Tìm hiểu kiến thức về tiêm chủng mở rộng của các bà mẹ có con dưới 1 tuổi ở huyện đông giang, tỉnh quảng nam - Pdf 19

ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức Y tế Thế giới năm 1997 tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 1 tuổi
trên thế giới vẫn còn cao 6,1%, trong đó các nước công nghiệp 0,7%, các
nước phát triển 6,7% và các nước kém phát triển 10,9%.
Tiêm chủng phòng bệnh bằng các vaccine là một thành tựu trong y học
ở thế kỷ XX, có ý nghĩa to lớn trong Y học dự phòng. Chương trình tiêm
chủng mở rộng đã góp phần làm giảm đáng kể tỷ lệ mắc và chết của trẻ em
dưới 1 tuổi và 5 tuổi về các bệnh truyền nhiễm. Ước tính hàng năm tiêm
chủng đã cứu sống khoảng 1 triệu trẻ em ở các nước đang phát triển [1]
Chương trình tiêm chủng mở rộng được triển khai ở Việt Nam từ năm
1981 được sự hỗ trợ của Tổ chức Y tế Thế giới và Quỹ nhi Đồng liên Hiệp
Quốc với vaccine phòng 6 bệnh truyền nhiễm: Bạch hầu, Ho gà, Uốn ván,
Sởi, Lao, Bại liệt cho trẻ em dưới 1 tuổi. Năm 1985 tiêm chủng mở rộng được
đẩy mạnh và triển khai trên phạm vi cả nước. Mục tiêu tiêm chủng mở rộng
đã hoàn thành với tỷ lệ 87% năm 1990 và trên 90% vào năm 1993 cho toàn
trẻ em dưới 1 tuổi trong cả nước được tiêm chủng đầy đủ 6 loại vaccin. Năm
2003 có 100% số huyện trên cả nước được tiêm vaccine viêm gan B. Năm
2004 tỷ lệ tiêm 3 mũi viêm gan B đạt 94,2%. Từ đó vaccine viêm gan B được
coi là vaccine thứ 7 trong chương trình tiêm chủng mà trẻ em Việt Nam dưới
1 tuổi phải được tiêm chủng đầy đủ [2].
Chương trình tiêm chủng mở rộng không chỉ bảo vệ sức trẻ em mà còn
có ý nghĩa chính trị xã hội và quan hệ quốc tế quan trọng [3]. Là một trong
những chương trình y tế Quốc gia ưu tiên hàng đầu và được đưa vào 10 nội
dung chăm sóc sức khỏe ban đầu, đã mang lại thành công lớn trong việc giảm
tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết ở trẻ em do 7 bệnh truyền nhiễm phổ biến gây ra. Việt
Nam ta đã thanh toán bại liệt năm 2000, dần dần loại trừ Uốn ván sơ sinh và
tiến tới khống chế bệnh Sởi.
Nâng cao sức khỏe con người là nhiêm vụ trọng tâm của ngành y tế, sự
nghiệp chăm sóc sức khỏe là sự nghiệp của toàn xã hội. Trong những năm
qua được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, chính quyền các cấp, sự phối hợp
của các ban ngành, ngành y tế đã đạt một số thành tích trong công tác chăm

và đã tiêm 2 liều vắc xin phòng uốn ván thì được tiêm 1 liều nữa) tại các
huyện điểm trên toàn quốc. Tiêu chuẩn để chọn huyện điểm là huyện có nhiều
ca đỡ đẻ tại nhà nhất, có tỷ lệ tiêm vắc xin liều thứ hai thấp nhất, có ca uốn
ván sơ sinh được báo cáo liên tục trong 3 năm qua [5].
1.2.Các hình thức tiêm chủng mở rộng:
- Tiêm chủng thường xuyên: Một hình thái của tiêm chủng được tổ chức
thường xuyên cố định vào các ngày 25-30 hàng tháng tùy điều kiện từng địa
phương. Chiến lược này chủ yếu ở thành phố, đồng bằng, nơi đông dân cư có
nhiều điều kiện thuận lợi.
