TÓM TẮT
Tiêu chảy là một bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa chiếm tỷ lệ cao ở trẻ em dưới 5
tuổi. Tiêu chảy cấp chiếm vị trí thứ hai về tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi sau bệnh
nhiễm khuẩn đường hô hấp (Nguyễn Tuấn Khiêm và ctv., 2011). Bệnh tiêu chảy còn là
nguyên nhân hàng đầu gây suy dinh dưỡng, chậm phát triển thể chất và tinh thần và là
điều kiện thuận lợi cho các bệnh nhiễm trùng khác. Kiến thức, thực hành của các bà
mẹ đóng vai trò quan trọng trong việc dự phòng và chăm sóc khi trẻ bệnh tiêu chảy
nhằm giảm tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong ở trẻ. Do đó đề tài “Khảo sát kiến thức và thực
hành về bệnh tiêu chảy cấp của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại khoa Tiêu hóa,
bệnh viện Nhi đồng thành phố Cần Thơ năm 2018” được nghiên cứu.
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ bà mẹ có con dưới 5 tuổi có kiến thức, thực hành đúng và tìm
hiểu các yếu tố liên quan đến bệnh tiêu chảy cấp tại khoa Tiêu hóa, bệnh viện Nhi
đồng thành phố Cần Thơ năm 2018.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 314 bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại khoa
Tiêu hóa, bệnh viện Nhi đồng thành phố Cần Thơ từ tháng 4 đến tháng 5 năm 2018
bằng bộ câu hỏi có sẵn.
Kết quả: Nghiên cứu cho thấy có 58,6% bà mẹ có kiến thức chung đúng và có 67,8%
bà mẹ có thực hành chung đúng về bệnh tiêu chảy cấp. Nghiên cứu tìm thấy các mối
liên quan giữa kiến thức và thực hành, định nghĩa tiêu chảy cấp với kiến thức, tình
trạng hiện tại của trẻ với kiến thức, trình độ học vấn với thực hành và tình trạng hiện
tại của trẻ với thực hành của bà mẹ về bệnh tiêu chảy cấp.
Kết luận: Nghiên cứu cho thấy có 58,6% bà mẹ có kiến thức chung đúng và có 67,8%
bà mẹ có thực hành chung đúng về bệnh tiêu chảy cấp. Nghiên cứu tìm thấy các mối
liên quan giữa kiến thức và thực hành, định nghĩa tiêu chảy cấp với kiến thức, tình
trạng hiện tại của trẻ với kiến thức, trình độ học vấn với thực hành và tình trạng hiện
tại của trẻ với thực hành của bà mẹ về bệnh tiêu chảy cấp. Cần tăng cường thông tin,
truyền thông – giáo dục sức khỏe đến các bà mẹ về bệnh tiêu chảy cấp.
i
ii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Đánh giá các mức độ mất nước theo chương trình phòng chống các bệnh
tiêu chảy (CDD)............................................................................................................. 5
Bảng 2.2. Đánh giá các mức độ mất nước theo chương trình hoạt động lồng ghép chăm
sóc trẻ bệnh (IMCI) dùng cho trẻ 2 tháng – 5 tuổi.........................................................5
Bảng 2.3. Đánh giá các mức độ mất nước theo chương trình hoạt động lồng ghép chăm
sóc trẻ bệnh (IMCI) dùng cho trẻ từ 1 tuần – 2 tháng tuổi.............................................6
Bảng 2.4. Lượng ORS cần dùng trong 4 giờ..................................................................8
Bảng 2.5. Số lượng dịch và thời gian truyền theo phác đồ C.........................................9
Bảng 4.1. Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu....................................................20
Bảng 4.2. Giới tính của trẻ...........................................................................................21
Bảng 4.3. Tiêm phòng sởi ở trẻ....................................................................................21
Bảng 4.4. Kiến thức của bà mẹ về bệnh tiêu chảy cấp.................................................22
Bảng 4.5. Kiến thức về đường lây truyền tiêu chảy.....................................................23
