LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu nghiên cứu trong luận văn là trung thực, chính xác và
chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Tuyền
Bằng tất cả tấm lòng tôi xin gửi lời cảm ơn này đến:
- Ban Giám hiệu Trường Đại học Y-Dược Huế
- Phòng Đào tạo Đại học, Trường Đại học Y-Dược Huế
- Ban chủ nhiệm và các thầy cô khoa Y tế Công cộng
Trường Đại học Y-dược Huế
- Thư viện Trường Đại học Y-Dược Huế, Thư viện Khoa
Y tế Công Cộng Trường Đại học Y Dược Huế
- Ban Giám hiệu Trường Trung học phổ thông Hai Bà
Trưng, Thành phố Huế
- Các giáo viên chủ nhiệm và các em học sinh Trung
học phổ thông Hai Bà Trưng, Thành phố Huế
Đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô TS
Đoàn Vương Diễm Khánh, người đã truyền đạt cho tôi
nhiều kinh nghiệm, kiến thức trong học tập cũng như đã
hướng dẫn tận tình để tôi có thể hoàn thành luận văn.
Lời cuối cùng tôi xin gởi đến ba mẹ, anh chị em trong
gia đình, những người bạn thân thiết đã sát cánh, động
viên, giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập và trong
cuộc sống!
Huế, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Tuyền
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLTQĐTD : Bệnh lây truyền qua đường tình dục
lứa tuổi vị thành niên, song kết quả đạt được vẫn còn thấp. Theo báo cáo của
Bộ Y tế và Hội Liên Hiệp Thanh niên Việt Nam, người trong độ tuổi vị thành
niên chiếm 1/4 tổng dân số, 50% trong số này chưa có kiến thức đầy đủ về
sinh lý tuổi dậy thì và các hoạt động tình dục, mang thai [17]. Nhiều thống kê
cho thấy có sự gia tăng rõ rệt các vấn đề như mang thai sớm, mang thai ngoài
ý muốn, nạo phá thai, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, kể cả
HIV/AIDS ở vị thành niên ở nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Theo
2
số liệu của Vụ Sức khỏe Bà mẹ - Trẻ em, tỷ lệ vị thành niên có thai trong tổng
số người mang thai tăng liên tục qua các năm: Năm 2010 là 2,9%; năm 2011
là 3,1% và đến năm 2012 là 3,2% tương ứng với tỷ lệ phá thai ở lứa tuổi này
là 2,2% năm 2010; 2,4% năm 2011 và 2,3% năm 2012 [25], [42]. Ở nước ta
tính đến 2003 có 8,3% trong số người nhiễm HIV/AIDS ở lứa tuổi vị thành
niên từ 15-19 tuổi [37].
Riêng tại Huế, theo một nghiên cứu về sức khỏe sinh sản vị thành niên
năm 2003 của học sinh trung học phổ thông thành phố Huế cho thấy: vị thành
niên hiểu biết chung về dấu hiệu dậy thì khá cao 98,6%; biết về nguyên nhân
có thai cao 96%; 75,4% biết về các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
Nhưng 54,5% học sinh không hiểu biết về thời điểm có thai [27]. Là một
trường nằm trên địa bàn thành phố Huế, các em học sinh trường Trung học
phổ thông Hai Bà Trưng cần được quan tâm về chăm sóc giáo dục sức khỏe
sinh sản bởi lẽ các em là những chủ nhân tương lai của đất nước và chính đây
là lực lượng đi đầu trong các hoạt động truyền thông về sức khỏe sinh sản vị
thành niên trong cộng đồng.
Vì vậy, nghiên cứu kiến thức, thái độ và hành vi sức khỏe sinh sản và
tìm hiểu các yếu tố liên quan của đối tượng này sẽ là một bằng chứng khoa
học quan trọng, làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách, chương trình
liên quan đến chăm sóc sức khỏe sinh sản ở tuổi vị thành niên ở thành phố
Huế nói riêng và Việt Nam nói chung. Xuất phát từ những lí do trên, chúng
tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu kiến thức, thái độ và hành vi về sức khỏe
ngày 1 tháng 4 năm 2009 ở Việt Nam hiện nay có 18,7% VTN từ 10-19 tuổi,
khoảng 16,064 triệu người và ở Thừa Thiên Huế VTN có khoảng 242.537
người chiếm 22,3 % [3], [15].
