KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN
CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ DÂN TỘC RAGLAY TẠI XÃ KHÁNH NAM, HUYỆN
KHÁNH VĨNH, TỈNH KHÁNH HÒA
MỤC LỤC
A. DẪN NHẬP..............................................................Error! Bookmark not defined.
1. Lý do chọn đề tài:.....................................................Error! Bookmark not defined.
2. Mục tiêu nghiên cứu................................................Error! Bookmark not defined.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu........................Error! Bookmark not defined.
4. Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn:.......................Error! Bookmark not defined.
5. Bố cục của đề tài:.....................................................Error! Bookmark not defined.
B. NỘI DUNG...............................................................Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.........Error!
Bookmark not defined.
1.1
Cơ sở lý luận..........................................................Error! Bookmark not defined.
1.1.1
Tổng quan nghiên cứu:.....................................Error! Bookmark not defined.
1.1.2
Những cách tiếp cận và lý thuyết nghiên cứu..Error! Bookmark not defined.
1.1.3
Những khái niệm liên quan:.............................Error! Bookmark not defined.
1.2
2.2.1 Kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của người phụ nữ dân tộc Raglay
..........................................................................................Error! Bookmark not defined.
2.2.2 Thái độ của người phụ nữ Raglay đối việc chăm sóc sức khỏe sinh sản Error!
Bookmark not defined.
2.2.3 Hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản của người phụ nữ dân tộc Raglay Error!
Bookmark not defined.
Chăm sóc sức khỏe bà mẹ trước sinh:...........................Error! Bookmark not defined.
Chăm sóc bà mẹ trong khi sinh......................................Error! Bookmark not defined.
Chăm sóc bà mẹ sau khi sinh.........................................Error! Bookmark not defined.
2.1 Những yếu tố tác động đến vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản của người
phụ nữ Raglay.................................................................Error! Bookmark not defined.
2.2.1 Hệ thống y tế và hoạt động y tế.............................Error! Bookmark not defined.
2.3.2 Kinh tế gia đình......................................................Error! Bookmark not defined.
2.3.3 Các phong tục tập quán..........................................Error! Bookmark not defined.
2.3.4 Chính sách..............................................................Error! Bookmark not defined.
C. KẾT LUẬN.................................................................Error! Bookmark not defined.
1. Kết luận:......................................................................Error! Bookmark not defined.
2. Một vài suy nghĩ:........................................................Error! Bookmark not defined.
A.
DẪN NHẬP
1.
Lý do chọn đề tài:
Sức khỏe là điều quí giá và vô cùng cần thiết để con người có thể sống
hạnh phúc và thành công trong cuộc sống. Mặt khác, sức khỏe là một nguồn lực
để phát triển kinh tế và xã hội. Do đó, chính sách của nhà nước cần phải nâng
cao chất lượng giáo dục, nâng cao sức khoẻ của người dân để tạo ra một lực
lượng khoẻ mạnh về thể chất, tinh thần được trang bị những tri thức phù hợp
năm 2008 (21‰ so với 8‰). Cá biệt, một số tỉnh có tỷ lệ tử vong trẻ dưới 1
tuổi rất cao, theo thống kê của Tổng cục DS-KHHGĐ trong giai đoạn 20012008, Kon Tum là tỉnh có tỷ suất tử vong trẻ dưới 1 tuổi cao nhất cả nước
(2001: 81,98‰; 2008: 48‰); tiếp đó là Gia Lai (tương ứng là 70,5‰ và 28‰)
và Sơn La (2008: 33‰). Các tỉnh này có tỷ suất tử vong trẻ dưới 1 tuổi cao gấp
5-6 lần Hà Nội và Hồ Chí Minh và cao hơn 2-3 lần trung bình của cả nước. Khả
năng tiếp cận và chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ trước, trong và
sau sinh, chăm sóc trẻ sơ sinh còn hạn chế ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng
xa. Tình trạng sinh đẻ tại nhà, không có cán bộ được đào tạo còn khá phổ biến ở
một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tỷ lệ thăm khám bà mẹ và trẻ sơ sinh
sau đẻ còn thấp. Tỷ số tử vong mẹ. Tỷ số tử vong mẹ giảm từ 233/100.000 trẻ
đẻ sống năm 1990 xuống 80/100.000 trẻ đẻ sống (2005). Tỷ lệ phụ nữ khám
thai và tỷ lệ ca sinh có sự trợ giúp của cán bộ y tế được đào tạo. Năm 2008, tỷ
lệ phụ nữ khám thai từ 3 lần trở lên là 86,7% trong đó một số khu vực có tỷ lệ
này rất cao như Đồng bằng sông Hồng (khoảng 98%). Điều này phản ánh chất
lượng chăm sóc bà mẹ trước sinh trong suốt thời kỳ thai nghén đã được cải
thiện trong thời gian qua. Tỷ lệ đẻ có cán bộ y tế đỡ được duy trì ở mức cao là
một trong những nguyên nhân giúp giảm tỷ suất tử vong mẹ. Tỷ lệ trung bình
cả nước đạt mức 95%, trong đó hai vùng đạt 100% là Đồng bằng sông Hồng và
Đồng bằng sông Cửu Long.