- Tiêm chủng định kỳ :Tại những vùng khó khăn về giao thông, cơ sở y
tế, điện…đặc biệt là các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, áp dụng hình thức
tiêm chủng định kỳ. Đây là hình thức tiêm chủng mang tính đối phó với các
khó khăn của một số vùng đặc biệt để nâng cao tỷ lệ tiêm chủng. Hình thức
này ngày càng được thay thế bằng hình thức tiêm chủng thường xuyên để
nâng cao chất lượng của dịch vụ TCMR.
- Tiêm chủng chiến dịch : Đây là hình thức tiêm chủng đồng loạt cho
đối tượng lớn, trên phạm vi rộng trong một thời gian ngắn. Hình thức tiêm
chủng này được áp dụng trong chiến dịch những ngày tiêm chủng toàn quốc
để thanh toán bệnh bại liệt, chiến dịch tiêm nhắc mũi 2 vaccin Sởi cho trẻ em
từ 9 tháng đến 10 tuổi nhằm đạt mục tiêu loại trừ Sởi vào năm 2010
1.3. Tình hình tiêm chủng mở rộng trên thế giới
Kỷ nguyên của tiêm chủng bắt đầu từ năm 1796 khi một thầy thuốc
người Anh ở nông thôn tên là Edward Jenner, đã cấy cho một đứa trẻ 8 tuổi
những chất tiết lấy từ tổn thương của bệnh đậu bò và cho thấy rằng đứa trẻ đã
được bảo vệ chống lại bệnh đậu mùa. Sau khi tiến hành thí nghiệm này nhiều
lần với một kết quả giống hệt nhau, năm 1798 Jenner công bố kết quả nghiên
cứu vaccine phòng bệnh đậu mùa. Đến năm 1810, nhiều nước ở Châu Âu đã
thực hiện tiêm chủng bắt buộc đối với bệnh đậu mùa. Bệnh đậu mùa là bệnh
đầu tiên trên thế giới thanh toán được trong thập niên 70 của thế kỷ XX, đến
nay toàn thế giới chưa phát hiện bệnh đậu mùa quay trở lại [19]. Đây là một

truyền nhiễm. Những vaccine được dùng phổ biến trong chương trình TCMR
của nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam bao gồm: Vaccine BCG,
bại liệt, sởi và DPT… đó là những vaccine WHO và UNICEF muốn làm cho
phổ cập đến tất cả mọi người.
Chương trình TCMR được WHO chính thức thành lập và triển khai từ
năm 1974 chủ yếu phòng các bệnh bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, lao,
sởi…Thực tế cho thấy chương trình tiêm chủng hàng năm đã cứu sống hàng
triệu trẻ em ở các nước đang phát triển, tuy vậy vẫn còn hơn 3.5 triệu trẻ em
bị tử vong hoặc tàn phế mà lẽ ra có thể phòng tránh được bằng tiêm chủng
vaccine phòng bệnh [1],[10]. Tháng 5 năm 1977 Chương trình TCMR được
WHO xác định mục tiêu quan trọng là: “ Giảm tỷ lệ tử vong có thể quy cho 6
bệnh: bạch hầu, ho gà uốn ván, bại liệt, sởi, lao bằng cách tạo miễn dịch cho
tất cả các trẻ em trên toàn cầu năm 1990. Đây là những bệnh mà hàng năm
trong thập niên 70 của thế kỷ XX ước tính đã giết hại và gây ra tàn phế cho
hàng triệu trẻ em. Việc tiêm chủng phòng ngừa các bệnh trên vừa hiệu quả,
vừa an toàn và thực tế các nước đã cho thấy các trường hợp mắc, chết của 6
bệnh giảm đi một cách nhanh chóng khi hầu hết các trẻ em được tiêm vaccine
phòng bệnh. Theo dự đoán của WHO, nếu tiêm chủng cho trẻ em trên toàn
thế giới, có thể cứu sống 3 triệu trẻ em trên toàn thế giới [24].
Chương trình TCMR đã được WHO xác định là 1 trong 8 nội dung
chăm sóc sức khỏe ban đầu theo tuyên ngôn Alma- Ata năm 1978, kêu gọi và
vận động các nước thành viên thực hiện chương trình có ích trong khuôn khổ
hoạt động, nhằm thực hiện mục tiêu “Sức khỏe cho mọi người năm 2000”.
Mục đích của chương trình này là mở rộng, phát triển công tác tiêm chủng
cho toàn thể trẻ em trên toàn thế giới, đặc biệt là trẻ em ở các nước đang phát
triển sẽ được tiêm phòng 6 loại vaccine phòng 6 bệnh truyền nhiễm [25].