1.1.1.2. Các đặc trưng của tuổi dậy thì
4
Tuổi dậy thì diễn ra ở tất cả mọi người và là giai đoạn đầu của VTN,
đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong đời một con người. Đây chính là giai
đoạn chuyển tiếp từ trẻ con thành người lớn [19]. Đặc trưng cơ bản của nhóm
VTN có thể được xác định bởi những biến đổi thường xuyên, liên tục, mạnh
mẽ của ba mặt: Thể chất, tâm lý, tình cảm, nhận thức và sau đó là hành vi. Sự
nhận biết một cách đúng đắn và khoa học về những đặc trưng cơ bản của tuổi
VTN là hết sức quan trọng đối với việc quan tâm chăm sóc và giáo dục lứa
tuổi này. Sự biến đổi về thể chất, tâm sinh lý của tuổi VTN đến sớm hay
muộn phụ thuộc vào từng người, từng giới, đời sống vật chất, tinh thần, môi
trường, khí hậu, thành thị hay nông thôn [38].
Tuổi dậy thì ở các em nữ bắt đầu từ tuổi 8-12 và nam từ 10-14 tuổi và
kết thúc khoảng lứa tuổi 16-18 đối với nữ và từ 18-20 đối với nam [7]. Ở nữ
giới bắt đầu dậy thì sớm hơn nam giới khoảng 1-2 năm, ở thành thị sớm hơn ở
nông thôn 1-2 năm. Sự thay đổi đặc trưng nhất của VTN ở tuổi dậy thì về thể
chất là sự xuất hiện hành kinh ở nữ và mộng tinh ở nam [36].
1.1.2. Khái niệm và nội dung về sức khỏe sinh sản và sức khỏe sinh sản vị
thành niên
1.1.2.1. Khái niệm sức khỏe sinh sản
Theo Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển ở Cairo, 1994: “Sức
khỏe sinh sản (SKSS) là một sự thoải mái hoàn toàn về thể chất, tinh thần và
xã hội, không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật hoặc tàn phế của hệ thống
sinh sản”. Điều này cũng hàm ý là mọi người, kể cả nam và nữ đều có quyền
được nhận thông tin và tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, các biện pháp
kế hoạch hóa gia đình an toàn, có hiệu quả bảo đảm cho các cặp vợ chồng cơ
may tốt nhất để sinh được đứa con lành mạnh” [34].
∗ Tư vấn về SKSS, tình dục, các biện pháp tránh thai
6
∗ Chăm sóc cho vị thành niên mang thai và sinh đẻ
∗ Phá thai an toàn
∗ Xử lý các nhiễm khuẩn đường sinh sản/BLTQĐTD [4].
1.2. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI
1.2.1. Khái niệm về kiến thức
Kiến thức là nhận ra ý nghĩ, bản chất, lý lẽ của việc, bằng sự vận dụng
trí tuệ. Hiểu biết được ý nghĩ, tình cảm, quan điểm của người khác, về tình
hình, lĩnh vực nào đó [43]. Có kiến thức là nhờ một quá trình thông qua giáo
dục, thông tin, truyền thông, bằng cách tác động bởi các yếu tố bên ngoài và
bằng ngay chính năng lực của bản thân con người [33].
1.2.2. Khái niệm về thái độ
Thái độ là những biểu hiện bên ngoài bằng nét mặt, cử chỉ, lời nói,
hành động của ý nghĩ, tình cảm đối với ai hoặc về sự việc nào đó (thái độ
đồng tình, không đồng tình, ủng hộ hay không ủng hộ, hoặc im lặng ). Nó là
cách nghĩ, cách nhìn và các hành động theo một hướng nào đó trước một vấn
đề, một tình hình [43].