Qua các cuộc nghiên cứu nêu trên thì liệu rằng vấn đề chăm sóc sức
khỏe sinh sản của người dân tộc thiểu số đã được quan tâm đúng mức hay
chưa? Vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản của người Raglay ở Khánh Vĩnh hiện
nay như thế nào? Liệu rằng họ đã được tiếp cận những chính sách đó?
Để trả lời những câu hỏi trên tác giả quyết định chọn đề tài: “Kiến thức, thái độ
và hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản của người phụ nữ dân tộc Raglay tại xã
Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa.”
1. Mục tiêu nghiên cứu
1.1 Mục tiêu chung:
khỏe sinh sản của người phụ nữ Raglay, sẽ tác giả mong muốn được đóng góp
một số kiến thức vào hệ thống nghiên cứu chăm sóc sức khỏe của người phụ
nữ, dân tộc thiểu số nói chung và người dân tộc Raglay nói riêng.
Ý nghĩa thực tiễn:
Đề tài cung cấp thông tin về thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản của
người phụ nữ Raglay; những khó khăn mà người phụ nữ trong vấn đề chăm sóc
sức khỏe sinh sản; kiến thức, thái độ và hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản của
người phụ nữ về vấn đề chăm sóc sức khỏe của người phụ nữ dân tộc thiểu số
như thế nào. Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản của
người phụ nữ. Đồng thời, giúp các nhà quản lý có cái nhìn đúng về vấn đề
chăm sóc sức khỏe sinh sản. Từ đó, các nhà quản lý có thể đưa ra những chính
sách hiệu quả giúp cho sức khỏe của người dân được tốt hơn.
4. Bố cục của đề tài:
Đề tài gồm 2 chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
Chương 2: Kiến thức, thái độ và hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ
dân tộc Raglay.
Ngoài ra, đề tài còn có phần mục lục, dẫn nhập, kết luận, khuyến nghị, tài liệu
tham khảo và phụ lục.
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1
Cơ sở lý luận
1.1.1 Tổng quan nghiên cứu:
Về cơ bản, em đã phân tích được theo nội dung nhưng cần lưu ý mấy điểm sau:
-đưa nội dung lên trước , nói về phương pháp sau
-trong từng phần nội dung, khi mình nêu ra nội dung nào đó (thực trạng
chăm sóc sức khỏe của người phụ nữ) thì cũng nêu lên tất cả các tác giả đã bàn về
sát xã hội học gần đây” của tác giả Trịnh Hòa Bình. Bên cạnh đó, nhiều tác giả đã sử
dụng phương pháp định tính bằng công cụ thu thập thông tin bằng phỏng vấn sâu và
thảo luận nhóm đề khai thác thông tin thể hiện quan niệm cũng như tâm tư nguyện
vọng của người dân về chăm sóc sức khỏe sinh sản như: “Sức khỏe và kế hoạch hóa
gia đình tại các khu vực dân tộc thiểu số” của tác giả Phạm Bích San, “Sức khỏe sinh
sản của đồng bào Hmông_tỉnh Hà Giang” của tiến sĩ nhân chủng học y tế Nguyễn Trần
Lâm và nghiên cứu “Sinh đẻ của Cộng đồng Dân tộc Thiểu số tại Bình Định”. Qua các
phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp phương pháp định lượng và định tính để có
thể phân tích rõ hơn vấn đề này.
Về mặt nội dung trong các cuộc nghiên cứu về lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản
nổi lên ba nội dung cơ bản: thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản, các yếu tố tác động
đến các vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản và nghiên cứu các vấn đề chăm sóc sức
khỏe của một dân tộc cụ thể.
Những nghiên cứu có liên quan đến thực trạng chăm sóc sức khỏe của người
phụ nữ.
Nổi bật với nghiên cứu của tác giả Hoàng Bá Thịnh. Về phương pháp, bài viết
dựa trên những kết quả nghiên cứu về sự tham gia của người dân tại 6 xã thuộc 2
huyện Vân Đồn (Quảng Ninh) và Phú Vang (Thừa Thiên Huế), là địa bàn triển khai dự
án “Nâng cao hiểu biết về cư dân vạn đò”. Kết quả nghiên cứu đã phân tích tình trạng
sức khỏe sinh sản đáng lo ngại của nhóm cư dân đặc thù này. Tác giả cũng chỉ ra
những hạn chế về chất lượng nhân lực y tế cũng như cơ sở y tế và đề xuất phải có
những thay đổi không chỉ trên phương diện vật chất mà còn cả về mặt nhận thức.