Cho đến nay các nước thành viên liên hợp quốc đều có chương trình
TCMR, trong đó có Việt Nam đã đạt được mục tiêu phổ cập tiêm chủng cho
trẻ em dưới một tuổi. Cách đây hai thập kỷ có 5% trẻ sơ sinh ở các nước đang
phát triển được tiêm chủng miễn dịch phòng 6 bệnh chính. Ngày nay tỷ lệ

thường xuyên, có thể vừa kết hợp tiêm chủng thường xuyên và tiêm chủng
chiến dịch. Tỷ lệ tiêm chủng được là 80% ở trẻ em trong độ tuổi tiêm chủng
trong cả nước là rất cao so với thực trạng nền kinh tế đất nước ta lúc bấy giờ.
Từ năm 1989 chuyển sang tiêm chủng thường xuyên kết hợp tiêm chủng
chiến dịch và đã duy trì tiêm chủng ở tỷ lệ cao [2],[7].
Trước năm 1985, điạ bàn thực hiện tiêm chủng chỉ giới hạn trong 1313
xã, phường thuộc 166 huyện, đến năm 1990 đã triển khai được ở 8933 xã,
thuộc 522 huyện trong cả nước. Đến năm 1995 toàn quốc đã xóa xã trắng về
TCMR. Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi tiêm chủng ngày càng cao, những năm cuối
thế kỷ XX tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ luôn đạt trên 90%.
Bảng 1.1. Kết quả tiêm chủng những năm cuối thế kỷ XX
Năm Tỷ lệ tiêm chủng (%)
1997 95,28
1998 95,10
1999 93,46
2000 96,0
2002 96,65
2004 97,0
2007 97,65
Chương trình TCMR đã đạt được một số thành tích nhất định, Chính
phủ Việt Nam đã tuyên bố thanh toán bệnh bại liệt tháng 12 năm 2000. Phấn
đấu loại trừ uốn ván sơ sinh và khống chế bệnh sởi năm 2010. Tuy nhiên việc
bảo vệ thanh quả thanh toán bệnh bại liệt là rất khó khăn vì các nước xung
quanh Việt Nam còn lưu hành bệnh bại liệt. Uốn ván sơ sinh giảm rất nhiều
nhưng số mắc còn cao ở nhiều nước. Sởi vẫn là bệnh có số ca mắc cao ở cộng
đồng, đặc biệt là bệnh sởi đang quay trở lại và mắc bệnh ở những người lớn
của miền Bắc nước ta vào những tháng cuối năm 2008 và đầu năm 2009 [3],
[4], [6], [7].
Viêm gan vi rút B và viêm não Nhật Bản là những bệnh đang lưu hành
và đe dọa đến sức khỏe và tính mạng trẻ em…Những nguy cơ trên đòi hỏi

dân, giảm tỷ lệ mắc Ho gà xuống < 0,5/100.000 dân, tỷ lệ phát hiện LMC >
1/100.000 trẻ 15 tuổi, phát hiện nghi sởi > 2/100.000 dân, 100% ca bệnh trong
chương trình được điều tra giám sát [5].
1.6. Tình hình tiêm chủng mở rộng của huyện Đông Giang.
Đông Giang là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Quảng
Nam, phía Đông giáp huyện Hoà Vang thành phố Đà Nẵng, phía Tây giáp
huyện Nam Giang, phía Bắc giáp huyện Tây Giang tỉnh Quảng Nam và huyện
Nam Đông Thừa Thiên- Huế, dân số 23.390.000 người, chủ yếu là người dân
tộc CơTu sống bằng nghề nông. Huyện có 11 xã, trình độ dân trí thấp, thu
nhập kém, gây ảnh hưởng lớn đến tình hình TCMR của huyện.
1.6.1. Kết quả TCMR tại huyện Đông Giang từ năm 2005-2008
Bảng 1.2. Tình hình TCMR tại huyện Đông Giang 2005-2008
Năm Tổng số trẻ
Tiêm chủng đầy
đủ
Tỷ lệ %
2005 470 452 96,1
2006 474 465 98,1
2007 482 471 97,7
2008 428 386 90,2
Chương trình TCMR được triển khai rộng khắp, tiêm chủng thường
xuyên ở toàn huyện. Kết quả tổng kết tình hình tiêm chủng của huyện từ
2005-2008, tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ được duy trì trung bình đạt 97,35%.