1.2.3. Khái niệm về hành vi
Hành vi của con người là những ứng xử trong những tình huống, hoàn
cảnh cụ thể và chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau. Một cá nhân muốn
có hành vi tốt cần có kiến thức (hiểu biết đầy đủ về hành vi đó), có niềm tin
và thái độ tích cực muốn thay đổi theo chiều hướng có hành vi tốt, có kỹ năng
thực hiện hành vi đó, có các nguồn lực để có thể thực hiện hành vi đó và đồng
thời phải có sự ủng hộ, sự ủng hộ để duy trì hành vi đó lâu dài [43].
Theo ảnh hưởng của hành vi, chúng ta thấy có hai loại hành vi, đó là
các hành vi có lợi cho sức khỏe và các hành vi có hại cho sức khỏe. Bên cạnh
những hành vi có lợi và có hại cho sức khỏe, chúng ta còn thấy một số hành
vi không có lợi và không có hại cho sức khỏe [33].
1.3. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN
giới và ở nữ nhóm tuổi 25-35 [28]. Muốn làm chậm tốc độ lây nhiễm HIV thì
8
cần phải thay đổi hành vi tình dục của những người trẻ tuổi vì đây là một
trong những bệnh lây truyền qua đường tình dục [5].
1.3.1.3. Các nguy cơ về sức khỏe và hậu quả về kinh tế, xã hội của vấn đề
thai nghén và sinh đẻ ở tuổi vị thành niên
Các thai nghén và sinh đẻ ở VTN hầu như không có chuẩn bị, do vậy
các biến chứng và tai biến do thai nghén ở VTN cao hơn nhiều tuổi trên 20 dù
có chồng hay không [4]. Tỷ lệ tử vong ở bà mẹ VTN cao hơn 1,5 lần so với
nhóm tuổi 20-29 [46]. Tử vong sơ sinh cũng rất cao trong những bà mẹ
VTN hơn 30% cho những phụ nữ 15-19 tuổi [49]. Đẻ non, sẩy thai tự
nhiên, thai chết lưu cũng như thai kém phát triển trong tử cung cũng
chiếm tỷ lệ cao hơn [40].
Ngoài tác động xấu của thai nghén đến sức khỏe, nữ VTN có thai ngoài
ý muốn còn có những hậu quả về kinh tế, xã hội [40]. Thai nghén sớm dưới
20 tuổi làm hạn chế khả năng học tập và nguy cơ khó kiếm việc làm thích hợp
[5], [21]. Xã hội phải chi trả các dịch vụ về y tế, xã hội, trợ cấp khó khăn cho
cả mẹ và con [18]. Các vấn đề tệ nạn xã hội cũng tăng cao như mại dâm, ma
túy. Sinh đẻ ở độ tuổi VTN làm tốc độ tăng dân số nhanh hơn [32].
1.3.2. Các nghiên cứu về sức khỏe sinh sản vị thành niên tại Việt Nam và
tỉnh Thừa Thiên Huế
1.3.2.1. Vấn đề quan hệ tình dục, có thai, nạo hút thai, sinh đẻ ở vị thành niên
- Quan hệ tình dục trước hôn nhân và nạo hút thai: QHTD trước hôn
nhân, và tình trạng có thai ở VTN ngày càng tăng, nhưng lại chưa có ý thức
sử dụng biện pháp tránh thai (BPTT) để hạn chế thai nghén. Theo nghiên cứu
của Bộ Y tế và WHO năm 2002 cho thấy có 11,2% VTN có QHTD nhưng chỉ
có 33,9% trong số đó có sử dụng BPTT [4].
Kết quả điều tra Quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam
(SAVY) năm 2003 cho thấy: 19,8% nam thành thị, 2,6% nữ thành thị và 13,6%
nam nông thôn, 2,2% nữ nông thôn trong độ tuổi 18-25 có quan hệ tình dục
đến HIV/AIDS. Trong đó 52,2% có hiểu biết tốt; 39,3% trung bình và 8,5%
10
thấp [10]. Ở nước ta tính đến 30/04/2003 có 8,3% trong số 64.801 người
nhiễm HIV/AIDS ở lứa tuổi VTN từ 15-19 tuổi [37]. Tình hình nhiễm
HIV/AIDS tại Việt Nam đang có chiều hướng tăng đồng thời có xu hướng trẻ
hóa rõ rệt, nhóm tuổi từ 13-19 chiếm 5% vào năm 1997 đến 2002 tăng lên
8,3%. Nhóm từ 20-29 tăng lên khá nhanh từ 29% năm 1997 lên 55,6%năm
1999 và 59% năm 2002 [24].
