luận
nhóm và phỏng vấn sâu, nhóm các thông tin phân tích trích dẫn theo chủ đề.
Cách đánh giá và cho điểm kiến thức, thực hành: Tiêu chí để đánh giá kiến thức,
thực hành dựa vào Hướng dẫn giám sát và phòng bệnh TCM, số 581/QĐ-BYT
• Cách đánh giá điểm kiến thức: Đối với câu hỏi về kiến thức, mỗi ý trả lời
đúng được tính điểm theo trọng số, ĐTNC trả lời được bao nhiêu ý đúng
được tính bấy nhiêu điểm theo trọng số và đánh giá đạt hay không đạt.
Điểm tối đa cho phần đánh giá kiến thức là 24 điểm.
- Kiến thức phòng bệnh TCM đạt: Khi ĐTNC trả lời được 12 điểm/24 điểm,
trong đó trả lời được ít nhất 3 trong 6 khuyến cáo của Bộ Y tế về phòng
bệnh TCM.
- Kiến thức phòng bệnh TCM không đạt: ĐTNC trả lời dưới 12 điểm/24 điểm,
trong đó không trả lời được ít nhất 03 trong 6 khuyến cáo của Bộ Y tế về phòng
bệnh TCM.
• Cách đánh giá điểm thực hành: Mỗi thực hành đúng được tính điểm theo
trọng số, ĐTNC có bao nhiêu thực hành đúng được tính bấy nhiêu điểm
theo trọng số và đánh giá đạt hay không đạt. Điểm tối đa cho phần đánh giá
thực hành là 11 điểm.
- Thực hành phòng bệnh TCM đạt: ĐTNC trả lời được 6 điểm/11 điểm, trong

cung cấp thông tin về sự khác biệt kiến thức/thực hành trước và sau can thiệp của
nhóm can thiệp và nhóm chứng là khác nhau sau khi hiệu chỉnh với các biến thời
gian và can thiệp.
Can thiệp được xem là có hiệu quả khi kiểm định hệ số hồi quy β3 có ý
nghĩa thống kê (p
Nhận xét: Các đặc điểm chung của ĐTNC như: nhóm tuổi, trình độ học vấn,
nghề nghiệp ở xã An Lão và xã Đồn Xá không có sự khác biệt trước và sau can
thiệp, giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng.
3.2. Thực trạng kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay-chân-miệng của
bà mẹ có con dưới 5 tuổi năm 2013.
3.2.1. Kiến thức phòng chống bệnh tay-chân-miệng
Bảng 3.3: Kiến thức về bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi.
Xã An Lão Xã Đồn Xá
(n=105)
(n=91)
Kiến thức
p
n
%
n
%
Khả năng lây bệnh và phòng bệnh
1 Bệnh TCM là bệnh lây
94 89,5 71 78,5 >0,05
2 Bệnh có thể phòng ngừa được
88 83,8 70 76,9 >0,05
3 Trẻ em là đối tượng dễ mắc bệnh
86 81,9 66 72,5 >0,05
Đường lây truyền
4 Ăn uống/tiêu hóa
15 14,3 18 19,8 >0,05
Tiếp xúc trực tiếp với dịch của mụn,
5
59 56,2 45 49,5 >0,05
bọng nước

(n=91)


12
n
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.

Rửa tay thường xuyên bằng xà
phòng dưới vòi nước chảy
Cho trẻ ăn chín, uống sôi
Rửa sạch vật dụng chế biến thức
ăn và cho ăn trước khi sử dụng
Không cho trẻ ăn bốc, mút tay, ngậm
mút đồ chơi.
Không cho trẻ dùng chung khăn
ăn, khăn tay, cốc, bát, đĩa, thìa,...
Làm sạch đồ chơi, những nơi trẻ
hay bám tay
Thu gom phân, chất thải của trẻ
đổ vào nhà tiêu hợp vệ sinh
Không cho trẻ có biểu hiện bệnh
đến lớp và tiếp xúc với trẻ bệnh.
Vệ sinh nhà cửa sạch sẽ

13

14,3

>0,05

4

3,8

6

6,6

>0,05

6

5,7

1

1,1

>0,05

12

11,4


5
Nhận xét: Các bà mẹ biết kiến thức về bệnh không được đầy đủ ở hai xã.
Không có sự khác biệt về tỷ lệ kiến thức các biện pháp phòng bệnh TCM của bà
mẹ có con dưới 5 tuổi ở xã An Lão và Đồn Xá.
Bảng 3.5: Mức độ kiến thức về bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi.

