1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thời kỳ sinh nở của người phụ nữ là một giai đoạn vô cùng quan trọng
do có những thay đổi mạnh mẽ về thể chất, sinh lý, cảm xúc đồng thời với sự
nảy sinh các mối quan hệ mới và là bước chuyển đổi vai trò từ “người phụ
nữ” trở thành “người mẹ”. Đây cũng là giai đoạn mà sức khỏe của người mẹ
và của trẻ sơ sinh cần được quan tâm nhiều nhất.
Theo tổ chức y tế thế giới, 303.000 phụ nữ tử vong có liên quan đến
mang thai và sinh nở, 5,9 triệu trẻ dưới 5 tuổi tử vong và trong số đó 45% là tử
vong trong vòng 28 ngày sau sinh [1]. Ở Châu Phi, nơi có tỷ lệ tử vong sau sinh
cao nhất thế giới, mỗi năm có khoảng 1,16 triệu trẻ em tử vong trong 28 ngày
đầu sau sinh và có 850.000 trẻ không thể sống sót sau tuần đầu tiên. Ở Việt
Nam, theo số liệu của Bộ Y tế năm 2009, tỷ lệ tử vong bà mẹ (MMR) là
69/100.000 trẻ đẻ sống và tỷ lệ tử vong sơ sinh (IMR) là 16/1000 trẻ đẻ sống [2].
Chăm sóc trước sinh là chăm sóc những sản khoa cho người phụ nữ
tính từ thời điểm có thai cho đến trước khi đẻ nhằm đảm bảo cho quá trình
mang thai được an toàn, sinh con khỏe mạnh và được chuẩn bị nuôi dưỡng
tốt. Nội dung bao gồm: giáo dục, điều trị những tình trạng bệnh lý hoặc biến
chứng xảy ra trong thời kỳ có thai, sàng lọc những nguy cơ, hướng dẫn và xác
định nơi sinh, giải thích những biến chứng có thể xảy ra, địa điểm khám và xử
trí để đảm bảo an toàn [3]. Hai tuần đầu sau sinh là khoảng thời gian mà tần
suất xuất hiện của các biến chứng sau sinh phổ biến nhất. Các biến chứng sau
sinh có thể xảy ra đối với sản phụ bao gồm: chảy máu, bế sản dịch, nhiễm
khuẩn sinh dục và tiết niệu, các tổn thương ở vú, tầng sinh môn, hoặc rối loạn
tâm thần sau sinh... Trẻ sơ sinh có thể có những vấn đề sức khỏe như nhiễm
khuẩn đường hô hấp, nhiễm trùng rốn, vàng da bệnh lý... [4]. Nếu bản thân bà
mẹ có nhiều kiến thức và hiểu biết về chăm sóc trước, trong và sau sinh cũng
như sự giúp đỡ của những người thân trong gia đình, đặc biệt là sự quan tâm
và chăm sóc của cán bộ y tế sẽ góp phần giảm thiểu tỷ lệ tử vong và bệnh tật
ở bà mẹ và trẻ sơ sinh, đảm bảo sự an toàn, phòng tránh hoặc phát hiện sớm
đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “Nghiên cứu kiến thức, thực hành về
chăm sóc trước, trong, sau sinh và một số yếu tố ảnh hưởng của các bà mẹ
có con dưới 1 tuổi tại tỉnh Đắc Lắc năm 2016” với 2 mục tiêu chính:
1. Mô tả thực trạng kiến thức, thực hành về chăm sóc trước, trong, sau
sinh của các bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại tỉnh Đắc Lắc năm 2016.
2. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức và thực hành về chăm
sóc trước, trong và sau sinh của các bà mẹ trên.