Những giải pháp này đưa ra là nhằm mục đích đưa ra các dịch vụ chăm sóc sức khỏe
cơ bản đến với nhóm dân cư vạn đò một cách hiệu quả hơn.
Cùng quan điểm với tác giả Hoàng Bá Thịnh, thì nghiên cứu của tác giả Đoàn Kim
Thắng, có hai công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề thực trạng sức khỏe. Với
nghiên cứu thứ nhất dựa vào điều tra xã hội học về sức khỏe phụ nữ và kế hoạch hóa
gia đình tại một số vùng nông thôn, cho thấy tình hình sức khỏe của phụ nữ tuổi sinh
toàn diện về sức khỏe sinh sản của người phụ nữ.
Những nghiên cứu có liên quan đến các yếu tố tác động đến vấn đề chăm sóc
sức khỏe sinh sản của người phụ nữ.
Trong nội dung trên thì tác giả nhận thấy nổi bật lên với nghiên cứu của ba tác
giả Đàm Khải Hoàn, Nguyễn Đình Học, Nguyễn Hương Nga.
Qua nghiên cứu 283 hộ người Dao ở tỉnh Bắc Cạn, tác giả xác định được một số
phong tục tập quán về nơi ở: Nhà ở thường là nhà đất, nền đất, nhà thấp, thiếu ánh
sáng, bếp đất đặt trong nhà làm cho không khí thường bị ô nhiễm. Tập quán vệ sinh:
dùng nước suối, không sử dụng hố xí và phóng uế bừa bãi. Tập quán ít chú ý đến vệ
sinh cá nhân, nhà cửa, ngoại cảnh. Tập quán thả rong và để chuồng trại gia súc gần
nhà. Tập quán sinh đẻ, nuôi con sinh đẻ có kế hoạch. Tập quán đẻ tại nhà, người nhà tự
đỡ đẻ. Tập quán không cho bú ngay, ăn thêm sớm và cai sữa sớm, tập quán lấy chồng
sớm, đẻ dày, đẻ nhiều. Còn nghiên cứu của tác giả Trương Xuân Trường thì trong
phạm vi bài viết này lại đi vào ba khía cạnh cơ bản của vấn đề thái độ sinh sản là nhu
cầu về con, giá trị của những đứa con và một số vấn đề về CSSK bà mẹ, trẻ em. Đối
tượng nghiên cứu của đề tài này là nông dân vùng châu thổ sông Hồng trong thời kỳ
đổi mới. Tư liệu nghiên cứu là các kết quả khảo sát xã hội học trong thập kỷ 90 (từ
năm 1990 đến 2000). Tìm hiểu thái độ của người nông dân vùng châu thổ sông Hồng
về sinh sản điều nổi bậc nhất là tâm lý khao khát có đứa con trai để nối dõi tông đường
và một có giá trị có tính chất bền vững lâu bền. Kể cả trong giai đoạn trước mắt và sau
này, vẫn chưa có thay đổi gì đáng kể. Điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào khả năng tổng
thể của mô hình văn hóa truyền thống. Tác giả cho rằng qua 15 năm đổi mới đã diễn ra
một số biến đổi quan trọng về đời sống, kinh tế, văn hóa, xã hội ở vùng nông thôn
châu thổ sông Hồng… nhưng những biến đổi đó chưa đến mức làm thay đổi mô hình
văn hóa truyền thống.
Khác với hai nghiên cứu trên thì nghiên cứu của tác giả Trịnh Hòa Bình lại cho rằng có
nhiều yếu tố và điều kiện tác động đến cách ứng xử thực tế trong việc thực hiện vai
trò chăm sóc sức khỏe của gia đình ở những mức độ khác nhau từ những điều kiện chủ
quan của hộ gia đình đến các điều kiện xã hội trên địa bàn. Nhưng đang lưu ý nhất có
lẽ là trình độ “văn hóa y tế” nói chung còn thấp, từ đó chưa thấy nhận thấy thái độ coi
phụ là nguyên nhân quan trọng trong việc ngừng đặt vòng. Một số phụ nữ quyết định
không dùng biện pháp này bởi họ sợ mang vật lạ nào trong cơ thể. Đa số phụ nữ
Hmông không đi khám thai trước sinh, hoặc chỉ đi nếu lần mang thai hoặc sinh con
đầu tiên gặp khó khăn. Đó là do thiếu kiến thức về tầm quan trọng của khám thai trước
khi sinh, thói quen trì hoãn sử dụng dịch vụ y tế, khoảng cách và điều kiện đi lại đến
trạm y tế xã, cảm thấy xấu hỗ hoặc khó khăn khi tiếp xúc nói chuyện với cán bộ y tế.
