ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
o0o BÙI THỊ HẠNH
THỰC TRẠNG HIỂU BIẾT, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI CHĂM SÓC
SỨC KHOẺ SINH SẢN CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY
(Qua khảo sát tại trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn,
trường Đại học Sư phạm Hà Nội và trường Đại học Bách khoa Hà Nội) LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI
MÃ SỐ: 60 31 30
trường Đại học Sư phạm Hà Nội và trường Đại học Bách khoa Hà Nội) CHUYÊN NGÀNH: XÃ HỘI HỌC
MÃ SỐ: 60 31 30
LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. VŨ MẠNH LỢI
Hà Nội - 2009
1
25
1.3.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
28
1.4. Tổng quan địa bàn nghiên cứu 32
2
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỂU BIẾT, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI
CHĂM SÓC SKSS CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY 35
2.1. Đặc điểm đối tượng khảo sát 35
2.2. Thực trạng hiểu biết, thái độ và hành vi chăm sóc SKSS của sinh viên
hiện nay 39
2.2.1. Hiểu biết của sinh viên về SKSS và nguồn cung cấp thông tin về
SKSS 39
2.2.1.1. Hiểu biết về khả năng sinh sản và thời khoảng thụ thai 40
2.2.1.2. Hiểu biết và thông tin về các biện pháp tránh thai 44
2.2.1.3. Hiểu biết về HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục
53
2.2.1.4. Đánh giá kiến thức chung của sinh viên về SKSS 66
2.2.2. Thái độ của sinh viên đối với các vấn đề về SKSS 70
2.2.2.1. Thái độ đối với việc nhận thông tin về BPTT
70
2.2.2.2. Trinh tiết của người con gái và QHTD trước hôn nhân
75
2.2.2.3. Nạo phá thai và SKSS
80
2.2.2.4. Thái độ đối với việc nhận thông tin về HIV/AIDS, người nhiễm HIV
và nguy cơ lây nhiễm HIV của bản thân
84
2.2.3. Hành vi chăm sóc SKSS của sinh viên 87
Cao đẳng
CLB :
Câu lạc bộ
CS SKSS :
Chăm sóc sức khoẻ sinh sản
ĐH :
Đại học
ĐH KHXH&NV :
Đại học Khoa học xã hội và nhân văn
ĐHBK :
Đại học Bách khoa
ĐHSP :
Đại học sư phạm
HIV :
Vi rút suy giảm miễn dịch ở người
KHHGĐ :
Kế hoạch hoá gia đình
QHTD :
Quan hệ tình dục
SKSS/TD VTN :
4
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Tên bảng Trang
Bảng 1:
Tình hình nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục
của Việt Nam phân theo tuổi, giới năm 2007
55
Bảng 2:
Tỷ lệ nhiễm HIV của Việt Nam qua các năm, phân theo
nhóm tuổi, (%)
56
Bảng 3:
Phân bố ý kiến đánh giá mức độ cần thiết của việc nhận
thông tin về BPTT phân theo giới tính, năm học, khối
trường và tình trạng có người yêu (%)
72
Bảng 4:
Phân bố tỷ lệ sinh viên đánh giá mức độ dễ dàng của việc
nhận thông tin về BPTT theo giới tính, năm học và khối
trường (%)
72
Bảng 5:
Phân bố đối tượng khảo sát theo ý kiến về những nhận
định đối với vấn đề nạo/phá thai (%)
81
Bảng 6:
Đồ thị 6:
Phân bố tỷ lệ sinh viên cho rằng từ kỳ kinh nguyệt này đến
kỳ kinh nguyệt sau có giai đoạn người phụ nữ dễ có khả
năng mang thai khi QHTD hơn những giai đoạn khác trong
chu kỳ kinh nguyệt (%)
41
Đồ thị 7:
Phân bố đối tượng điều tra theo số BPTT hiện đại trước và
sau gợi ý (%)
45
Đồ thị 8:
Phân bố tỷ lệ sinh viên biết về các BPTT trước và sau khi
đọc phương án trả lời (%)
45
Đồ thị 9:
Phân bố đối tượng khảo sát theo hiểu biết về BPTT trong
điều tra sinh viên, SAVY 2003 và RHIYA 2006 (%)
46
Đồ thị 10:
Phân bố tỷ lệ sinh viên nhận được thông tin về BPTT từ
các nguồn khác nhau trong vòng 6 tháng qua tính đến thời
điểm khảo sát (%)
49
Đồ thị 11:
Tỷ lệ sinh viên đã trao đổi thông tin về BPTT với những
người khác trong 6 tháng qua tính đến thời điểm khảo sát
(%)
49
Đồ thị 17:
Phân bố đối tượng khảo sát theo quan điểm đánh giá về
mức độ phổ biến của QHTD trước hôn nhân trong sinh
viên hiện nay (%)
77
Đồ thị 18:
Tỷ số giới tính khi sinh của Việt Nam qua các năm 2001-
2008
83
Đồ thị 19:
Phân bố đối tượng điều tra theo BPTT sẽ sử dụng khi có
QHTD (%)
88 7
THỰC TRẠNG HIỂU BIẾT, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI CHĂM
SÓC SỨC KHOẺ SINH SẢN CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hội nghị Quốc tế về Dân số - Phát triển (ICPD – Internetional Conference on
Population and Development) lần thứ tư được tổ chức tại Cairô - Ai Cập năm 1994 đã
chỉ rõ cần quan tâm hơn nữa đến các nhu cầu về sức khỏe sinh sản (SKSS) và sức
khỏe tình dục (SKTD) của vị thành niên và thanh niên (VTN&TN) nhằm tạo ra sự
phát triển bền vững ở các quốc gia trên thế giới (UNFPA – ICPD, 1994) [29, tr.22].
Theo thống kê của Bệnh viện Phụ sản Trung ương, năm 2004, tính riêng số
người nạo phá thai lứa tuổi vị thành niên (10-19 tuổi) chỉ dừng lại ở con số 3-5% thì
lứa tuổi thanh niên (19-24 tuổi) lên tới 20-25%. Theo thống kê được công bố năm
2006 của Hội kế hoạch hóa gia đình, Việt Nam là một trong ba nước có tỷ lệ nạo
phá thai cao nhất thế giới, trong đó 20% là lứa tuổi VTN. Trên phạm vi cả nước có
5% em gái sinh con trước 18 tuổi, 15% sinh con trước tuổi 20. Số trẻ em dưới 15
tuổi mắc các bệnh LTQDTD chiếm 1,16% (bệnh lậu) và 1,5% với các bệnh hoa liễu
khác. Đó là chưa kể tới số lượng những người đi nạo phá thai và chữa các bệnh phụ
khoa tại các cơ sở tư nhân. [42]
Theo khảo sát của Trung tâm Dân số và Công tác xã hội, Đại học Khoa học xã
hội và nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội tiến hành trên 300 sinh viên ở nội thành Hà
Nội, hơn 10% nam và 7,5% nữ đã từng có QHTD. Đáng chú ý, gần 40% số sinh
viên đã QHTD lại có quan hệ với người khác không phải là người mình đang yêu
(31% là nam và 8% là nữ) [43].
Những con số nêu trên đã phần nào phản ánh thực trạng chăm sóc SKSS
VTN&TN ở nước ta. Sinh viên là một bộ phận cấu thành nhóm VTN&TN. Nhóm
đối tượng này mang một số đặc điểm: tập trung ở lứa tuổi 18-24; đa số sống độc
lập, xa gia đình; có kiến thức nhất định về SKSS/TD, dễ tiếp cận với các nguồn
thông tin trên mạng Internet… (kể cả thông tin lành mạnh và không lành mạnh);
quan niệm sống “cởi mở” và “thoáng” hơn khiến họ dễ có nguy cơ đối với các vấn
9
đề SKSS/TD (như mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai, nhiễm khuẩn đường sinh
sản, mắc bệnh LTQĐTD và HIV/AIDS…) [21, tr.245].
Số sinh viên ngày càng tăng do quy mô đào tạo cao đẳng, đại học ngày càng
lớn. Theo số liệu thống kê, năm 2008, cả nước có 393 trường đại học và cao đẳng
(322 trường công lập, 71 trường ngoài công lập) với tổng số 1675,7 nghìn sinh viên,
tăng 1,9 lần so với năm học 1999-2000 (899,5 nghìn sinh viên) [38, tr.553]. Sinh
viên hiện nay có hiểu biết, thái độ như thế nào đối với vấn đề chăm sóc SKSS? Và
với nơi cung cấp các BPTT; hiểu biết về HIV/AIDS và các bệnh LTQĐTD;
nguồn cung cấp thông tin về các vấn đề liên quan đến SKSS nói trên.