3
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Một số khái niệm
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG), mỗi năm có khoảng 530.000
phụ nữ bị tử vong trong lúc mang thai hoặc khi sinh, hơn 3 triệu trẻ sơ sinh bị
tử vong chu sinh, hơn 4 triệu trẻ sơ sinh tử vong trong tháng đầu tiên sau sinh,
640 triệu phụ nữ ốm yếu do liên quan đến thai nghén, 64 triệu phụ nữ phải
chịu đựng những biến chứng khi sinh [13], [14], [15].
Trên thế giới, khoảng 60-80% các ca tử vong bà mẹ do xuất huyết,
nhiễm trùng, chuyển dạ đình trệ, tăng huyết áp trong thời kỳ mang thai (bao
gồm cả tiền sản giật) và những biến chứng của nạo phá thai không an toàn.
Những biến chứng này là không thể đoán trước được và hầu hết xảy ra trong
vòng vài giờ hoặc vài ngày sau sinh [16].
Tỷ lệ tử vong bà mẹ khi sinh là một chỉ số sức khỏe chỉ ra sự khác biệt
lớn nhất giữa các quốc gia đang phát triển và các nước công nghiệp. Trong
cuộc sống, nguy cơ xảy ra tử vong với phụ nữ khi mang thai hay sinh nở được
ước tính là 1/23 đối với phụ nữ Châu Phi, khi so với tỷ lệ này là xấp xỉ
1/10.000 của phụ nữ Bắc Âu [17]. Hàng năm có khoảng 36.000 ca tử vong bà
mẹ tại 12 quốc gia vùng Đông và Nam Châu Á. Bốn nước (Campuchia, Lào,
Thai nghén là giai đoạn nhiều nguy cơ tiềm ẩn, có thể dẫn dến những
vấn đề sức khoẻ trầm trọng như bệnh tật và tử vong mà bất cứ một phụ nữ nào
cũng có thể mắc phải trong thời kỳ mang thai. Để hạn chế những vấn đề sức
khỏe đó, khám thai là một biện pháp hết sức quan trọng. Tại Việt Nam, trong
một kỳ thai nghén người phụ nữ cần được khám thai định kỳ ít nhất 3 lần ở 3
quý của thai kỳ [22], [3].
Người mẹ đi khám thai sớm và đầy đủ cho đến khi sinh là yếu tố quan
trọng để tránh rủi ro cho bà mẹ và thai nhi. Khám thai mỗi tháng một lần cho
5
đến khi được 28 tuần tuổi, sau đó cứ hai tuần một lần cho đến khi được 36
tuần, sau đó nên khám thai hàng tuần cho đến tuần thứ 40. Chất lượng bảo vệ
thai tăng lên theo số lần khám thai [23], [24].
Tiêm phòng uốn ván
Bệnh uốn ván là một trong năm tai biến sản khoa thường gặp, đây là
một bệnh nặng, tỷ lệ tử vong cao cho mẹ và trẻ sơ sinh [23], [24]. Để dự
phòng tai biến này, khi có thai các thai phụ cần đi khám thai sớm và khám
thai định kỳ đủ 3 lần, qua khám thai cán bộ y tế sẽ giúp thai phụ tiêm phòng
uốn ván, đồng thời kiểm tra xem việc tiêm phòng uốn ván có được thực hiện
đầy đủ không.
Uốn ván sơ sinh là một trong 5 tai biến sản khoa mà chúng ta có thể
phòng chống được nếu trong thời gian mang thai người phụ nữ được tiêm đủ
2 mũi uốn ván (Nếu người phụ nữ đã được tiêm phòng uốn ván trong lần
mang thai trước, thì lần mang thai này chỉ cần tiêm một mũi thêm).