Sinh con tại nhà rất phổ biến và mang nặng nhiều tập tục nghi lễ. Quan điểm chung
cho rằng việc sinh đẻ là dễ dàng và rằng người phụ nữ có thể tự xoay xở được trong
trường hợp đẻ trên nương hay trong rừng. Phụ nữ Hmông thích đẻ tại nhà, có người
thân xung quanh để giúp đỡ về tinh thần. Bà đỡ dân gian đóng vai trò quan trọng trong
việc sinh nở tuy nhiên họ lại thiếu đào tạo và thiết bị cần thiết. Chỉ trong trường hợp
đẻ khó người ta mới cần đến sự trợ giúp của các dịch vụ y tế công. Qua đó, đưa ra các
khuyến nghị trong việc thực hiện các chính sách để sức khỏe của mọi người được tốt
hơn. Khác với đề tài nghiên cứu tại Hà Giang thì trong đề tài nghiên cứu của Qũy dự
án Liên hợp quốc (UNFPA)_Năm 2008. Nghiên cứu được thực hiện trong tháng 9, năm
2008, tập trung tới phụ nữ dân tộc thiểu số trong độ tuổi sinh sản từ 15-49 tại xã An
Dũng, huyện An Lão (dân tộc H’rê), xã Vĩnh Kim huyện Vĩnh Thạnh (dân tộc Bana)
và xã Canh Hiệp huyện Vân Canh (dân tộc Chăm).Tác giả mô tả về chất lượng bao
gồm cả tính sẵn sàng của chăm sóc SKSS qua quan sát 36 CSYT nhà nước tại tỉnh,
huyện và xã của tỉnh Bình Định; quan sát và phỏng vấn 95 CBYT ở các tuyến. mô tả
về hiểu biết, thái độ, hành vi và việc tiếp cận với các dịch vụ CSSKSS của 210 phụ nữ
15-49 tuổi đang nuôi con dưới 24 tháng tuổi, 210 nam giới có vợ 15-49 tuổi đang nuôi
con dưới 24 tháng tuổi và 210 VTN 15-19 tuổi chưa lập gia đình thuộc 30 xã được
chọn làm địa bàn điều tra. Tác giả tập trung nghiên cứu tình hình cung cấp dịch vụ sức
khỏe sinh sản cho đồng bào dân tộc ít người tại 3 huyện miền núi tại tỉnh Bình Định,
các rào cản ảnh hưởng đến tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản. Trong đó, các
rào cản ảnh hưởng đến tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản điển hình về yếu
tố địa lý có ảnh hưởng trực tiếp tới tiếp cận dịch vụ. Có những địa bàn, từ thôn đi tới
Điều kiện tâm lý xã hội, tình trạng chung của ý thức con người, thái độ của họ đối với
môi trường xung quanh trực tiếp.
Hoạt động sống của con người là tổng thể các khối cơ bản: Lao động, sinh hoạt, văn
hóa xã hội, chính trị xã hội. Khi xem xét một mảng trong tổng thể các khối cơ bản thì
không thể bỏ qua các khối khác. Bởi vì, giữa các khối có một mối liên hệ chặt chẽ với
nhau, chúng chịu sự tác động qua lại lẫn nhau, bổ sung và hoàn thiện nhau.
Trong đề tài này, tác giả sử dụng lý thuyết lối sống để lý giải được những điều kiện
chủ quan và điều kiện khách quan đã tác động đến nhận thức và hành vi chăm sóc sức
khỏe sinh sản của người dân tộc Raglay. Về điều kiện khách quan về về điều kiện sinh
thái, người dân Raglay sống ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa phương tiện đi lại khó
khăn nên không có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe; kinh tế người
dân Ralay đa số là hộ nghèo nên ít có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức
khỏe sinh sản... Về điều kiện chủ quan, người dân địa phương đa số là nông nghiệp
truyền thống ảnh hưởng như thế nào đến việc chăm sóc sức khỏe sinh sản của người
phụ nữ dân tộc Raglay. Người dân thường có tính ù lì nên đã bỏ qua nhiều cơ hội tiếp
xúc với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản tốt.
Thuyết lựa chọn hợp lý :
Thuyết lựa chọn hợp lý (hay còn gọi là thuyết lựa chọn duy lý) trong xã hội
học có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học và nhân học vào thế kỷ VIII, XIX. Một số
nhà triết học đã cho rằng bản chất con người là vị kỷ, luôn tìm đến sự hài long, sự thoả
mãn và lảng tránh nỗi khổ đau. Một số nhà kinh tế học cổ điển thì từng nhấn mạnh vai
trò động lực cơ bản của động cơ kinh tế, lợi nhuận khi con người phải đưa ra quyết
định lựa chọn hành động. Đặc trưng thứ nhất có tính chất xuất phát điểm của sự lựa
chọn duy lý chính là các cá nhân lựa chọn hành động.