1.4. VÀI NÉT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
Thừa Thiên Huế là một tỉnh ven biển phía vùng Bắc Trung Bộ Việt
Nam. Diện tích 5.053,99 km
2
. Dân số 1.087.420 người, VTN từ 10-19 tuổi là
242.537 người [15]. Tỉnh có 1 thành phố, 1 thị xã và 7 huyện với 152 phường,
xã, thị trấn. Thừa Thiên Huế là cố đô của triều Nguyễn nên chịu ảnh hưởng
nặng nề của tư tưởng, phong tục tập quán, lễ nghi phong kiến trong suy nghĩ,
lối sống của người dân nhất là vấn đề SKSS vị thành niên và thanh niên.
Trường THPT Hai Bà Trưng, thành phố Huế là một trong những ngôi
trường lớn ở miền Trung và trên toàn quốc. Được thành lập ngày 15 tháng 7
năm 1917, lúc đó trường mang tên Đồng Khánh. Từ năm 1981 đến nay
trường được đổi tên thành trường THPT Hai Bà Trưng. Hằng năm, Trường
Trung học phổ thông Hai Bà Trưng Huế đều ổn định ở mức độ cao về kết quả
tốt nghiệp Trung học phổ thông (99 - 100%) với nhiều học sinh đỗ loại giỏi,
khá; tỷ lệ đỗ vào Đại học (80 - 90%); tỷ lệ học sinh xếp loại giỏi - khá (trên
60%); nhiều học sinh đạt giỏi cấp tỉnh; luôn dẫn đầu trong Hội khỏe Phù
Đổng toàn tỉnh. Trường Trung học phổ thông Hai Bà Trưng năm học 2013 -
2014 có 42 lớp với 1.819 học sinh.
Theo thông tin từ ban lãnh đạo nhà trường thời gian gần đây đã có khá
nhiều hoạt động giáo dục SKSS vị thành niên tại trường. Các em được tham
gia nhiều buổi ngoại khóa lồng ghép các hoạt động của nhà trường cùng với
phải có để dự trù các mẫu có thể bị mất. Cỡ mẫu cần thiết là n = 614.
2.2.3. Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo khối lớp.
Trường Trung học phổ thông Hai Bà Trưng năm học 2013 - 2014 có 42
lớp với 1.819 học sinh (trung bình mỗi lớp có 43 học sinh) nên chúng tôi chọn
15 lớp để tiến hành thu thập số liệu (614/43).
Bước 1: Lập danh sách tên lớp theo khối và bốc thăm ngẫu nhiên 5 lớp ở mỗi
khối 10, 11, 12.
12
Bước 2: Chọn tất cả học sinh trong các lớp được chọn vào mẫu.
Tổng cộng có 630 học sinh trong đó khối lớp 10 là 200 học sinh, khối lớp 11
là 232 học sinh và khối lớp 12 là 198 học sinh.
2.3. PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU
- Liên hệ với Ban Giám hiệu nhà trường và giáo viên chủ nhiệm lớp để
tạo điều kiện tiến hành.
- Cán bộ điều tra trực tiếp phát phiếu điều tra cho học sinh sau khi đã
giải thích rõ mục đích của cuộc điều tra, hướng dẫn về nội dung và cách ghi
thông tin trong phiếu điều tra. Học sinh tự điền vào phiếu điều tra, thu hồi lại
và kiểm tra phiếu sau khi học sinh điền xong.
2.4. NỘI DUNG VÀ BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU
2.4.1. Nghiên cứu các đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
- Giới: Nam hay nữ.
- Tuổi: Theo năm sinh của đối tượng tính tới thời điểm điều tra. Chia thành 2
nhóm: Từ 16 tuổi trở xuống và trên 16 tuổi.
- Mức học vấn: Lớp học sinh đang học (10, 11, 12).
- Tôn giáo: Tôn giáo hiện tại của đối tượng. Chia thành 2 nhóm: Không tôn
giáo và có tôn giáo (Thiên chúa giáo, Phật giáo ).