Chế độ ăn uống của bà mẹ khi mang thai
Chế độ ăn uống của bà mẹ có vai trò quan trọng quyết định đối với sự
phát triển của thai nhi. Nếu bà mẹ được ăn uống tốt, đầy đủ các chất dinh
dưỡng thì bà mẹ sẽ lên cân tốt. Trong suốt thời kỳ có thai, bà mẹ cần tăng
Tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ
Hoạt động tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ nêu lên lợi ích của việc nuôi con
bằng sữa mẹ; hướng dẫn bà mẹ đầy đủ về kỹ thuật nuôi con bằng sữa mẹ và
giải thích lợi ích của bú mẹ; cách giữ gìn nguồn sữa mẹ; hỏi kinh nghiệm nuôi
con của bà mẹ; giải thích tầm quan trọng của việc chăm sóc vú và xin phép
khám núm vú và tạo niềm tin là tất cả bà mẹ đều có thể nuôi con bằng sữa mẹ.
Tư vấn thiếu máu cho bà mẹ mang thai [25], [23].
Để phòng chống thiếu máu, bên cạnh việc đảm bảo chế độ dinh dưỡng,
chế độ làm việc hợp lý, tất cả phụ nữ có thai cần uống thêm viên sắt/folic.
Nguyên tắc sử dụng là càng sớm càng tốt, ngày uống 1 viên trong suốt thời
7
gian có thai đến hết 1 tháng sau đẻ. Tối thiểu uống trước đẻ 90 ngày và kéo
dài sau đẻ 42 ngày. Nếu thai phụ có biểu hiện thiếu máu rõ rệt có thể tăng từ
liều dự phòng lên liều điều trị 2-3 viên/ngày. Việc tuân thủ theo chế độ trên là
rất quan trọng để dự phòng và điều trị thiếu máu.
Tỷ lệ tử vong khi đẻ ở những người mẹ thiếu máu cao hơn hẳn ở bà mẹ
bình thường. Do đó người ta đã coi thiếu máu là một yếu tố nguy cơ trong sản
khoa. Đối với con, thiếu máu thường gây tình trạng đẻ non và tử vong sơ sinh
cao. Thiếu máu dinh dưỡng ở trẻ sơ sinh thường là do mẹ bị thiếu sắt nên
lượng sắt dự trữ của cơ thể trẻ thấp.
* Dấu hiệu nguy hiểm trước sinh
Trong quá trình mang thai, có khá nhiều nguy cơ có thể dẫn đến tai biến
sản khoa, Những nguy cơ này được biểu hiện bằng một số các dấu hiệu nguy
hiểm như ra máu nhiều, đau bụng, nôn, phù, tăng huyết áp,…Theo TCYTTG,
bất kỳ ở quốc gia nào, tỷ lệ phụ nữ mang thai có nguy cơ mắc tai biến sản
khoa hằng đinh vào khoảng 15%. Những dấu hiệu nguy hiểm thường thấy
nhất trong khi mang thai bao gồm chảy máu âm đạo nghiêm trọng, phù
chuyên môn giúp đỡ trong suốt quá trình này.
Các bà mẹ có rất nhiều lựa chọn về địa điểm sinh con mà thống nhất là
đẻ ở tại cơ sở y tế, do cán bộ y tế đỡ đẻ. Một số điểm cần lưu ý đến chăm sóc
khi đẻ như sau: các điều kiện và phương tiện đỡ đẻ sạch, đỡ đẻ kịp thời phòng
tránh và xử trí kịp thời, con đẻ ra luôn được ở cạnh mẹ, được hỗ trợ tinh thần
và thể lực trong lúc sinh con, bà mẹ cho trẻ con bú sớm sau đẻ trong vòng 30
phút đến 1 giờ.
Tư vấn cho sản phụ
Nguyên tắc chung về tư vấn trong chuyển dạ là động viên để sản phụ
bớt lo âu, lắng nghe những điều khiếnbản thân gia đình và sản phụ lo lắng,
thông cảm và tôn trọng những truyền thống văn hoá và tôn giáo của sản phụ.
Nói cho sản phụ và gia đình họ biết những điều có thể xảy ra và làm cho sản
9
phụ hiểu về tình trạng của họ và cách xử trí để làm giảm sự lo âu và giúp họ
chuẩn bị trước cho những tình huống có thể xảy ra. Thông báo cho sản phụ và
gia đình về những tai biến thường gặp khi chuyển dạ.