Bảng 4.6. Kiến thức về nguyên nhân gây tử vong ở trẻ tiêu chảy cấp..........................23
Bảng 4.7. Thực hành của bà mẹ về bệnh tiêu chảy cấp................................................24
Bảng 4.8. Các loại dung dịch thay thế ORS.................................................................25
Bảng 4.9. Thời điểm rửa tay của bà mẹ........................................................................25
Bảng 4.10. Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành về bệnh tiêu chảy cấp.............26
Bảng 4.11. Các yếu tố liên quan đến kiến thức về bệnh tiêu chảy cấp.........................26
Bảng 4.12. Mối liên quan giữa định nghĩa tiêu chảy cấp và kiến thức.........................27
Bảng 4.13. Mối liên quan giữa tình trạng hiện tại của trẻ và kiến thức........................27
Bảng 4.14. Các yếu tố liên quan đến thực hành về bệnh tiêu chảy cấp........................28
Bảng 4.15. Mối liên quan giữa tình trạng hiện tại của trẻ và thực hành.......................28
iii
Chương trình lồng ghép chăm sóc trẻ bệnh
MICS
Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ
ORS
Oresol
THPT
Trung học phổ thông
SDD
Suy dinh dưỡng
TC
Tiêu chảy
TCC
Tiêu chảy cấp
TĐVH
Trình độ văn hóa
báo cáo của Bộ y tế năm 2002, tiêu chảy vẫn là một trong năm bệnh truyền nhiễm có
số người mắc cao nhất. Theo Tổng cục Thống kê và UNICEF năm 2014 cho thấy vào
thời điểm trong hai tuần trước lúc điều tra tại vùng đồng bằng sông Cửu Long
(ĐBSCL) có 573 trẻ dưới 5 tuổi thì có 42 (7,4%) trẻ có biểu hiện tiêu chảy.
Bệnh viện Nhi đồng thành phố Cần Thơ là bệnh viện hạng I chuyên ngành Nhi khoa
của vùng ĐBSCL. Bệnh viện chuyên khám, điều trị chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho
trẻ em tại thành phố Cần Thơ và các tỉnh lân cận như Vĩnh Long, Sóc Trăng, Hậu
Giang,…Tại Cần Thơ, trong những năm gần đây tình hình mắc bệnh tiêu chảy ở trẻ
dưới 5 tuổi còn khá phổ biến do sự hiểu biết, thực hành chăm sóc và việc thực hiện các
biện pháp phòng bệnh của các bà mẹ chưa chính xác dẫn đến nhiều trường hợp tử
vong ở trẻ do bệnh tiêu chảy. Ngoài ra, bệnh tiêu chảy còn là nguyên nhân hàng đầu
gây suy dinh dưỡng, chậm phát triển thể chất và tinh thần và là điều kiện thuận lợi cho
các bệnh nhiễm trùng khác. Bệnh tiêu chảy cấp có thể phòng ngừa được nếu các bà mẹ
có kiến thức tốt về bệnh và thực hành phòng bệnh đúng. Tuy nhiên, hiện nay những đề
tài nghiên cứu về kiến thức và thực hành của các bà mẹ về bệnh tiêu chảy cấp vẫn còn
ít. Do đó, việc cung cấp kiến thức cho các bà mẹ là việc cần thiết phải làm lúc này.
Qua đó, các bà mẹ sẽ có thực hành đúng về việc xử trí bệnh và phòng ngừa tiêu chảy
cấp cho trẻ với hiệu quả cao hơn nhằm giảm tỷ lệ tử vong và mắc bệnh ở trẻ.
Xuất phát từ thực tế trên đề tài: “Khảo sát kiến thức và thực hành về bệnh tiêu chảy
cấp của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại khoa Tiêu hóa, bệnh viện Nhi đồng thành
phố Cần Thơ năm 2018” được thực hiện nghiên cứu với 2 mục tiêu như sau:
1. Xác định tỷ lệ bà mẹ có con dưới 5 tuổi có kiến thức và thực hành đúng về bệnh tiêu
chảy cấp tại khoa Tiêu hóa, bệnh viện Nhi đồng thành phố Cần Thơ năm 2018.
2. Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành về bệnh tiêu chảy cấp của
các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại khoa Tiêu hóa, bệnh viện Nhi đồng thành phố Cần
Thơ năm 2018.
như nhiễm trùng ngoài ruột (nhiễm khuẩn hô hấp, nhiễm khuẩn đường tiểu, viêm
màng não) hoặc tiêu chảy do kháng sinh, dị ứng thức ăn… (Bộ Y tế, 2015).