- Môi trường sống trong quá trình học THPT: Sống với gia đình hay ở trọ.
- Kết quả học tập học kỳ vừa rồi: Xếp loại học tập của đối tượng loại giỏi,
khá, trung bình/yếu.
14
- Hành vi yêu đương
- Hành vi quan hệ tình dục khác giới (trước hôn nhân), mức độ sử dụng BPTT
và các biện pháp đã sử dụng khi QHTD.
2.4.3. Nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, hành vi
về sức khỏe sinh sản của học sinh
- Yếu tố cá nhân (tuổi, giới, khối lớp, tôn giáo, môi trường sống trong quá
trình học tập, kết quả học tập )
- Yếu tố gia đình (mức học vấn của bố/mẹ, tình trạng hôn nhân của bố mẹ,
kinh tế gia đình )
2.5. TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ
Kiến thức về sức khỏe sinh sản: Đánh giá bằng cách trả lời được một ý
đúng sẽ được điểm của ý đó, nếu không biết là 0 điểm. Tùy theo mức độ
nghiêm trọng, tính phổ biến và tầm ảnh hưởng của vấn đề, chúng tôi cho điểm
theo trọng số tương ứng với 0,5; 1 và 1,5. Có 16 câu hỏi kiến thức về SKSS
(C10 đến C25) cụ thể như sau:
+ Các câu C10, C11, C16, C19, C20, C21 mỗi ý trả lời đúng được 0,5 điểm,
riêng C11.1, C16.1, C21.1 trả lời đúng được 1 điểm.
+ Các câu C12.1, C13.2, C14.1, C15.4, C17, C22, C23, C25 mỗi ý trả lời
đúng được 1 điểm.
+ Các câu C18.2, C24 mỗi ý trả lời đúng được 1,5 điểm.
Điểm tối đa cho phần kiến thức là 46 điểm.
Phân loại kiến thức về SKSS:
- Đánh giá kiến thức cho từng câu hỏi: Tốt khi học sinh đạt trên 75% điểm từng
câu, còn lại là chưa tốt. Riêng C18, học sinh trả lời đáp án C18.2 đánh giá là
tốt, còn lại là chưa tốt. Đối với các câu C12, C13, C14, C15 học sinh trả lời các
đáp án C12.1, C13.2, C14.1 và C15.4 được đánh giá là có kiến thức đúng.
- Đánh giá kiến thức chung về SKSS: Tốt khi học sinh đạt trên 75% tổng
điểm kiến thức ( ≥34,5 điểm), còn lại là chưa tốt (<34,5 điểm).
15
2.6. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Số liệu nghiên cứu được thu thập từ tháng 9/2013 đến tháng 10/2013.
2.7. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU
- Thông tin trên phiếu hỏi được nhập vào máy trên phần mềm Epidata 3.1
- Sau khi nhập xong, chuyển sang SPSS để xử lý và phân tích số liệu.
- Luận văn này sử dụng test χ
2
để so sánh sự khác biệt giữa 2 hay nhiều tỷ lệ.
2.8. ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU
- Tất cả những học sinh tham gia nghiên cứu đều được hỏi ý kiến và đồng ý tự
nguyện tham gia nghiên cứu.
- Không ghi tên cá nhân vào phiếu điều tra, đảm bảo tuyết đối bí mật đời tư
của các em học sinh sau khi thu thập thông tin qua phiếu điều tra.
2.9. HẠN CHẾ SAI SỐ
- Đề tài nghiên cứu có nhiều nội dung khá nhạy cảm đối với lứa tuổi học sinh,
để hạn chế sai số khi thu thập thông tin, bộ câu hỏi được soạn sẵn và chuyển
tới trực tiếp học sinh tự ghi vào phiếu và thu lại ngay.
- Sau khi trình bày lí do, hướng dẫn cách điền vào phiếu câu hỏi, các em
không cần ghi tên cá nhân và các thông tin cá nhân được cam đoan giữ kín.
- Khi thu thập thông tin sẽ chia thành 2 nhóm: Nhóm nam và nhóm nữ ngồi
riêng để tạo không khí thoải mái và tự nhiên nhằm khai thác thông tin đầy đủ
và chính xác.