Các nguyên tắc theo dõi khi chuyển dạ thường
Tốt nhất bà mẹ phải được theo dõi chuyển dạ tại cơ sở y tế. Người nữ
hộ sinh phải giải thích những lợi ích của việc đẻ tại cơ sở y tế để sản phụ
được chăm sóc chu đáo. Trong trường hợp không thể đến được cơ sở y tế, nên
mời cán bộ y tế có chuyên môn đỡ. Phải theo dõi chuyển dạ bằng biểu đồ
chuyển dạ một cách toàn diện, có hệ thống, phải thành thạo các thao tác
chuyên môn, phải biết ghi và phân tích được một biểu đồ chuyển dạ để phát
hiện các yếu tố bất thường trong theo dõi chuyển dạ, kịp thời gửi đi bệnh viện
tuyến trên để đảm bảo sự an toàn cho mẹ và con.
Nếu sản phụ được quyết định đẻ tại cơ sở y tế, người nữ hộ sinh cần
chuẩn bị những dụng cụ tối thiểu, cần thiết và đảm bảo vô khuẩn cùng với
• Cho trẻ nằm thoải mải trên ngực người mẹ, da áp da.
• Cho trẻ bắt vú (dấu hiệu trẻ sẵn sàng là mở miệng, quay về phía vú,
nhìn quanh).
Tư thế bú đúng
• Giữ cho đầu và thân bé thẳng.
• Mặt bé hướng về phía vú, mũi ứng với núm vú.
• Áp thân bé vào thân người mẹ.
• Nâng toàn bộ thân bé, không chỉ nâng cổ và vai.
• Bà mẹ cho núm vú chạm vào môi bé.
• Ðợi khi miệng bé mở rộng chuyển nhanh núm vú vào miệng bé, giúp
bé ngậm sâu tới tận quầng vú.
• Mút vú có hiệu quả là mút chậm, sâu, có nghỉ.
• Hỗ trợ tại nhà nếu cần thiết.
• Hướng dẫn sản phụ các tư thế cho trẻ bú: ngồi, nằm nghiêng.
11
Dấu hiệu nguy hiểm trong khi sinh
Mỗi năm có khoảng 10-15 triệu phụ nữ phải chịu hậu quả từ những biến
chứng từ quá trình mang thai và sinh đẻ [30]. Nguyên nhân chính gây tử vong
mẹ có thể kể đến băng huyết sau sinh, sản giật, chuyển dạ kéo dài và nhiễm
trùng [31]. Hậu quả của những biến chứng nguy hiểm trong khi sinh của bà
mẹ sẽ dẫn đến trẻ sơ sinh bị ngạt, chiếm hơn 50% tử vong sơ sinh giai đoạn
sớm tại Tanzania [32]. Theo nghiên cứu mới đây nhất của tổ chức Y tế thế
giới (WHO) thì tử vong mẹ do chảy máu sau sinh chiếm 29,9% trong tổng số
những nguyên nhân gây tử vong mẹ [33] tiếp sau đó là tử vong do cao huyết
áp và nhiễm trùng. Những tai biến trong quá trình sinh đẻ của người phụ nữ
có thể tránh được bằng cách theo dõi đánh giá tình trạng mẹ và thai nhi
thường xuyên, can thiệp thủ thuật kịp thời, giảm thời gian chuyển dạ, chuyển
kết thúc khi chức năng sinh lý và giải phẫu của cơ quan sinh dục của người mẹ
trở lại trạng thái bình thường và có thể sinh hoạt tình dục.
Để mô tả rõ hơn các hoạt động về chăm sóc y tế trong giai đoạn sau sinh,
giai đoạn này lại được chia ra thành các giai đoạn nhỏ:
(1) Giai đoạn ngay sau sinh (immediate postnatal): 24h đầu sau khi sổ rau
(2) Giai đoạn sau sinh sớm (early postnatal): ngày 2 đến hết tuần đầu tiên
(3) Giai đoạn sau sinh muộn (late postnatal): tuần 2 đến hết tuần 6.