1.7. Dịch tễ học 7 bệnh truyền nhiễm trong chương trình TCMR
1.7.1. Bệnh Sởi:
Sởi là bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút sởi thuộc họ Paramixovirut
influenzae, giống Morbillivirut gây nên, bệnh thường gặp ở trẻ em. Bệnh lây
qua đường hô hấp gây ra. Trong năm 2001, ước tính khoảng 30 triệu trường
hợp mắc sởi trên thế giới và 745.000 trường hợp tử vong có liên quan tới
bệnh sởi. Bệnh sởi gây tử vong cao hơn so với các bệnh khác trong chương

Vi khuẩn phát triển tại các ngõ vào (các vết thương, cuống rốn trẻ sơ sinh) tiết
ra những độc tố làm tổn thương những tế bào thần kinh vận động của thần
kinh trung ương gây ra co cứng và co giật toàn thân. Mọi người đều có thể
mắc bệnh uốn ván. Ở các nước công nghiệp phát triển bệnh tương đối ít gặp
và có tính chất tản phát. Tỷ lệ chết/mắc tăng theo tuổi từ 27% ở những người
40- 49 tuổi cho tới 80% ở những người trên 80 tuổi [22].
Trên thế giới hàng năm có khoảng 500.000 trẻ em chết vì uốn ván sơ
sinh, cứ mỗi phút có 1 trẻ em chết [18]. Đặc biệt tình hình mắc uốn ván sơ
sinh tại Việt Nam cũng như các nước đang phát triển có tỷ lệ chết/ mắc uốn
ván sơ sinh rất cao.
1.7.4. Bạch hầu
Bạch hầu là một bệnh nhiễm trùng cấp tính do vi khuẩn
Corynebacterium diphtheria gây ra. Bệnh lây do tiếp xúc với người bệnh hoặc
người lành mang trùng qua đường hô hấp, có thể lây do tiếp xúc với đồ vật
có dính chất bài tiết từ chỗ tổn thương của người bị nhiễm khuẩn, sữa tươi
sống, có thể là một phương tiện lây truyền.
Bạch hầu gây ra nhiều biến chứng do độc tố, nhất là biến chứng viêm
cơ tim đưa đến tử vong cao, viêm giác mạc, nghẽn đường thở hoặc gây liệt
thần kinh sọ não, thần kinh vận động ngoại biên, tỷ lệ tử vong trong vòng 50
năm nay ít thay đổi, tỷ lệ từ 5-10% [22].
Bệnh xảy ra trên toàn cầu, cao nhất vào mùa thu, bệnh xuất hiện 80% ở
trẻ dưới 15 tuổi không được tiêm chủng. Những năm đầu thập kỷ 80 của thế
kỷ XX tỷ lệ mắc bệnh bạch hầu tăng lên ở Liên Xô cũ bởi ví chương trình
chủng ngừa vắc xin cho trẻ em bị phá vỡ. Bắt đầu từ năm 1990 dich bạch hầu
đã xảy ra ở Nga và Ucraina. Ở nước ta theo số liệu của Viện Vệ sinh Dịch tễ
Trung Ương, con số mắc trung bình hàng năm từ 1976- 1980 là 3,02 %, từ
1981- 1983 số mắc tăng lên 5,4 %.
1.7.5. Ho gà
Ho gà là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính đường hô hấp do vi khuẩn
Bordetella pertusis gây nên, là một bệnh phổ biến ở mọi nơi trên thế giới nhất

bệnh lao ở người nghèo cao hơn nhiều và thành thị cao hơn nông thôn. Đối
với những trẻ bị nhiễm lao, nguy cơ tiến triển thành bệnh là 10%.
Việc sử dụng rộng rãi vaccine BCG trên thế giới đã trở thành biện pháp
phòng lao có hiệu quả cho trẻ em nhất là trong nhiễm khuẩn lao cấp tính. Sự
chủng ngừa BCG bảo vệ trên 70% trẻ chống lại sự nhiễm trùng lao, tiếp theo
sau trong vòng từ 10-15 năm.