(2) Tìm hiểu thái độ của sinh viên đối với việc nhận thông tin về các BPTT, đối
với vấn đề QHTD trước hôn nhân và trinh tiết của người con gái,
(3) Tìm hiểu hành vi chăm sóc SKSS của sinh viên thông qua hành vi QHTD và
sử dụng BPTT khi QHTD.
(4) Đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao nhận thức, thái độ và
hành vi của sinh viên trong vấn đề chăm sóc SKSS.
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hiểu biết, thái độ và hành vi chăm sóc SKSS
của sinh viên.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Sinh viên năm thứ nhất đến năm thứ ba hệ chính quy của ba trường Đại học
trên địa bàn Hà Nội: Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn (ĐH
KHXH&NV), trường đại học Sư phạm Hà Nội (ĐHSP) và trường đại học Bách
khoa Hà Nội (ĐHBK).
4.3. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Trường ĐH KHXH&NV, ĐHSP và ĐHBK Hà Nội
- Phạm vi thời gian: nghiên cứu được thực hiện từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2008
11
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu có sẵn (Phân tích số liệu thứ cấp)
Trong nghiên cứu này chúng tôi tiến hành phân tích một số tài liệu liên
quan đến vấn đề nghiên cứu như sách báo, tạp chí nghiên cứu chuyên sâu và một số
công trình nghiên cứu về nội dung liên quan đến SKSS đã xuất bản và công bố.
5.2.2. Phương pháp chọn mẫu (thu thập số liệu sơ cấp)
Để thu thập số liệu sơ cấp (thông tin ban đầu) cho nghiên cứu này, chúng tôi
2
. 0,5 . 0,5
N
=
(0,1)
2
= 96 12
Nếu lấy tròn số thì N = 100.
Theo cách tính cỡ mẫu này, mỗi trường đại học sẽ có 100 sinh viên được
phỏng vấn. Tuy nhiên, trên thực tế, số lượng mẫu khảo sát là 306 sinh viên đại học
chính quy từ năm thứ nhất đến năm thứ ba của các trường ĐH KHXH&NV, trường
ĐHSP và trường ĐHBK Hà Nội (Chi tiết về cơ cấu mẫu điều tra xem Chương 2).
• Nguyên tắc chọn mẫu
Toàn bộ mẫu được chọn theo nguyên tắc chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện
phân tổ cho đến khi lấy đủ số mẫu cần thiết. Ở mỗi trường, mẫu được chọn ngẫu
nhiên theo đơn vị lớp, từ 1-2 lớp/1 khoá sinh viên, đảm bảo nguyên tắc phân bố đều
số sinh viên theo giới tính (khoảng 50% nam và 50% nữ) và theo năm học (1/3 sinh
viên năm thứ nhất: 1/3 sinh viên năm thứ hai: 1/3 sinh viên năm thứ ba).
- Tại trường ĐHBK: chọn sinh viên của 3 khoa Điện tử - Viễn thông, khoa
Ngoại ngữ và khoa Dệt may thời trang.
- Trường ĐHSP: chọn sinh viên của ba khoa Sinh-Kỹ thuật nông nghiệp, khoa
Toán và khoa Vật lý.
- Trường ĐH KHXH&NV: chọn sinh viên khoa Triết học, khoa Ngôn ngữ và
khoa Du lịch.
SKSS của nam sinh viên so với nữ sinh viên, sinh viên năm thứ nhất với năm thứ
hai và thứ ba, sinh viên trường ĐHBK với trường ĐH KHXH&NV và trường
ĐHSP Hà Nội… Những phép thử thống kê như
2
χ
và giá trị thống kê p (p-value)
được sử dụng để xem xét sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê. Như đã trình bày
ở phần phương pháp chọn mẫu, trong báo cáo này, chúng tôi sử dụng mức ý nghĩa
nhỏ hơn 0,05.
6. Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết
6.1. Giả thuyết nghiên cứu
1. Kiến thức tổng hợp của sinh viên về SKSS chỉ ở mức độ trung bình. Các
yếu tố giới tính, năm học và khối trường có ảnh hưởng đến hiểu biết của
sinh viên về SKSS, cụ thể là hiểu biết về SKSS của sinh viên nữ tốt hơn
sinh viên nam; của sinh viên khối trường khoa học xã hội và sư phạm tốt
hơn sinh viên khối kỹ thuật và hiểu biết về SKSS của sinh viên tăng dần
14
qua các năm, sinh viên năm thứ ba tốt hơn sinh viên năm thứ hai và thứ
nhất.
2. Nguồn cung cấp thông tin về SKSS cho sinh viên hiện nay chủ yếu là các
phương tiện truyền thông đại chúng, sách báo và bạn bè; nhà trường và gia
đình không phải là kênh cung cấp thông tin về lĩnh vực này cho sinh viên.
3. Nhìn chung sinh viên hiện nay vẫn giữ quan niệm truyền thống trong nhìn
nhận đánh giá vấn đề QHTD trước hôn nhân, vấn đề trinh tiết đối với
người con gái. Hầu như không có sự khác biệt giữa các yếu tố giới tính,
năm học và khối trường của sinh viên trong vấn đề này.
6.2. Khung lý thuyết
- Ngư
ời nhiễm
HIV/AIDS
- Trinh ti
ết của
người con gái
Hành vi
- QHTD
- Sử dụng BPTT Nhà trườngCá nhân
Gia đình Truyền thông
đại chúng Bạn bè 15
PHẦN 2: NỘI DUNG CHÍNH
1.1.2. Cơ sở lý luận xã hội học
1.1.2.1. Lý thuyết hành động xã hội
Lý thuyết xã hội học về hành động xã hội có nguồn gốc từ V.Pareto.
M.Weber, F.Znaniecki, G.Mead, T.Parsons và nhiều nhà xã hội học khác. Những lý
thuyết này đều coi hành động xã hội là cốt lõi của mối quan hệ giữa con người và xã
hội, đồng thời là cơ sở của đời sống xã hội của con người. Hành động xã hội thường
được gắn với các chủ thể hành động là các cá nhân.
Định nghĩa của nhà Xã hội học người Đức, M.Weber được coi là hoàn chỉnh
nhất về hành động xã hội: “hành động xã hội là một hành vi mà chủ thể gắn cho ý
nghĩa chủ quan nhất định. Weber đã nhấn mạnh đến “động cơ” bên trong chủ thể
như là nguyên nhân của hành động”. Theo đó, chúng ta có thể nghiên cứu được các
yếu tố chủ quan bên trong thúc đẩy hành động chứ không đơn thuẩn chỉ là những
biểu hiện, phản ứng bên ngoài.
Hành động xã hội của cá nhân phụ thuộc vào hệ thống các giá trị, chuẩn mực
chính thống của xã hội. Nói cách khác đó là hành vi bị quy chiếu theo những chuẩn
mực, giá trị của xã hội như đúng-sai, tốt-xấu, được ủng hộ hay bị phản đối Chủ thể
hành động căn cứ vào hệ giá trị, chuẩn mực chính thống của xã hội và các cơ chế điều
chỉnh khác để nhận định một tình huống, một hoàn cảnh là đúng hay sai, là tốt hay
xấu, từ đó hình dung được phương án hành động và cả những hậu quả của nó.
Cấu trúc của hành động xã hội
(1) Động cơ và mục đích của hành động sẽ tạo ra tính tích cực của chủ thể, tham
gia định hướng hành động và quy định mục đích của hành động.
(2) Chủ thể hành động: Chủ thể hành động có thể là các cá nhân, các nhóm,
cộng đồng xã hội hay toàn thể xã hội.
(3) Hoàn cảnh hoặc môi trường của hành động: Đó chính là những điều kiện về
thời gian, không gian vật chất và tinh thần của hành động. Hành động đó
diễn ra lúc nào? ở thời điểm nào? trong bối cảnh xã hội như thế nào? Bối
cảnh xã hội ở đây được hiểu là tất cả những gì xung quanh có ảnh hưởng đến
hành động. Tuỳ theo hoàn cảnh hành động, các chủ thể hành động sẽ lựa
mà cá nhân phải đóng trong cuộc đời. Ở đây, vai trò của cá nhân trong quá trình xã
hội hoá chỉ giới hạn trong việc tiếp nhận các kinh nghiệm, giá trị, chuẩn mực mà
Hoàn cảnhNhu cầu
Động cơ
Chủ thể
Công cụ
phương tiệnMục đích
18
chưa đề cập tới khả năng cá nhân có thể tạo ra những giá trị, kinh nghiệm, chuẩn
mực để xã hội học theo.