9.

32

Xã An Lão
Xã Đồn Xá
(n=105)
(n=91)
p
n
%
n
%
Không đạt
99
94,3
89
97,8
>0,05
Đạt
6
5,7
2
2,2

Không cho trẻ ăn bốc, mút tay, ngậm
7
6,7
mút đồ chơi
Không cho trẻ dùng chung khăn ăn,
1
1,0
khăn tay, cốc, bát, đĩa, thìa, ...
Làm sạch đồ chơi và đồ dùng,
9
8,6
những nơi trẻ hay bám tay
Vệ sinh nhà cửa sạch sẽ
35 33,3
Thu gom, xử lý phân, chất thải của
5
4,8
trẻ và đổ vào nhà tiêu hợp vệ sinh

Các biện pháp thực hành đã thực
hiện
1
2
3
4
5
6
7
8



11

12,1

>0,05

26

28,6

>0,05

1

1,1

>0,05

Nhận xét: Không có sự khác biệt về tỷ lệ thực hành các biện pháp phòng bệnh
TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi ở xã An Lão và Đồn Xá.


14
Bảng 3.7: Mức độ thực hành phòng bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi.
Mức độ thực
hành
Không đạt
Đạt
Tổng


Biểu đồ 3.4: Mối liên quan giữa điểm kiến thức và điểm thực hành phòng bệnh
TCM cho trẻ của bà mẹ có con dưới 5 tuổi.
Phương trình tuyến tính:
Thực hành phòng bệnh TCM = 0,343 x Kiến thức về bệnh TCM - 0,551
Có mối liên quan giữa kiến thức và thực hành phòng bệnh TCM cho trẻ
của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi (p
(4)
(%)
n=105
n=250
n=91 n=250
n
% n
% n % n %
Khả năng lây truyền và phòng bệnh
Bệnh TCM là
7 78, 21
94 89,5 243 97,2
87,2 >0,05 0,05 0,05
75 71,4 240 96,0
74,0 >0,05


17
Rửa sạch vật
dụng ăn uống
9
trước khi sử
dụng
Không cho trẻ ăn
bốc, mút tay, ngậm 4
mút đồ chơi
Không cho trẻ
dùng chung khăn
ăn, khăn tay, vật
6
dụng ăn uống như
cốc, bát, đĩa,
thìa, ...
Làm sạch đồ
chơi, những nơi 12
trẻ hay bám tay
Thu gom phân,
chất thải của trẻ
2
đổ vào nhà tiêu
hợp vệ sinh
Không cho trẻ có
biểu hiện bệnh
đến lớp và tránh 6
tiếp xúc với trẻ


1,9

132 52,8

3

3,3 20 8,0 >0,05 0,05 0,05
con dưới 5 tuổi trước và sau can thiệp, với p
T
(%)

34 32,4 244 97,6 32 35,2 130 52,0 >0,05

0,05

0,05

0,05


998,4

35 33,3 243 97,2 26 28,6 115 46,0 >0,05


xã đối chứng (2,4%). Hiệu quả can thiệp mức thực hành đạt là 1918,9%.
• Đánh giá kết quả can thiệp dựa vào phân tích DID (Different in different).
- Đánh giá hiệu quả can thiệp thay đổi kiến thức phòng bệnh TCM của bà
mẹ có con dưới 5 tuổi:
Bảng 3.18: Hiệu quả can thiệp thay đổi kiến thức phòng chống bệnh TCM
95%CI for EXP(B)
Các yếu tố
Hệ số B
p
Exp(B)
Lower
Upper
(β0) Hằng số
-3,795 0,000
0,022
(β1) Thời gian
0,493
0,551
1,64
0,324
8,29
(β2) Can thiệp
0,992
0,232
2,68
0,531
13,71
(β3) Tương tác
5,769
0,000 320,32