1.7.7. Viêm gan siêu vi B
Sự phân chia các vùng dịch tễ nhiễm siêu vi viêm gan B chủ yếu dựa
vào tỷ lệ người mang HBsAg, anti HBs. Việt Nam được xếp vào vùng dịch
lưu hành cao với tỷ lệ HBsAg từ 15-20% theo một số nghiên cứu của các tác
giả như Trần Thị Chính, Phạm Hoàng Phiệt, Nguyễn Thu Vân [26].
Đường lây truyền của vi rút viêm gan B xảy ra ở những vùng dịch lưu
hành cao chủ yếu theo chiều dọc từ mẹ sang con, tình trạng nhiễm tăng dần
theo tuổi.
Những người mang vi rút mạn tính có khả năng bị xơ gan, viêm gan
mãn, ung thư gan nguyên phát. Việc điều trị viêm gan siêu vi B vẫn còn hạn
chế. Do đó, biện pháp phòng ngừa bằng cách chủng ngừa vaccine viêm gan B
là biện pháp tích cực nhất.
Căn cứ vào tình hình dịch tễ của viêm gan siêu vi B, trong khu vực
Châu Á- Thái Bình Dương đã đưa ra khuyến cáo:
- Trẻ sơ sinh < 10 tuổi không cần xét nghiệm trước khi tiêm chủng.
- Trẻ > hoặc bằng 10 tuổi và người lớn cần xét nghiệm HBsAg (-) thì
tiếp tục thử anti HBs.
Thử anti HBs: Nếu anti HBs (-) thì chủng ngừa; nếu (+) thì không chủng
ngừa. Hàm lượng anti HBs < 10 IU/ml thì không có giá trị bảo vệ khỏi nhiễm
mới vi rút viêm gan B.
Chính phủ Việt Nam quyết định đưa vaccine viêm gan B do Việt Nam
sản xuất (Thế hệ I) vào chương trình TCMR cho trẻ em < 1 tuổi từ năm 1997.
Tuy nhiên, từ năm 1997- 2001 số lượng vaccine viêm gan B trong chương
trình cũng chỉ mới phủ được 1/6 trẻ sơ sinh trong diện được tiêm chủng. Từ

C làm cho
vaccine đông băng, nhiệt độ cao phá hủy thành phần vaccine ho gà còn thành
phần bạch hầu và uốn ván chịu đựng tốt hơn. Hiệu lực của vaccine khá cao
khi tiêm đủ 3 liều, cần hoàn thành đủ 3 mũi tiêm trước khi trẻ đủ 12 tháng
tuổi.
1.8.4. Vaccine Sởi
Vaccine sởi được chế tạo từ vi rút sởi sống đã làm giảm độc lực.
Vaccine sởi nhạy cảm với nhiệt độ cao, cần bảo quản nhiệt độ đông lạnh.
Dung môi cũng cần bảo quản ở nhiệt độ 2- 8
0
C.
Hiệu lực của vaccine sởi khá cao (95%). Hiệu lực cao nhất nếu tiêm
cho trẻ đúng lúc từ 9-12 tháng tuổi.
1.8.5. Vaccine viêm gan B
Từ những năm 1980, vaccine viêm gan B lần đầu tiên có mặt trên thế
giới. Các vaccine viêm gan B đã sử dụng kháng nguyên bề mặt của siêu vi
viêm gan B (HBsAg) có độ tinh khiết cao. Cho đến nay đã có ba thế hệ
vaccine viêm gan B tùy theo tính chất của kháng nguyên HBsAg.
Vaccine thế hệ I điều chế HBsAg từ huyết tương người lành mang
HBsAg (gồm kháng nguyên S, tiền S1 và S2), vaccine này có ưu điểm hiệu
quả bảo vệ cao và giá thành thấp, tuy nhiên do nguồn kháng nguyên cạn kiệt
và tính an toàn nên vaccine thế hệ II ra đời.
Ví dụ: Vaccine viêm gan B thế hệ I do Viện Vệ sinh Dịch tễ Hà Nội sản xuất
và ứng dụng trong chương trình TCMR năm 1997.
Vaccine thế hệ II là vaccine tái tổ hợp sản xuất do công nghệ di truyền.