Một nhà xã hội học khác của Mỹ, Fichter đã xem “xã hội hoá là một quá trình
tương tác giữa người này và người khác, kết quả là một sự chấp nhận những khuôn
mẫu hành động và thích nghi với những khuôn mẫu hành động đó”. Định nghĩa này
đã chú ý hơn đến tính tích cực của cá nhân trong quá trình xã hội hoá.
Định nghĩa của nhà khoa học người Nga, G. Andreeva đã nêu được cả hai mặt
của quá trình xã hội hoá: “xã hội hoá là quá trình hai mặt. Một mặt, cá nhân tiếp
nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào môi trường xã hội, vào hệ thống
các quan hệ xã hội. Mặt khác, cá nhân tái sản xuất một cách chủ động hệ thống các
mối quan hệ xã hội thông qua chính việc họ tham gia vào các hoạt động và thâm
trọng trong việc cá nhân thu nhận các kinh nghiệm xã hội theo cả con đường chính
thức và không chính thức, tức là không phải chỉ qua những bài giảng, các phương
tiện thông tin đại chúng mà cả qua kênh giao tiếp cá nhân.
Nhóm thành viên, bạn bè cũng được xem xét như một nhân tố môi trường
quan trọng có tác động đến nhận thức, thái độ, hành vi chăm sóc SKSS của sinh viên.
4) Thông tin đại chúng: Trong xã hội hiện đại, chúng ta không thể bỏ qua vai
trò của các phương tiện thông tin đại chúng như báo, đài, vô tuyến truyền hình và
các loại phương tiện thông tin khác, trong quá trình xã hội hoá cá nhân. Hiện nay
các phương tiện thông tin đại chúng là kênh cung cấp thông tin chủ yếu cho các cá
nhân. Đồng thời chúng cũng sẽ cung cấp cho các cá nhân những định hướng, quan
điểm đối với các sự kiện và những vấn đề xảy ra trong cuộc sống hàng ngày. [30,
tr.257-262]
Các nhà xã hội học khi nghiên cứu về các giai đoạn của quá trình xã hội hoá
đã chỉ ra rằng, xã hội hoá ở lứa tuổi thanh niên là giai đoạn vô cùng quan trọng vì
lứa tuổi này là lúc tốt nhất để kiểm nghiệm những tri thức thu nhận thụ động qua
hoạt động thực tiễn. Những kinh nghiệm xã hội cũng được bổ sung qua quá trình
lao động. Cá nhân lúc này đã có thể phán xét, đánh giá về các giá trị chuẩn mực mà
họ phải tuân thủ, cân nhắc xem lựa chọn như thế nào là có lợi nhất để làm theo.
Mặt khác, theo lý thuyết về xã hội hoá của nhà xã hội học và tâm lý học xã
hội người Nga – G. Andreeva, thanh niên – sinh viên là những người đang trong
giai đoạn bước đệm giữa giai đoạn trước lao động và giai đoạn lao động. Đặc thù
20
của độ tuổi này là tính năng động và dễ thích ứng với cái mới. Xét về mặt định
hướng giá trị, hệ giá trị của nhóm thanh niên – sinh viên đang trong giai đoạn định
hình, chính vì vậy nó cũng dễ bị thay đổi.
[26, tr.51]
Mỗi cá nhân, trong quá trình phát triển của mình sẽ tiếp thu tri thức, học tập
sóc SKSS như: vấn đề sinh sản và tránh thai, tiếp cận các dịch vụ KHHGĐ và các
BPTT, hiểu biết về HIV/AIDS và các bệnh LTQDTD, cũng như nguồn cung cấp
thông tin về các vấn đề liên quan đến chăm sóc SKSS.