Theo số liệu của Tổ chức y tế thế giới, 60,6% tử vong bà mẹ và 32% tử
vong trẻ sơ sinh xảy ra trong vòng 48h sau khi sinh. Các nghiên cứu cho thấy
rằng: nếu mẹ và con được chăm sóc y tế thích hợp sau sinh thì có đến 90%
các trường hợp có thể làm giảm tử vong sơ sinh từ 10% đến 27%.
Chăm sóc sau sinh bao gồm chăm sóc về thể chất, tinh thần đặc biệt là
chăm sóc về chuyên môn của nhân viên y tế, bản thân bà mẹ, gia đình và cộng
đồng, trong đó sự chăm sóc liên tục của nhân viên y tế là quan trọng nhất.
Dấu hiệu nguy hiểm sau sinh
Kiến thức về các dấu hiệu nguy hiểm sau sinh trong vòng 28 ngày sau
sinh của bà mẹ đóng vai trong quan trọng trong việc giảm tỷ lệ tử vong mẹ sau
sinh. Đặc biệt quan trọng hơn ở những vùng có năng lực y tế hạn chế [35]. Tuy
13
nhiên trong nhiều nghiên cứu, phần lớn bà mẹ và các thành viên trong gia đình
không nhận biết được những dấu hiệu nguy hiểm sau sinh như chảy máu âm
đạo, đau bụng dưới dữ dội, rách âm đạo…[36, 37]. Hậu quả là một khi biến
chứng xảy ra với bà mẹ thì bản thân bà mẹ và gia đình ở thế bị động đối phó
với tình huống khẩn cấp, do đó cung cấp kiến thức đầy đủ cho bà mẹ về các
dấu hiệu nguy hiểm sau sinh sẽ góp phần làm giảm biến chứng sau sinh và
giảm thời gian chậm trễ xử trí.
Các dấu hiệu nguy hiểm sau sinh bao gồm: chảy máu nhiều; sốt; co giật;
Australia
Kỳ [44, 45]
[45]
1.
Đau lưng
344 (49,4) 279 (47,4)
2.
Đau đầu
157 (22,5) 122 (20,7)
3.
Trĩ
115 (16,5) 97 (16,4)
4.
Căng giãn tĩnh mạch
572 (8,2) 105 (17,9)
11 (1,9)
9.
Nhiễm khuẩn âm đạo
16 (2,3)
27 (4,6)
10.
Giao hợp đau
83 (11,9)
92 (15,6)
394 (26,3)
11.
Lãnh cảm
122 (17,5) 147 (24,9)
242 (18,2)
12.
577 (43,5)
326 (24,6)
69 (61,7)
172 (10,7)
16 (14,3)
97 (86,6) 260 (19,6)
921 (69,4)
80 (71,4) 203 (16,9)
156 (11,6)
18.
Đau cơ đáy chậu
279 (21,0)
19.
Vấn đề khác (đau vết mổ)
147 (60,7)
Kiến thức về chăm sóc sau sinh có ý nghĩa rất cơ bản đối với bà mẹ vì
có thể giúp phát hiện sớm và xử trí kịp thời các bất thường của bà mẹ và trẻ
sơ sinh giai đoạn này, góp phần làm giảm tỷ lệ bệnh tật và tử vong mẹ - con.