Thuyết này gắn với tên tuổi của rất nhiều nhà xã hội học tiêu biểu như: George
Homans, Peter Blau, James Coleman
Thuyết lựa chọn hợp lý dựa vào tiên đề cho rằng con người luôn hành động một
cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý
Là những hiểu biết có được qua quá trình tìm tòi, học hỏi cũng như trải nghiệm thực
tế của mỗi cá nhân. Kiến thức phụ thuộc vào thời gian tiếp nhận và năng lực thẩm thấu
tri thức của mỗi người. Ở đây, kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản chính là những
hiểu biết của người dân tộc Raglay về cách chăm sóc sức khỏe sinh sản để tự bảo vệ
cho bản thân và cộng đồng.[3]
Thái độ:
Là tâm trạng bên trong được biểu lộ qua hành động, hành vi, cử chỉ ứng xử đối với
người khác, đối với các sự kiện, quan điểm với bản thân, là giai đoạn trung gian giữa
giai đoạn tìm ẩn với giai đoạn thực hiện đầy đủ một ý nghĩa, ý định nào đó trong thực
tế. Trong đề tài này, thái độ được xem xét dưới góc độ hành vi ứng xử trước vấn đề
chăm sóc sức khỏe sinh sản của người dân tộc Raglay. Người dân nơi đây có thể là thờ
ơ trước những thông tin tuyên truyền, hay tích cực muốn tìm hiểu thêm về vấn đề
chăm sóc sức khỏe sinh sản để trang bị cho mình những kiến thức cần thiết để bảo vệ
sức khỏe. Vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản sẽ được tốt hơn nếu người dân có thái độ
tích cực trước những thông tin tuyên truyền cũng như tiếp nhận những thông tin đó và
thực hiện. Góp phần nâng cao sức khỏe sinh sản của người dân Raglay. (Theo từ điển
bách khoa Việt Nam)
Hành vi:
Theo G.Mead đưa ra những bản chất của hành vi: “chúng ta có thể giải thích hành
vi con người bằng hành vi có tổ chức của nhóm xã hội. Hành vi xã hội không thể hiểu
được nếu xây dựng nó từ các tác nhận và các phản ứng. Nó cần được phân tích như
một chỉnh thể linh hoạt, không một bộ phận của chỉnh thể được phân thích hoặc có thể
được phân tích một cách độc lập”.
Hành vi là những suy nghĩ của con người dẫn đến cách xử sự của họ trong một hoàn
cảnh cụ thể. Từ hành vi, con người mới tiến đến những hành động cụ thể. Hành vi về
SKSS là những suy nghĩ nhằm thực hiện những công việc liên quan đến SKSS . Hành
vi của người dân tộc được hiểu đó là hành vi có tính thống nhất giữa những yếu tố chủ
quan và khách quan. Trong bối cảnh cuộc sống, công việc tạo cho các bạn có những
thiểu số của Việt Nam). Rõ ràng, quan niệm về “dân tộc thiểu số” và “dân tộc đa số”
cũng như nội hàm của chúng hiện nay còn có những vấn đề chưa thống nhất và nó
cũng được vận dụng xem xét rất linh hoạt trong từng điều kiện cụ thể, tuỳ theo quan
niệm và mối quan hệ so sánh về dân số của mỗi quốc gia dân tộc.
Sức khỏe sinh sản:
Theo chương trình hành động của Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển (Hội
nghị Cairo năm 1994) thì “Sức khỏe sinh sản là trạng thái khỏe mạnh hoàn toàn về thể
chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ là bệnh tật hay ốm yếu, trong tất cả mọi thứ
liên quan đến hệ thống sinh sản, các chức năng và quá trình của nó.Trong đề tài này,
tác giả tập trung chính vào vấn đề làm mẹ an toàn, bao gồm việc chăm sóc khi mang
thai, khi đẻ và sau khi đẻ, cả mẹ và con đều an toàn. Bên cạnh đó, nêu lên những yếu
tố tác động đến vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản của người phụ nữ dân tộc Raglay.
[8]
1.2
Phương pháp nghiên cứu
1.2.1 Phương pháp luận
Trong đề tài này, tác giả sử dụng bộ dữ liệu của đề tài: “Tìm hiểu lối sống người
dân tộc Raglay tại xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, Tỉnh Khánh Hòa” của chuyến
thực tập cuối kỳ K11_tháng 5/2012. Tác giả sử dụng phương pháp định lượng để phân
tích về nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của người phụ nữ. Đồng thời, tác giả
cũng sử dụng phương pháp định tính để phân tích sâu hơn mà phương pháp định lượng
không thực hiện được, về hành vi và những yếu tố tác động đến vấn đề chăm sóc sức
khỏe sinh sản của người phụ nữ Raglay.
1.2.2 Phương pháp thu thập thông tin
Trong đề tày này, tác giả sử dụng các phương pháp thu thập thông tin sau:
Phương pháp định lượng
Thu thập thông tin định lượng:
Thông tin định lượng lấy từ bộ dữ liệu của đề tài: “Tìm hiểu lối sống người dân
tộc Raglay tại xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, Tỉnh Khánh Hòa” của chuyến thực
Raglay. Phương pháp phỏng vấn sâu giúp tác giả khóa luận khai thác thông tin sâu sắc
hơn để có thể hiểu rõ được vấn đề mà phương pháp định lượng chưa làm được.