17
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1.1. Đặc điểm cá nhân đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1. Đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu
STT Đặc điểm n %
1 Giới
5 Môi trường sống
Sống với gia đình
Ở trọ
543
87
86,2
13,8
6 Kết quả học tập
Giỏi
Khá
Trung bình/yếu
186
366
78
29,5
58,1
12,4
Tỷ lệ học sinh nữ cao hơn học sinh nam; độ tuổi từ 15 đến 19; tỷ lệ học
sinh các lớp 10, 11, 12 gần tương đương nhau; 61,0% số học sinh có tôn giáo.
Tỷ lệ học sinh sống với gia đình là 86,2%; kết quả học tập chủ yếu là
giỏi và khá gần 87,6%.
Bảng 3.2. Đặc điểm về tuổi dậy thì của đối tượng nghiên cứu
Đối
tượng
n
Hành kinh/mộng tinh
n % p
Tuổi có lần
đầu SD
)
2,7
10,8
28,0
54,8
2 Học vấn mẹ
Không biết đọc, không biết viết
Biết đọc biết viết
Cấp 1
Cấp 2
Cấp 3
Trung học/cao đẳng/đại học
3
15
30
99
145
338
0,4
2,4
4,8
15,7
23,0
53,7
3
Tình trạng
hôn nhân
của bố mẹ
Sống cùng nhau
Ly hôn, ly thân, bố/mẹ mất
586
Các nội dung về sức khỏe
sinh sản
Tốt
Chưa tốt
101
529
16,0
84,0
Dấu hiệu tuổi dậy thì
Tốt
Chưa tốt
355
275
56,3
43,7
Các nguy hiểm của nạo phá thai
Tốt
Chưa tốt
236
394
37,6
62,4
Nơi nạo phá thai
Tốt
Chưa tốt
514
116
81,6
18,4
Các biện pháp tránh thai
31,9
68,1
Phòng tránh các bệnh lây truyền
qua đường tình dục
Tốt
Chưa tốt
378
252
60,0
40,0
Các đường lây truyền của
HIV/AIDS
Tốt
Chưa tốt
528
102
83,8
16,2
Cách phòng tránh HIV/AIDS
Tốt
Chưa tốt
434
196
68,9
31,1
Tỷ lệ có kiến thức tốt về các dấu hiệu của BLTQĐTD và cách phòng
tránh BLTQĐTD lần lượt là 31,9%; 60%. Tỷ lệ kiến thức tốt các đường lây
truyền của HIV/AIDS và cách phòng tránh HIV/AIDS khá cao; lần lượt là
83,8% và 68,9%.
21
350
44,4
55,6
Tỷ lệ học sinh có thái độ đúng về phim ảnh sách báo có nội dung tình
dục và hành vi nạo phá thai mức trung bình lần lượt là 48,4% và 44,4%; tỷ lệ
học sinh có thái độ đúng về cung cấp kiến thức các BPTT khá cao 83%.
3.2.2.2. Thái độ đúng của học sinh về quan hệ tình dục trước hôn nhân
22
Biểu đồ 3.4. Thái độ đúng của học sinh về quan hệ tình dục trước hôn nhân
Tỷ lệ học sinh có thái độ đúng về QHTD trước hôn nhân chưa cao.
3.2.2.3. Phân loại thái độ chung về sức khỏe sinh sản
Bảng 3.7. Phân loại thái độ về sức khỏe sinh sản
Phân loại thái độ chung về sức khỏe sinh sản n %
Đúng
Chưa đúng
247
383
39,2
60,8
Nhìn chung tỷ lệ học sinh có thái độ đúng về SKSS còn thấp 39,2%.
3.2.3. Hành vi về sức khỏe sinh sản
3.2.3.1. Hành vi chia sẻ một số vấn đề về sức khỏe sinh sản của học sinh
Bảng 3.8. Chia sẻ về sức khỏe sinh sản
Hành vi n %
Chia sẻ với người thân khi có dấu
hiệu mộng tinh/hành kinh đầu tiên
(n=616)
Có
Không
443