0,21
3,83
(β2) Can thiệp
0,383
0,607
1,47
0,34
6,31
(β3) Tương tác
6,078
0,000 436,10
68,48
777,11
(Thời gian * can thiệp)
* p của mô hình
truyền kiến thức về bệnh, phòng bệnh TCM đến các bà mẹ có con nhỏ nói
chung, và bà mẹ có con dưới 5 tuổi nói riêng, kiến thức phòng bệnh TCM của
các bà mẹ tốt sẽ thực hành phòng bệnh được tốt hơn. Đồng thời, cần quan tâm
hơn đối với các bà mẹ là nông dân, những bà mẹ có học vấn thấp và những bà
mẹ thuộc hộ nghèo vì trong nghiên cứu này họ có kiến thức, thực hành phòng
bệnh TCM thấp hơn những bà mẹ khác.
4.2. Kết quả can thiệp cải thiện kiến thức, thực hành phòng bệnh tay-chânmiệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã An Lão, Bình Lục, Hà Nam năm 2015
4.2.1. Các hoạt động can thiệp đã được thực hiện
• Xây dựng mạng lưới TT-GDSK: Chúng tôi đã xây dựng được mạng lưới
TT-GDSK, thành lập được ban chỉ đạo tuyến huyện, tuyến xã và phân công
trách nhiệm cho người tham gia TT-GDSK phòng bệnh TCM tại cộng đồng.
Đây là một nhân tố rất quan trọng, nếu không có sự quan tâm chỉ đạo của các
cấp chính quyền thì cũng sẽ rất khó huy động được cộng đồng tham gia.
• Kết quả phát triển tài liệu truyền thông: Qua các cuộc phỏng vấn sâu và
thảo luận nhóm với cán bộ y tế, ban chỉ đạo huyện, người dân, bà mẹ có
con dưới 5 tuổi. Tài liệu đã được các ĐTNC đánh giá cao về giá trị nội
dung, rất có ích, viết ngắn gọn, rõ ràng, đọc rất dễ hiểu. Cuốn tài liệu này
rất phù hơp cho người dân và người làm công tác tuyên truyền.
• Kết quả tập huấn, nâng cao năng lực cho cán bộ y tế.
Trong quá trình can thiệp chúng tôi đã tổ chức tập huấn cho các CBYT
kiến thức về bệnh và cách phòng bệnh TCM, kỹ năng TT-GDSK, kỹ năng tư
vấn sức khoẻ. Sau 18 tháng can thiệp, qua các cuộc phỏng vấn sâu lãnh đạo
cộng đồng, thảo luận nhóm CBYT huyện, CBYT xã/thôn và thảo luận nhóm


22
của người dân, các ý kiến đều cho rằng: Cán bộ tham gia đề tài đã được học tập
về kiến thức, kỹ năng truyền thông nên đã áp dụng vào công việc của mình tốt,
họ tự tin và chủ động hơn trong hoạt động TT-GDSK, biết kết hợp lồng ghép
hoạt động phòng bệnh TCM với các hoạt động y tế khác ở địa phương.

tốt hơn. Để phòng bệnh TCM, ngoài việc biết kiến thức về bệnh thì các bà mẹ
cần phải biết các dấu hiệu bệnh TCM chuyển nặng là rất quan trọng, vì trẻ có
những dấu hiệu này sẽ được đưa đến bệnh viện sớm để theo dõi và điều trị kịp