2.2.2. Cơ chế bệnh sinh tiêu chảy cấp
Trong tình trạng bệnh lý, sự hấp thu nước và muối ở ruột non bị rối loạn, nhiều nước
xuống đại tràng, không có khả năng tái hấp thu và gây tiêu chảy (Bộ Y tế, 2009).
2.3. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG BỆNH TIÊU CHẢY CẤP
2.3.1. Triệu chứng tiêu hóa
- Tiêu chảy: Xảy ra đột ngột, phân lỏng nhiều nước, nhiều lần (10-15 lần/ngày), mùi
chua, phân có thể nhầy. Trường hợp lỵ phân có thể có nước lẫn máu hoặc mũi.
- Nôn: Thường xuất hiện đầu tiên trong trường hợp tiêu chảy do Rota hoặc tiêu chảy
do tụ cầu, nôn liên tục hoặc vài lần một ngày làm trẻ mất nước, Hydro và Clo.
- Biếng ăn: Có thể xuất hiện sớm hoặc khi trẻ tiêu chảy nhiều ngày, trẻ thường từ chối
các thức ăn thông thường, chỉ thích uống nước (Lê Nam Trà và ctv., 2006).
2.3.2. Triệu chứng mất nước
Khi trẻ bị tiêu chảy, đánh giá tình trạng mất nước cần phải tiến hành trước hết.
- Toàn trạng: Bình thường trẻ tỉnh táo, khi có mất nước sẽ kích thích quấy khóc, có thể li
bì hay hôn mê khi mất nước nặng hoặc sốc do giảm khối lượng tuần hoàn.
- Khát nước: Cho trẻ uống nước bằng cốc, hoặc bằng thìa và quan sát trẻ
+ Uống bình thường: Trẻ uống nhưng không thích lắm hoặc từ chối uống khi chưa có
biểu hiện mất nước trên lâm sàng.
+ Trẻ khát nước khi uống một cách háo hức, vồ lấy thìa hay cốc nước hoặc khóc khi
ngừng cho trẻ uống. Trẻ có thể không uống được hoặc uống kém do trẻ li bì hoặc hôn
mê khi bị mất nước nặng.
- Mắt có thể bình thường, trũng hoặc rất trũng và khô. Cần chú ý hỏi so với lúc bình
thường mắt trẻ có trũng không?
- Nước mắt: Quan sát khi trẻ khóc to có nước mắt hay không? Nếu mắt khô, khóc
không có nước mắt là trẻ có mất nước.
- Miệng và lưỡi: Nếu dùng ngón tay khô và sạch sờ trực tiếp vào trong miệng và lưỡi trẻ
• Dấu véo da mất rất chậm ( >2 giây)
Có mất nước
Hai trong bốn triệu chứng sau:
• Vật vã, kích thích
• Mắt trũng
• Uống háo hức, khát
• Dấu véo da mất chậm
Không mất nước Không có đủ các dấu hiệu của hai
mức độ trên
Điều trị
Phác đồ C
Phác đồ B
Phác đồ A
Bảng 2.2. Đánh giá các mức độ mất nước theo chương trình hoạt động lồng ghép chăm
sóc trẻ bệnh (IMCI) dùng cho trẻ 2 tháng - 5 tuổi (Bộ Y tế, 2015)
Dấu hiệu mất nước
Phân loại mức độ mất nước
Hai trong bốn triệu chứng sau:
Mất nước nặng
• Li bì khó đánh thức
• Mắt trũng
• Uống kém hay không uống được
• Nếp véo da mất rất chậm
Hai trong bốn triệu chứng sau:
Có mất nước
• Vật vã, kích thích
+ Nồng độ Na+ bình thường (130-150 mmol/l)
+ Nồng độ thẩm thấu huyết tương bình thường (275-295 mosmol/l)
+ Mất nghiêm trọng dịch ngoài tế bào gây giảm khối lượng tuần hoàn
- Mất nước ưu trương (tăng natri máu):
+ Mất nước nhiều hơn mất Na+
+ Nồng độ Na+ máu tăng cao (trên 150 mmol/l)
+ Độ thẩm thấu huyết thanh tăng (trên 295 mosmol/l)
+ Trẻ kích thích, khát nước dữ dội, co giật xảy ra khi Na máu tăng trên 165 mmol/l.