Mẫu: phỏng vấn sâu là 8 cuộc. Trong đó, 2 cuộc phỏng vấn cán bộ thôn, 1 cuộc cán bộ
y tế xã, 2 cuộc đơn thân, 1 cuộc gia đình đông con, 1 cuộc hộ nghèo và 1 cuộc hộ
nghèo trên địa bàn 2 thôn Hòn Dù và Axay, xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, Tỉnh
Khánh Hòa.
Phương pháp quan sát: kết hợp với phương pháp quan sát với mục đích tìm hiểu
đời sống người dân, những sinh hoạt hằng ngày cùng trạm y tế xã của địa phương.
Phương pháp xử lý thông tin:
Thông tin định lượng được xử lý bằng phần mềm SPSS, cho ra những số liệu
thống kê mô tả và so sánh. Nhằm tìm ra sự chênh lệch trong nhận thức cũng như hành
vi của người phụ nữ trong vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản.
Xử lý thông tin sẵn có: dữ liệu thống kê về vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản của
người phụ nữ dân tộc Raglay, xã Khánh Nam được phân tích và đưa ra những nhận
định.
Thông tinh định tính như phương pháp phỏng vấn sâu sẽ gỡ băng và tổ hợp thông tin
để đưa ra những dẫn chứng đi sâu vào vấn đề cần phân tích.
Kết hợp, sau đó tổng hợp các phương pháp thu thập thông tin viết báo cáo nói lên nhận
thức và hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản của người phụ nữ dân tộc Raglay.
1.3
Giả thuyết nghiên cứu
Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả đưa ra các giả thuyết nghiên cứu như sau:
Kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của người phụ nữ thấp do trình độ học
vấn của người Raglay chưa cao
Người dân tộc Raglay ít hoặc không có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ chăm
sóc sức khỏe sinh sản của người phụ nữ. Về điều kiện khách quan do kinh tế
của người dân. Người dân có kinh tế thấp, điều kiện tự nhiên là vùng sâu, vùng
xa do ở miền núi hay do người dân có ý thức ù lì không muốn tiếp cận các dịch
CÁCH
ĐỊA
LÝđây đã sinh tại các cơ HOÀN
CỦA
HOÀN
CẢNH
SỐNG
CỦA
HỆ THỐNG Y TẾ VÀ
y tế đỡ đẻ do
công
tác tuyên
KINH
TẾ
HOẠT
ĐỘNG
Y TẾ truyền tốt.
1.4
HỆ THỐNG
Y TẾ VÀ
KINH
TẾ
HOẠT ĐỘNG Y TẾ
Sơ đồ
khung
phân
PHONG
SINH SẢN
CHĂM
SÓC
SỨCSỨC
KHỎE
CHĂM
SÓC
SINH
KHỎE
SẢN
SINH
TRƯỚC
SẢN
KHI
TRƯỚCSINH
KHI SINH
CHĂM
SÓC
SỨCSỨC
KHỎE
CHĂM
SÓC
SINH
KHỎE
SẢN
SINH
TRONG
SẢN
dốc. Dân số toàn huyện có 33.991 người. Nhờ thực hiện chính sách định canh định cư
nên dân các xã hiện nay phân bố tập trung thành các khu, điểm dân cư lớn và tương
đối tập trung ven các trục đường giao thông, gần nguồn nước, thuận lợi cho việc phục
vụ các yêu cầu về điện, nước sinh hoạt, y tế, giáo dục và sản xuất.