23
thời, giúp giảm tỷ lệ biến chứng và tử vong ở trẻ.
• Hiệu quả can thiệp thay đổi thực hành phòng chống bệnh tay-chânmiệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi.
Sau can thiệp, tỷ lệ ĐTNC thực hành các biện pháp phòng bệnh tăng lên ở
cả hai xã nhưng xã can thiệp tăng nhiều hơn so với xã đối chứng và so với trước
can thiệp (bảng 3.16, bảng 3.17). Tỷ lệ ĐTNC có thực hành chung về bệnh
TCM đạt của xã can thiệp là 95,6% cao hơn nhiều so với trước can thiệp là
4,8%, hiệu quả can thiệp đạt 1918,9%. Sự vào cuộc của các cấp chính quyền,
của các lãnh đạo cộng đồng và của người dân, đặc biệt là các bà mẹ có con dưới
5 tuổi của chương trình can thiệp đã tác động đến hành vi của người dân, đặc
biệt là bà mẹ có con dưới 5 tuổi, họ đã chủ động trong việc phòng bệnh cho gia
đình và cộng đồng, tránh sự lây lan của bệnh.
Dựa vào phân tích DID, kết quả (bảng 3.18, bảng 3.19) cho thấy các hoạt
động can thiệp tiến hành tại xã An Lão có hiệu quả, cải thiện kiến thức, thực
hành phòng bệnh TCM của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi. Sau can thiệp, khả
năng nhóm can thiệp có kiến thức phòng bệnh TCM cao gấp 320,32 lần so với
nhóm chứng có ý nghĩa thống kê với 95%CI: 42,295 - 425,95. Sau can thiệp,
khả năng nhóm can thiệp có thực hành phòng chống bệnh TCM cao gấp 436,10
lần so với nhóm chứng có ý nghĩa thống kê với 95%CI: 68,480 – 777,11.
4.2.3. Khả năng duy trì và nhân rộng hoạt động can thiệp
Hoạt động TT-GDSK đã làm thay đổi kiến thức, thực hành của đối tượng
tham gia nghiên cứu trong đó có CBYT. Với kết quả thảo luận nhóm trong ban
chỉ đạo huyện Bình Lục cũng như lãnh đạo ban ngành của xã An Lão đã đánh
giá cao giá trị của đề tài và mong muốn tiếp tục mở rộng hoạt động TT-GDSK
và khẳng định hoạt động TT-GDSK có thể duy trì được.

của bệnh và các biện pháp phòng bệnh TCM. Không có sự khác biệt giữa nhóm
can thiệp và nhóm chứng.
Tỷ lệ bà mẹ có con dưới 5 tuổi có kiến thức về bệnh và phòng chống bệnh
TCM đạt chỉ 5,7%, không đạt chiến 94,3%. Tỷ lệ bà mẹ có con dưới 5 tuổi có
thực hành phòng bệnh TCM đạt chỉ chiếm 4,8%, không đạt chiếm 95,2%.
2. Kết quả can thiệp cải thiện kiến thức, thực hành phòng chống bệnh taychân-miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã An Lão, Bình Lục, Hà Nam
năm 2015
Hoạt động can thiệp được thực hiện tại xã An Lão, huyện Bình Lục, tỉnh
Hà Nam đã thu hút được sự tham gia của chính quyền, ban ngành, đoàn thể
trong việc phòng chống bệnh TCM. Kiến thức, thực hành phòng chống bệnh
TCM sau can thiệp của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tăng lên đáng kể. Có sự khác
biệt kiến thức, thực hành phòng chống bệnh TCM giữa trước và sau can thiệp,
giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng. Tỷ lệ ĐTNC có kiến thức mức đạt về
bệnh và phòng bệnh TCM sau can thiệp đạt chiếm 97,6%. Hiệu quả can thiệp
thay đổi kiến thức phòng bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi mức đạt là
1900%, kiến thức đạt tăng thêm 91,9%.
Tỷ lệ ĐTNC thực hành phòng chống bệnh TCM mức đạt của các bà mẹ
chiếm 95,6%. Hiệu quả can thiệp làm thay đổi thực hành phòng bệnh TCM của
bà mẹ có con dưới 5 tuổi mức đạt là 1918,9%, thực hành đạt tăng thêm 90,8%.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: cần duy trì và mở rộng các hoạt động
can thiệp TT-GDSK, huy động nguồn lực của cộng đồng và nâng cao nâng lực
cho cộng đồng. Các hoạt động can thiệp phòng chống bệnh TCM có khả năng
duy trì và nhân rộng ra các xã khác của huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, phù hợp


25
với tiêu chí xây dựng nông thôn mới hiện nay.

KHUYẾN NGHỊ
Đối với các bà mẹ:

động TT-GDSK sang các xã khác trong huyện Bình Lục.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status