- Mất nước nhược trương:
+ Mất muối nhiều hơn mất nước
+ Nồng độ Na+ máu thấp (dưới 130 mmol/l)
+ Độ thẩm thấu huyết tương giảm (dưới 275 mosmol/l)
+ Trẻ li bì, đôi khi co giật.
2.5.2. Nhiễm toan chuyển hóa
pH < 7.2, HCO3−
* Lưu ý: Một số chất lỏng có khả năng nguy hiểm và cần tránh khi tiêu chảy. Chất lỏng
nên tránh: Cà phê, nước uống có gas, nước trái cây công nghiệp, trà đường, trà thuốc
(WHO, 2005; Bộ Y tế, 2009).
Phác đồ B – Điều trị có mất nước
Bảng 2.4. Lượng ORS cần dùng trong 4 giờ
Tuổi (*)
≤4 tháng
4 - ≤12 tháng
12 tháng - ≤2 tuổi
2 tuổi - ≤5 tuổi
Cân nặng
Bảng 2.5. Số lượng dịch và thời gian truyền theo phác đồ C
Tuổi
Lúc đầu cho 30 ml/kg
Sau đó truyền 70 ml/kg
Trẻ nhỏ dưới 12 tháng
1 giờ
5 giờ
Trẻ trên 12 tháng – 5 tuổi
30 phút
2 giờ 30 phút
- Truyền lặp lại nếu mạch quay còn yếu hoặc không bắt được.
b) Trường hợp không có khả năng truyền tĩnh mạch ngay trong 30 phút phải chọn
cách bù khác:
- Bù dịch bằng ống thông dạ dày: Số lượng dịch đưa vào qua ống thông dạ dày khoảng
20ml/kg/giờ, nếu đưa nhanh hơn sẽ gây trướng bụng và nôn.
- Nếu không đặt được ống thông dạ dày hoặc không thể truyền tĩnh mạch được cần
phải tiếp tục cho trẻ uống 20 ml/kg/giờ nếu trẻ có thể uống được (1 thìa ORS/ 1 phút).
c) Đánh giá lại bệnh nhân:
- Cần đánh giá sự tiến triển của các triệu chứng mất nước hằng giờ, nếu những dấu
- Không nên cho trẻ ăn những rau sợi thô, củ quả, hạt ngũ cốc có nhiều chất xơ vì khó
tiêu hóa.
- Nước cháo loãng chỉ có tác dụng bù nước nên chỉ làm cho trẻ có cảm giác no mà
không đủ chất dinh dưỡng.
- Những thức ăn chứa quá nhiều đường có thể gây tiêu chảy thẩm thấu gây tiêu chảy
nặng hơn (Bộ Y tế, 2009).
2.8. PHÒNG BỆNH TIÊU CHẢY CẤP
- Nuôi con bằng sữa mẹ: Cho trẻ bú mẹ ngay sau sinh và bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6
tháng đầu.
- Cho trẻ ăn bổ sung từ 4–6 tháng.
- Thức ăn phải được nấu kỹ, nghiền nhỏ và ăn ngay sau khi chế biến.
- Sử dụng nguồn nước sạch cho vệ sinh và ăn uống.
- Rửa tay sạch trước khi chế biến thức ăn, sau khi đi tiêu và làm vệ sinh.
- Thực hiện an toàn vệ sinh thực phẩm khi chế biến hoặc bảo quản thức ăn.
- Xử lý phân an toàn, kể cả phân trẻ.
- Sử dụng hố xí hợp vệ sinh.
- Chủng ngừa cho trẻ, đặc biệt là bệnh sởi. (Đinh Ngọc Đệ và ctv., 2012; Bộ Y tế,
2015; Trương Thanh Phương, 2009)
2.9. NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
Kiến thức, thái độ và thực hành của các bà mẹ về bệnh tiêu chảy cấp có vai trò rất
quan trọng trong việc chăm sóc trẻ nhỏ bị bệnh tiêu chảy cấp. Điều đó tác động đến
hiệu quả điều trị bệnh cho trẻ. Bên cạnh đó, việc phòng ngừa tiêu chảy cấp cho trẻ là
điều cần thiết mà mỗi bà mẹ cần phải hiểu rõ để tránh ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ.