16
các dịch vụ chăm sóc sau sinh. Chỉ có 7,5% các bà mẹ sinh con tại nhà được
khám lại sau sinh, trong khi tỷ lệ khám lại sau sinh ở các bà mẹ sinh con ở các
cơ sở y tế là 71%. Yếu tố cộng đồng cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến kiến
thức và thực hành cho bú sớm. Một nghiên cứu khác của tác giả Jyoti
Kulkami tại thành phố Indore trên 100 bà mẹ cho thấy một trong những
nguyên nhân không cho trẻ bú sớm đối với các bà mẹ có con so là ngượng
phải cho bú trước mặt mọi người [49]. Tỷ lệ các bà mẹ được tự quyết định
trong việc chăm sóc cho bản thân và cho con rất thấp (24,2%), trong khi
người quyết định thường là mẹ chồng: 30,9%.
Nghiên cứu về kiến thức, thực hành chăm sóc sau sinh của bà mẹ rất
thấp. Nghiên cứu của Trịnh Hữu Vách năm 2009 tại 14 tỉnh miền bắc và Tây
Nguyên cho thấy kiến thức của phụ nữ về các dấu hiệu nguy hiểm cho bà mẹ
sau sinh rất yếu, chỉ có 42,1% phụ nữ sau sinh được chăm sóc tại nhà bởi cán
bộ y tế, y tế thôn bản và bà đỡ dân gian. Chỉ có 14,9% biết thời điểm cần sử
dụng BPTT sau đẻ [50]. Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu của Lê
Thị Vân và Vương Tiến Hòa về thực trạng công tác chăm sóc sau sinh tại
huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương năm 2003 cho thấy tỷ lệ bà mẹ có kiến thức
về CSSS đạt là 40%, trong khi kiến thức về dấu hiệu nguy hiểm chỉ đạt
25,6%, kiến thức về các biện pháp KHHGĐ cũng chỉ đạt 29,2%. Chỉ có
50,7% và 59,5% các bà mẹ có kiến thức phải bổ sung viên sắt và vitamin A
thời kỳ sau sinh [51, 52].
Tổng quan hệ thống của UNFPA (2007) cũng cho thấy kiến thức của bà
mẹ về chăm sóc sau sinh rất thấp. Khoảng 3/4 các bà mẹ biết thời điểm cho
bú mẹ. Tuy nhiên các bà mẹ không biết về chế độ dinh dưỡng cần thiết cho
con, cũng như sử dụng BPTT đúng cách [4]. Đặc biệt các bà mẹ ở miền núi,
KAP về làm mẹ an toàn khá thấp (Kiến thức khá: 13,1%, thái độ đúng:
36,4%, và thực hành đúng: 10%) [53-55].
sửa đổi năm 1981, mô hình này hiện nay vẫn được coi là mô hình thích hợp
18
cho việc sử dụng dịch vụ y tế. Mô hình này chỉ ra 3 nhóm yếu tố ảnh hưởng
đến việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế:
• Nhóm các yếu tố về đặc trưng cá nhân và các yếu tố về lịch sử sinh sản.
• Nhóm các yếu tố khả năng kinh tế, khả năng tiếp cận.
•
Nhóm các yếu tố về dịch vụ y tế.
1.3.1. Ảnh hưởng nhóm yếu tố về đặc trưng cá nhân và yếu tố về tiền sử
sản khoa
Thực tế cho thấy phụ nữ tuổi càng cao thì càng ít tiếp cận với dịch vụ y
tế; những người dân tộc thiểu số thì khả năng tiếp cận kém hơn so với người
Kinh; những phụ nữ sinh nhiều con, đẻ dày, nạo hút thai nhiều lần...thì càng ít
có cơ hội tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản.