Nguồn nhân lực lao động trên địa bàn huyện dồi dào, chiếm 52,3% tỉ lệ dân số
nhưng do mặt bằng dân trí và điều kiện kinh tế - xã hội còn hạn chế nên chủ yếu là lao
động trong lĩnh vực sản xuất nông-lâm nghiệp, lao động có trình đọ chuyên môn kỹ
thuật chiếm tỷ lệ thấp trong tổng nguồn lao động của huyện và chủ yếu làm việc trong
các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp. Đến cuối năm 2009, tổng giá trị nền kinh tế theo
mệnh giá hiện hành đạt 279 tỷ đồng, trong đó ngành nông – lâm nghiệp – thủy sản đạt
96 tỷ đồng, chiếm tỉ trọng 34,6% trong cơ cấu kinh tế, ngành công nghiệp – xây dựng
đạt 63,8 tỷ đồng, chiếm tỉ trọng 22,9% trong cơ cấu kinh tế và ngành Thương mại –
Dịch vụ đạt 118,6 tỷ đồng, chiếm tỉ trọng 42,5% trong cơ cấu các ngành kinh tế. Thu
nhập bình quân đầu người đạt 8,7 triệu đồng/người/năm; lương thực bình quân đầu
người đạt 166,8kg/người/năm. Tốc độ tăng trưởng đạt 9,6%
Đặc điểm dân tộc và vùng dân tộc thiểu số:
Huyện Khánh Vĩnh có 15 dân tộc anh em sinh sống, trong đó:dân tộc Kinh là
8.933 người, chiếm tỷ lệ 26,3% và các dân tộc thiểu số là 25.058 người, chiếm tỷ lệ
73,7%, gồm dân tộc Raglay 16.618 người, T’Rin 4.796 người, Êđê 1.541 người,Tày
1.165 người, Nùng 658 người, Mường 180 người và các dân tộc: Dao, M’Nông, Thái,
Hoa, Chăm, Thổ, H’Rê, Khơ Me là 100 người. Các dân tộc trên địa bàn huyện mặc dù
khác nhau về phong tục, văn hóa truyền thống nhưng thắm tình đoàn kết, giao lưu, gắn
bó thành một khối thống nhất, cùng nhau xây dựng huyện miền núi Khánh Vĩnh vươn
lên xóa đói giảm nghèo, đẩy lùi các tập tục lạc hậu, tiến tới cuộc sống văn minh, ấm
no, hạnh phúc
Về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và nhân lực xã Khánh Nam
Vị trí địa lý:
Xã Khánh Nam nằm về hướng Bắc huyện Khánh Vĩnh, cách trung tâm huyện
Giang và các suối chính suối Axay, Cà Nuông, Chà Khế, suối Đục, và các suối nhỏ
đan xen tạo nên nguồn nước mặt khá phong phú.
Nhìn chung, điều kiện khí hậu, thời tiết thuận lợi cho phát triển các loại cây trồng (như
lúa, mì, bắp, mía, mây, keo,…), chăn nuôi (như heo, bò…), cây ăn trái (xoài, thanh
long…)
Các nguồn tài nguyên
+ Tài nguyên đất: Theo số liệu báo cáo kết quả kiểm kê đất đai và xây dựng, bản đồ
hiện trạng sử dụng đất năm 2010 của xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh (thực hiện
chỉ thị 618/CT-TTg ngày 15/5/2009),xã Khánh Nam có diện tích tự nhiên 4.213,82 ha
chiếm 3,61% tổng diện tích tự nhiên của huyện(1,165km), trong đó:
Đất nông nghiệp: 3.901,2ha chiếm 92,58% diện tích tự nhiên của xã, cụ thể:
Đất sản xuất nông nghiệp: 2.287,76 ha chiếm 54,28% tổng diện tích đất tự nhiên toàn
xã, đất trồng cây hàng năm: 1.114,30 ha, chiếm 26,44% tổng diện tích tự nhiên toàn
xã, trong đó đất trồng lúa là 6,29ha, đất trồng cây hàng năm khác là 1.108,01ha. Đất
trồng cây lâu năm: 1.173,45 ha,chiếm 27,84% tổng diện tích tự nhiên toàn xã, trong đó
đất trồng cây công nghiệp là 162,26ha, đất trồng cây ăn quả 78,68 ha, đất trồng cây lâu
năm khác 932,51 ha. Đất lâm nghiệp: 1.612,99ha, chiếm 38,27% tổng diện tích tự
nhiên toàn xã: Đất có rừng tự nhiên sản xuất: 631,30 ha, đất có rừng trồng sản xuất:
701,55 ha, đất khoanh nuôi phục hồi rừng sản xuất: 233,05ha, đất trồng rừng: 47,09
ha. Đất nuôi trồng thủy sản: 1,45 ha, chiếm 0,03% tổng diện tích tự nhiên toàn xã.
Đất phi nông nghiệp: 145,60 ha, chiếm 3,45% diện tích diện tích tự nhiên toàn
xã bao gồm các loại đất sau: Đất ở nông thôn: 18,89ha, đất chuyên dùng: 26,02ha, đất
nghĩa trang, nghĩa địa: 1,11ha, đất sông suối và mặt nước chuyên dùng: 99,58ha.
Đất đồi núi chưa sử dụng: 167,02ha, chiếm 3,96% diện tích tự nhiên toàn xã.
Nhìn chung quỹ đất chưa sử dụng toàn xã còn khá lớn.
+ Tài nguyên rừng: Diện tích rừng trên địa bàn xã Khánh Nam có xu hướng ngày càng
giảm, do chủ trương chuyển đổi mục đích sử dụng diện tích rừng phòng hộ sang rừng
sản xuất, đặc biệt tình trạng đốt phá rừng để sản xuất gây nên tình trạng xói mòn đất,
Khánh Nam là một xã nông nghiệp nông thôn miền núi, nông nghiệp giữ vai trò
khá quan trọng trong cơ cấu kinh tế, chiếm tỷ trọng trên 90% tổng giá trị sản xuất các
ngành kinh tế, Công nghiệp và thương mại còn rất hạn chế.