Trong nước và trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành
của các bà mẹ trong việc chăm sóc và phòng ngừa về bệnh tiêu chảy cấp cho trẻ nhỏ
dưới 5 tuổi.
2.9.1. Nghiên cứu trong nước
Tại miền Bắc nước ta đã có nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Kim Chi (2013) được thực
hiện tại khoa Nhi, bệnh viện Bạch Mai cho thấy tỷ lệ các bà mẹ có hiểu biết đúng về
Tại xã Vĩnh An, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre năm 2004 đã được tác giả Lê Hồng Phúc
và Lý Văn Xuân chọn làm địa điểm nghiên cứu đề tài “Kiến thức, thái độ, thực hành
của bà mẹ có con dưới 5 tuổi trong xử lý bệnh tiêu chảy cấp trẻ em tại nhà”, kết quả
nghiên cứu này cho thấy rằng trong 335 bà mẹ thì có 26,9% bà mẹ có kiến thức đúng
về xử lý bệnh tiêu chảy cấp tại nhà cho trẻ và chỉ có 17,3% bà mẹ có thực hành đúng
về xử lý tiêu chảy cấp.
2.9.2. Nghiên cứu ngoài nước
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành của các bà mẹ
trong việc chăm sóc và phòng ngừa về bệnh tiêu chảy cấp cho trẻ nhỏ dưới 5 tuổi.
Ngoài ra còn có nhiều nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến bệnh tiêu chảy cấp.
Theo báo cáo “Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ (MICS) Việt Nam” của
Tổng cục Thống kê và UNICEF năm 2014 về vấn đề thói quen cho trẻ ăn và uống
trong thời gian bị tiêu chảy. Kết quả có 23,4% trẻ được cho uống ít hơn bình thường,
về khẩu phần ăn lại có đến 50,2% trẻ được cho ăn ít hơn bình thường. Trong khi đó, tại
quốc gia Pakistan đã có nghiên cứu về “Kiến thức, thái độ và thực tiễn của các bà mẹ
liên quan đến các yếu tố nguy cơ tiêu chảy và chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi” tại huyện
Dadu và Badin do tác giả Aneela Iqbal Khan và cộng tác viên cùng thực hiện nghiên
cứu vào năm 2014. Kết quả đưa ra rằng có đến 55% ở Badin và 53% ở Dadu nói rằng
chế độ ăn uống của trẻ nên ít hơn bình thường trong suốt thời kỳ bị tiêu chảy.
Ở một nghiên cứu khác do V. Prasanna Rani và cộng tác viên nghiên cứu về “Kiến
thức và thái độ của các bà mẹ về bệnh tiêu chảy, ORS và thực hành dinh dưỡng ở trẻ
dưới 5 tuổi ở vùng nông thôn Ranga Reddy, Telangana” năm 2014 cho thấy rằng có
đến 23 (11%) các bà mẹ trong số 210 bà mẹ đã không cho uống bất cứ gì trong thời kỳ
tiêu chảy. Có 82 (39%) bà mẹ không nhận thức được các tác dụng của kẽm.
Một nghiên cứu đã được tiến hành vào năm 2016 tại quận Fagita Lekoma, vùng Awi,
bang Amhara, Tây Bắc Ethiopia – một quốc gia nằm ở phía đông châu Phi, tác giả
Bogale Kassahun Desta và cộng tác viên đã nghiên cứu về “Kiến thức, thực hành và
các yếu tố liên quan đến việc quản lý tiêu chảy ở người chăm sóc trẻ em dưới 5 tuổi”
3.2.2. Mẫu nghiên cứu
3.2.2.1. Cỡ mẫu
Cỡ mẫu được tính theo công thức:
n = Z2 (1−α/2)
p (1 − p )
d2
Trong đó:
n: Là cỡ mẫu (số bà mẹ có con dưới 5 tuổi cần nghiên cứu)
Z: Là độ tin cậy, chọn Z = 95%
α: Mức ý nghĩa thống kê là 0,05 vì nghiên cứu cần độ tin cậy 95%, nên Z (1−α/2) = 1,96
d: Là sai số tuyệt đối, chọn d = 0,05
p: Là tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng trong việc xử lý trẻ bị tiêu chảy cấp tại nhà (theo
nghiên cứu của Lê Hồng Phúc và Lý Văn Xuân về “Kiến thức, thái độ, thực hành của
bà mẹ có con dưới 5 tuổi trong xử lý bệnh tiêu chảy cấp tại nhà ở xã Vĩnh An, huyện
Ba Tri, tỉnh Bến Tre năm 2004” cho kết quả tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về xử lý
tiêu chảy cấp là 26,9%).