Cài đặt một gen mã hóa tổng hợp HBsAg vào một véc tơ (các plasmid khác
nhau), sau đó chuyển nạp chúng vào một trong các tế bào nấm men (S.
cerevisiae, H. polymorpha, P. pastoris). Tuy nhiên có khoảng 5-15% số người
tiêm vaccine này không có đáp ứng miễn dịch.
Ví dụ: Vaccine Hepavac-gen, Engerix-B, Recombivac,…v.v.

C
BH-HG-UV
BCG
VGSVB
+ 2
0
C đến + 8
0
C
Tất cả các loại vaccine phải được bảo quản trong suốt thời gian từ nơi
sản xuất đến khi tiêm và uống.
Trang thiết bị và nhân lực bảo quản vaccine gọi là dây chuyền lạnh
(DCL). Hệ thống DCL rất quan trọng và cần thiết vì vaccine rất nhạy cảm với
nhiệt độ. Ba yếu tố cấu thành dây chuyền lạnh là: Trang thiết bị, con người và
các thao tác sử dụng.
Các loại vaccine nhạy cảm với nhiệt độ được xếp theo thứ tự từ cao đến
thấp như sau: Bại liệt – Sởi – BCG – Bạch hầu – Ho gà – Uốn ván – Viêm
gan B. Vaccine bại liệt là loại vaccine nhạy cảm với nhiệt độ nhất, trong đó
vaccine Uốn ván lại ít nhạy cảm với nhiệt độ hơn cả. Nếu vaccine được bảo
quản ở nhiệt độ quy định, hiệu quả vaccine càng cao và lâu dài.
1.9.1. Hệ thống dây chuyền lạnh
Dây chuyền lạnh bao gồm nhiều công đoạn các khâu vận chuyển nối
tiếp kèm theo làm lạnh thích hợp nhằm bảo quản duy trì hiệu lực vaccine.
Nguy cơ DCL mất tác dụng sẽ tăng lên vì vaccine phải vận chuyển theo DCL
từ nơi sản xuất cho đến tận các đối tượng cần được tiêm phòng.
Dù tổ chức tại trạm y tế xã, thôn hay tiêm chủng lưu động thì nhân viên
y tế là người trực tiếp tiêm chủng cho trẻ em và các phụ nữ trong diện tiêm
chủng, vì vậy trước hết là thái độ trách nhiệm trong khâu nhận, bảo quản và
sử dụng vaccine.
1.9.2. Nhận vaccine

0
C.
+ Không đặt vaccine vào ngăn ở cánh tủ (ở nơi đó không đủ lạnh).
+ Luôn đóng tủ lạnh, không mở quá 2-3 lần/ngày. Kiểm tra nhiệt độ
trong khoang chính 2 lần/ngày khi đến làm việc và trước khi về.
1.10. Lịch tiêm chủng mở rộng tại Việt Nam
1.10.1. Lịch TCMR cho trẻ em dưới 1 tuổi tại Việt Nam
Bảng 1.3. Lịch TCMR cho trẻ em dưới 1 tuổi tại Việt Nam
Vaccin
Tuổi
Sơ sinh 2 tháng 3 tháng 4 tháng 9 tháng
BCG x
OPV x x x
DPT x x x
Viêm gan B x x x
Sởi Xa
a Liều tiêm thứ 2 cần được tiêm cho tất cả trẻ em. Có thể đưa vào tiêm
chủng thường xuyên hoặc tổ chức thành những chiến dịch.
1.10.2. Lịch tiêm chủng vaccine uốn ván cho phụ nữ
Bảng 1.4. Lịch tiêm chủng vaccine uốn ván cho phụ nữ
Mũi 1:
Càng sớm càng tốt khi có thai lần đầu hoặc nữ 15- 35 tuổi ở
vùng có nguy cơ mắc uốn ván sơ sinh cao
Mũi 2: Ít nhất 4 tuần sau mũi 1
Mũi 3: Ít nhất 6 tháng sau mũi 2 hoặc trong thời kỳ có thai lần sau
Mũi 4: Ít nhất 1 năm sau mũi 3 hoặc trong thời kỳ có thai lần sau
Mũi 5: Ít nhất 1 năm sau mũi 4 hoặc trong thời kỳ có thai lần sau
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Trẻ có phiếu tiêm chủng.
- Trẻ được quản lý trong sổ tiêm chủng.