1.3.2. Tiếp cận về địa lý
Tiếp cận địa lý không chỉ bao gồm khoảng cách từ nhà đến cơ sở y tế
mà còn là chất lượng của đường xá, sự sẵn có của các loại phương tiện giao
thông. Sự khan hiếm của các phương tiện đi lại, đặc biệt ở những vùng sâu
vùng xa và điều kiện đường xá không đảm bảo đã ảnh hưởng đến việc tiếp
cận cơ sở y tế của phụ nữ. Ở nhiều nơi khó khăn, phụ nữ đi bộ đến cơ sở y tế
là việc thường gặp. Nhìn chung, khoảng cách đến cơ sở y tế thường được đo
lường bằng thời gian đến cơ sở y tế bằng các phương tiện thông thường. Theo
Campell và cộng sự, các yếu tố ảnh hưởng đến việc tìm kiếm dịch vụ CSTS
là địa điểm của cơ sở y tế và sự sẵn có của phương tiện đi lại. Nếu thời gian
đến cơ sở y tế trên 30 phút bằng các phương tiện thông thường tại địa phương
Tỷ lệ tử vong mẹ thường bị tác động bởi hủ tục truyền thống và văn
hóa mà thường cản trở phụ nữ có được sự chăm sóc sức khỏe trước trong và
sau sinh[58]. Khả năng tiếp cận dịch vụ y tế về văn hóa thường bị ảnh hưởng
là do các yếu tố về văn hóa và phong tục tập quán, khả năng giao tiếp với các
nhóm thiểu số không nói được ngôn ngữ phổ thông. Niềm tin văn hoá, cấu
trúc xã hội và đặc tính của mỗi cá nhân cũng rất quan trọng. Nhiều phụ nữ
20
cho rằng không cần thiết phải đi khám thai. Một cuộc điều tra ở Ấn Độ cho
thấy khoảng 60% phụ nữ cảm thấy chăm sóc thai nghén là không cần thiết. Ở
một số nơi, mang thai được xem như vấn đề sức khoẻ bình thường không cần
phải chăm sóc y tế, hoặc sự chăm sóc chỉ cần thiết khi người phụ nữ mang
thai cảm thấy có vấn đề. Ndyomugyenyi và cộng sự (1998) thấy rằng rất
nhiều phụ nữ trong nghiên cứu của họ tại vùng nông thôn Uganda không biết
rằng chăm sóc thai nghén là để theo dõi sự phát triển của thai nhi và tình trạng
sức khoẻ của bà mẹ. Sự thiếu hiểu biết của phụ nữ về thai sản là một vấn đề
chính. Sự mang thai ngoài ý muốn cũng là lý do làm cho các bà mẹ không đi
khám thai. 60% số người không nhận được chămsóc thai nghén là mang thai
ngoài ý muốn [59].
Yếu tố bình đẳng về giới cũng là một vấn đề quan trọng ở nhiều vùng
trên thế giới. Việc quyết định sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho bà mẹ
nhiều khi được quyết định bởi mẹ chồng, chồng hoặc các thành viên khác
trong gia đình, còn tiếng nói của bản thân người phụ nữ lại rất ít trọng lượng.
Ở nhiều nơi trên thế giới, nhiều phụ nữ thích sinh con ở nhà với sự giúp đỡ
của các bà mụ vườn hoặc người thân. Một trong những nguyên nhân đó là yếu
tố văn hoá. Bên cạnh đó, còn có một vài lý do khác như môi trường chăm sóc
y tế không thân thiện hoặc sự thiếu cảm thông của nhân viên y tế. Ở một vài
nơi khác sự có mặt của các nam nhân viên y tế là điều không thể chấp nhận
rất nhiều các phong tục truyền thống theo thiết chế gia đình và cộng đồng.
Nhiều nghiên cứu định tính và định lượng về các tập quán truyền thống chăm
sóc sau sinh đã được thực hiện. Tập quán này bao gồm rất nhiều các thực
hành như chế độ ăn, vệ sinh và các hành vi chăm sóc sau sinh. Nhiều các tập
quán này được thực hiện với niềm tin như “tránh gió”, ngồi hơ lửa, tránh ra
khỏi nhà, không tắm sau sinh. Thời gian cho mỗi tập quán theo mô tả có thể
từ 7 đến 100 ngày. Các thực hành sau khi sinh này là khác biệt giữa các dân
tộc [3], [6], [7], [10]. Một số thực hành được xếp là có lợi, tuy thế, rất nhiều
các tập quán khác là trung tính và/hoặc có hại [7].