Do đó chọn p = 0,27
Thay vào công thức ta được:
n = (1,96)2
0,27(1 − 0,27)
= 303
0,052
Từ công thức trên tính ra được n = 303
Vì cần ước lượng hao hụt 10% nên cỡ mẫu sẽ khảo sát là 335 bà mẹ có con dưới 5
+ 2 con
+ >2 con
3.2.3.2. Thang điểm đánh giá kiến thức và thực hành
Tổng số điểm tối đa là 20 điểm, mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, trả lời sai được 0
điểm.
* Kiến thức về bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ dưới 5 tuổi.
Kiến thức đúng: Khi đối tượng trả lời đúng ≥6/10 (tương đương với ≥60%) câu trả lời
phần kiến thức.
Kiến thức chưa đúng: Trả lời đúng
* Thực hành về bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ dưới 5 tuổi
Thực hành đúng: Khi đối tượng trả lời đúng ≥6/10 (tương đương với ≥60%) câu trả
lời phần thực hành.
Thực hành chưa đúng: Trả lời đúng
3.2.4. Phương pháp thu thập số liệu và kiểm soát sai số
3.2.4.1. Phương pháp thu thập
Sử dụng bộ câu hỏi để thực hiện thu thập số liệu bằng cách phỏng vấn trực tiếp kết
hợp với điền câu trả lời của người được phỏng vấn.
Các bước tiến hành thu thập số liệu:
Quá trình thu thập số liệu được tiến hành ngay tại khoa Tiêu hóa, bệnh viện Nhi đồng
thành phố Cần Thơ. Trình tự thực hiện gồm:
- Lập danh sách mẫu nghiên cứu gồm 335 bà mẹ có con dưới 5 tuổi.
- Tiếp xúc với từng đối tượng: giới thiệu bản thân, giới thiệu về nội dung và mục đích
nghiên cứu của phỏng vấn viên, thời gian thực hiện nội dung phỏng vấn khoảng 30-40
phút.
- Sau khi bà mẹ đồng ý tham gia, phỏng vấn viên tiến hành phỏng vấn theo trình tự các
câu hỏi trong bộ câu hỏi có sẵn, đồng thời tiến hành ghi chép lại nội dung trả lời của
đối tượng được phỏng vấn.
3.2.4.2. Phương pháp kiểm soát sai số
Bộ câu hỏi được sử dụng điều tra thử ở những đối tượng tương tự sau đó chỉnh sửa cho
phù hợp mới đưa vào nghiên cứu chính thức.
3.2.5. Công cụ thu thập số liệu
Sử dụng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn để điều tra.
3.2.6. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
- Nhập số liệu và phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0.
- Tính tần số, tỷ lệ phần trăm.
3.3. ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này dựa trên cơ sở giúp cho mọi người, đặc biệt là các bà mẹ có thêm kiến
thức, thực hành cũng như tăng cường sự hiểu biết và biết cách xử trí khi trẻ bệnh tiêu
chảy cấp, từ đó giúp cho bà mẹ hạn chế được các yếu tố nguy cơ và ngăn ngừa biến
chứng của bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ.
Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu đều đã được giải thích cụ thể về nội dung và
33,8
≥41 tuổi
25
8,0
Kinh
310
98,7
Hoa
0
0
Khmer
4
1,3
Khác
0
1,6
Dưới lớp 9
21
6,7
Trên lớp 9
187
59,6
Cao đẳng, đại học
99
31,5
Sau đại học
7
2,2
1 con
147
tiến hành nghiên cứu.
Về dân tộc chiếm đa số là dân tộc Kinh với 98,7%. Nhóm bà mẹ có nghề nghiệp buôn
bán chiếm cao nhất với 41,4%. Thấp nhất là 1,6% với nhóm nghề nghiệp khác.