1.2.1.2. Khái niệm Thái độ
Thái độ là tổng thể những biểu hiện ra bên ngoài (nét mặt, cử chỉ, lời nói) của
ý nghĩ, tình cảm đối với ai và đối với sự vật nào đó. Thái độ thể hiện cách nghĩ,
cách nhìn, cách hành động theo một vấn đề, một tình hình. [53, tr.887]
Những người đầu tiên sử dụng khái niệm “thái độ” như một đặc tính quan
trọng của các vấn đề xã hội là Thomas và Znaniecki – hai nhà nghiên cứu người
Mỹ. Theo các ông, thái độ là trạng thái tính thần (state of mind) của cá nhân đối với
một giá trị. [61, tr.318]
Thái độ của một cá nhân đối với một đối tượng là một trong những nhân tố
chính gắn với cá nhân và quyết định ứng xử (hành vi) của cá nhân với đối tượng.
Trong Xã hội học, thái độ được hiểu là một quá trình diễn tiến từ nhận biết,
hiểu biết, đánh giá và phản ứng đối với một đối tượng hay một tác động nào đó. Nói
cách khác, thái độ là một chuỗi diễn tiến cảm tính và lý tính dẫn đến kết quả cuối
cùng là hành vi. Giữa hành vi và thái độ có mối quan hệ tác động qua lại với nhau.
Hành vi là biểu hiện bên ngoài của thái độ, bên cạnh các biểu hiện khác là nhận
thức, tình cảm.
Thái độ được đặt trong một chỉnh thể phức tạp, tương đối bền vững và ổn định
bao gồm 3 yếu tố gắn kết hữu cơ với nhau là yếu tố nhận thức, tình cảm và hành vi
bộc lộ ra bên ngoài. Thái độ là sự hội tụ các giá trị xã hội từ kinh nghiệm sống, sự
học hỏi và sự chuyển tải từ các thể chế xã hội như gia đình, nhóm bạn bè, truyền
thông đại chúng…
Mối quan hệ giữa thái độ và hành vi được nhà tâm lý học xã hội D.G. Myers
minh hoạ qua sơ đồ sau: [61, tr.328]
22
mối quan hệ trực tiếp và máy móc mà giữa chúng phải có những yếu tố trung gian
(Intervenning variables) được chia thành hai loại: các nhu cầu sinh lý và các yếu tố
nhận thức. Một số nhà nghiên cứu khác còn chia các yếu tố trung gian thành 3 nhóm
gồm: (1) hệ thống nhu cầu, (2) hệ thống giá trị và (3) tình huống thực hiện hành vi.
Nhà xã hội học người Mỹ, G. Mead cho rằng: “Chúng ta có thể giải thích hành
vi con người bằng hành vi có tổ chức của nhóm xã hội. Hành vi xã hội không thể hiểu
được nếu xây dựng nó từ các tác nhân và các phản ứng. Nó cần được phân tích như
một chỉnh thể linh hoạt, không một bộ phận nào của chỉnh thể được phân tích hoặc có
thể được phân tích một cách độc lập” (G. Mead, 1934, Mind Self and Society). Như
vậy, hành vi xã hội là một chỉnh thể thống nhất gồm các yếu tố bên trong và bên
ngoài có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Để có hành vi xã hội, các cá nhân phải suy
nghĩ, đối chiếu, cân nhắc… trước mỗi tác nhân trước khi phản ứng, hoàn toàn không
phải phản ứng một cách máy móc. [30, tr.131-132]
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, hành vi của sinh viên được xem xét
dưới góc độ hành vi chăm sóc SKSS, như: hành vi trao đổi thông tin về SKSS với
những người xung quanh, hành vi QHTD và sử dụng các BPTT, nạo phá thai.
1.2.2. Khái niệm sinh viên
Thuật ngữ sinh viên có nguồn gốc từ “Study” có nghĩa là người làm việc, học
tập, người tìm hiểu, khai thác tri thức
Theo TS. Phạm Minh Hạc: “Sinh viên là người đại biểu cho nhóm xã hội đặc
biệt là thanh niên đang chuẩn bị cho hoạt động sản xuất vật chất hay tinh thần của
xã hội”
3
V.I Lênin khi phân tích tình hình và hoạt động của giới sinh viên cũng đã nói
về sinh viên như sau: “Sinh viên là bộ phận nhạy cảm nhất trong giới tri thức, mà
sở dĩ giới tri thức được gọi là tri thức chính vì nó phản ánh và thể hiện sự phát triển
3