22
Tại Lào, tỷ lệ phụ nữ chưa bao giờ đến trường cao nhất tại miền Bắc
(49,2%) và thấp nhất ở miền Trung (29%). Phụ nữ mang thai toàn quốc muốn
gặp bác sỹ, y tá, hoặc bà đỡ là (19,3%, 17,9% và 15,4%) một cách tương ứng.
Phụ nữ ở miền Trung sử dụng dịch vụ chăm sóc thời kỳ tiền sản là 37,1%,
nhiều hơn ở các vùng Miền Bắc và Miền Nam một cách tương ứng 32,5% và
24,6%. Phụ nữ ở thành thị được chăm sóc trong thời kỳ tiền sinh gấp 4 lần so
với phụ nữ ở vùng nông thôn 78,4% và 19,4% tương ứng [63].
Kết quả nghiên cứu “Đánh giá hành vi tìm kiếm và sử dụng dịch vụ
chăm sóc sức khoẻ sinh sản của phụ nữ dân tộc thiểu số” cho thấy kiến thức,
hiểu biết của phụ nữ dân tộc thiểu số ở vùng núi và đồng bằng về chăm sóc
sức khoẻ trước, trong và sau sinh còn rất hạn chế, mơ hồ thậm chí còn hiểu sai.
Mô hình hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khoẻ còn mang tính bị động.
Ở đây còn tồn tại nhiều phong tục tập quán, thói quen có ảnh hưởng xấu đến
hành vi chăm sóc sức khoẻ, coi việc sinh nở là chuyện kín đáo, cúng bái, tin
vào các bà đỡ. Bên cạnh đó thì khoảng cách địa lý, điều kiện kinh tế xã hội của
địa phương, năng lực kinh tế của gia đình, trình độ học vấn, ngôn ngữ cũng ảnh
hưởng rất lớn đến nhận thức, thái độ và hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức
lý tâm thần.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2.3.2. Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu
* Cỡ mẫu nghiên cứu: tính theo công thức tính cỡ mẫu
n=
Trong đó:
Z
2
(1−α / 2 )
p(1 − p )
d
2
n= Cỡ mẫu tối thiểu.
Z(1-α/2) = Hệ số tin cậy (Với độ tin cậy 95% thì Z=1,96).
p = Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức về chăm sóc trước, trong, sau
sinh là 22% [35].
d = Độ chính xác mong muốn (chọn d =0,04).
Cỡ mẫu tối thiểu tính được là 412 bà mẹ, chúng tôi lấy thêm 10% đề
phòng một số bà mẹ không tham gia nghiên cứu do thất lạc, được cỡ mẫu là
470 bà mẹ, thực tế phỏng vấn 497 bà mẹ.
* Chọn mẫu theo các bước sau:
dấu hiệu nguy hiểm bà mẹ khi sau sinh thường gặp, xử trí của các bà mẹ
khi xuất hiện các dấu hiệu nguy hiểm, sự cần thiết khám lại sau sinh, ủ ấm
trẻ sơ sinh, các biến chứng sau đẻ cho mẹ sơ sinh và 5 TBSK, (chảy máu,
nhiễm trùng, vỡ tử cung,..). Chỉ số tỷ lệ phần trăm về tổng số dấu hiệu bà
mẹ kể được (ra máu nhiều, sốt kéo dài, co giật, đau bụng kéo dài và tăng
lên), cách xử trí (để tự khỏi, tự điều trị, đến phòng khám tư, cúng, thầy
lang...), và cho đủ các biến số nêu trên.
2.4.3. Nhóm biến số về thực hành chăm sóc trước, trong và sau sinh
* Nhóm biến số về thực hành chăm sóc trước sinh: các biến số đã khám
thai, số lần khám thai, các lý do nếu không khám thai, nơi khám thai, số lần