* Biến số độc lập
- Kiến thức về tiêm chủng của bà mẹ là những kiến thức về lợi ích tiêm
chủng, lịch tiêm chủng, các bệnh có thể phòng được nhờ tiêm chủng, phản
ứng phụ sau khi tiêm
* Biến cố gây nhiễu
- Tuổi của mẹ, tính theo năm, có 2 giá trị:
- ≤ 30 tuổi
- > 30 tuổi
- Trình độ học vấn của mẹ, chia 3 nhóm có 2 giá trị:
+ Tiểu học
+ Trung học phổ thông + Trên trung học phổ thông
- Số con của bà mẹ, phân 2 nhóm có giá trị:
+ ≤ 2 con
+ ≥ 3 con
- Nghề nghiệp của mẹ, biến định tính, chia 3 nhóm có 3 giá trị:
+ CBCNV
+ Buôn Bán
+ Làm ruộng, làm thuê, nghề khác
2.4.THU THẬP SỐ LIỆU
Tiến hành đồng thời kiểm tra trẻ và phỏng vấn mẹ bằng bộ câu hỏi, thực
hiện phỏng vấn vào những thời điểm phù hợp với đối tượng để đảm bảo cả
mẹ và trẻ đều có mặt ở nhà, như điều tra vào những ngày nghỉ cuối tuần.
Kết hợp vừa kiểm tra phiếu tiêm chủng của trẻ vừa phỏng vấn trực tiếp
bà mẹ nhằm thu thập thông tin về kiến thức của bà mẹ đối với tiêm chủng mở
rộng.
Xác định tiêu chuẩn tiêm chủng đầy đủ và không đầy đủ.
Xác định tiêu chuẩn tiêm chủng đầy đủ khi trẻ trong năm đầu được
tiêm 8 liều, uống 3 liều và có sẹo BCG đạt tiêu chuẩn. Trẻ tiêm chủng không

tiêm BCG, hay gặp nhất là hạch phản ứng sau tiêm chủng, hạch phản ứng có
thể ở nách, cổ.
Đánh giá tình trạng tiêm chủng của trẻ dựa vào kết quả điều tra
- Có phiếu tiêm chủng
+ Tiêm chủng đầy đủ: trẻ có phiếu, TCĐĐ các loại vaccin và sẹo
BCG đạt tiêu chuẩn thì đánh giá trẻ được TCĐĐ.
+ Tiêm chủng không đầy đủ
∗ Trẻ có phiếu TCĐĐ kèm theo sẹo BCG không đạt tiêu chuẩn
hoặc không có sẹo BCG thì đánh giá trẻ TCKĐĐ.
∗ Trẻ có phiếu tiêm chủng ghi không đầy đủ và có sẹo BCG không
đạt tiêu chuẩn hoặc không có sẹo BCG thì đánh giá trẻ TCKĐĐ.
- Không có phiếu tiêm chủng
+ Tiêm chủng đầy đủ
∗ Trẻ có cha, mẹ trả lời đầy đủ (8 lần tiêm, 3 lần uống) cộng với có
sẹo BCG đạt tiêu chuẩn.
∗ Trẻ có cha, mẹ trả lời không nhớ rõ, kiểm tra sẹo BCG đạt tiêu
chuẩn và tiến hành kiểm tra đối chiếu với sổ quản lý chương trình TCMR tại
trạm y tế xã để đánh giá.
+ Tiêm chủng không đầy đủ
∗ Trẻ có cha, mẹ trả lời đầy đủ trẻ được tiêm 8 lần, uống 3 lần kèm
theo sẹo BCG không đạt tiêu chuẩn hoặc không có sẹo BCG.
∗ Kiểm tra sổ quản lý chương trình TCMR tại xã ghi đầy đủ số lần
tiêm và uống 7 loại vaccin kèm theo sẹo BCG không đạt tiêu chuẩn hoặc
không có sẹo BCG.
+ Trẻ không được tiêm chủng: Trẻ không có phiếu tiêm chủng và
không có sẹo BCG.
Đánh giá kiến thức của bà mẹ về tiêm chủng mở rộng
- Biết đúng lợi ích của tiêm chủng: Khi bà mẹ trả lời tiêm chủng để
phòng bệnh.
- Biết đúng lịch tiêm chủng: Nếu bà mẹ trả lời đúng thời gian tiêm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status