Thu nhập bình quân đầu người: 4,8 triệu đồng/người/năm (là xã có kinh tế thấp của
huyện)
Năm 2010, qua điều tra hộ nghèo và hộ cận nghèo, xã Khánh Nam có 478 hộ với 1845
nhân khẩu, trong đó có 204 hộ nghèo (773 nhân khẩu), chiếm tỷ lệ 42,68% trên tổng
số hộ toàn xã, 104 hộ cận nghèo (418 nhân khẩu). Đây là tỷ lệ khá cao, nếu không
quan tâm đúng mức sẽ gây hạn chế tiến trình phát triển kinh tế_xã hội của xã.
Về giao thông:
Hệ giao thông của xã có tổng chiều dài: 48km. Trong đó:
Đường trục xã, liên xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa.
Đường liên xã có 3,5km là đường nhựa, có mặt đường rộng 3,5m. Nhưng hiện nay
đường đã có nhiều chỗ xuống cấp hoặc mặt đường hẹp.
Đây là tuyến đường giao thông quan trọng nhất cho phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội.
Hiện nay, mặt đường trải nhựa 100%, đang xuống cấp còn sử dụng 70%
Về thủy lợi:
Hiện nay, xã Khánh Nam không có hệ thống thủy lợi phục vụ cho sản xuất nông
nghiệp trên địa bàn.
Về điện:
Hệ thống điện phục vụ cho sinh hoạt, sản xuất do Điện lực Diên Khánh-Khánh
Vĩnh quản lý, vận hành bảo dưỡng theo quy trình kỹ thuật của ngành điện qua tuyến
dây trung thế 3 pha 15kv dây trần nối từ Diên Khánh đi dọc theo tỉnh lộ 8B đến hết xã
Khánh Nam. Hiện nay trên địa bàn xã có 1 trạm hạ thế, 3 bình hạ thế đặt tại thôn Hòn
Dù và thôn Axay. Số km đường dây hạ thế trên địa bàn xã là 5km. Tỷ lệ hộ dùng điện:
70% số hộ dân được sử dụng điện thường xuyên.
Về trường học:
Hệ thống giáo dục trên địa bàn xã hiện nay có 1 trường mầm non và 1 trường tiểu học.
định canh định cư đó. Nếu gia đình có kinh tế khá giả thì phụ vào, còn không có kinh
tế thì nhà nước cấp thế nào ở thế đó.” (Nguồn: Phỏng vấn sâu cán bộ)
Chính vì vậy, đã tạo cho người dân tộc có tính ù lì trong cuộc sống, họ phụ thuộc vào
các chính sách của nhà nước mang lại cho họ. Sau khi kết hôn là họ ra riêng sống
trong một căn nhà tạm bợ, chính quyền địa phương làm theo chính sách thì xem xét và
sau đó thì cất nhà cho họ sống. Cứ như vậy, cuộc sống của họ phụ thuộc vào rất nhiều
vào các chính sách hỗ trợ tại địa phương và tạo cho họ tính ù lì trong sinh hoạt.
Trước đây, dân tộc Raglay sinh sống trên núi cao. Thực hiện chính sách của nhà
nước, chính quyền địa phương vận động đồng bào di chuyển nơi sinh sống từ trên núi
xuống gần các trục đường để được chăm lo đời sống người dân tốt hơn. Đến nơi ở mới
gần các trục đường chính, mỗi hộ được cấp một căn nhà từ nguồn vốn 135 của Chính
phủ, cấp đất sản xuất… Chính vì vậy, dân tộc Raglay vẫn giữ thói quen chăm sóc sức
khỏe lạc hậu cộng với tư tưởng ỷ lại sự trợ giúp của nhà nước, phần nào minh chứng
cho tính ù lì của hộ trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế.
Dân tộc Raglay cư trú chủ yếu ở phía Nam tỉnh Khánh Hòa.
Trước đây đồng bào sống du canh bằng nương rẫy. Trên rẫy thường trồng lúa ngô...
Hiện nay đồng bào làm cả ruộng nước. Săn bắn, hái lượm, chăn nuôi và các nghề thủ
công (chủ yếu là nghề rèn và đan lát) giữ vai trò quan trọng trong mỗi gia đình.
Công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản của người phụ nữ dân tộc Raglay vẫn đang gặp
nhiều khó khăn.
Nghề nghiệp
Người Raglay đã sống gắn bó chủ yếu với vùng đồi núi. Trong quá trình chinh
phục, khai thác vùng này, cư dân Raglay đã thích ứng với các hoạt động săn bắn hái
lượm, khai thác tài nguyên rừng, sản xuất nông nghiệp nương rẫy… Nền kinh tế phụ
thuộc phần lớn vào thiên nhiên của người Raglay trước đây đã biểu hiện và phản ánh