Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành và tỷ lệ rối loạn glucose máu tại hải hậu nam định 2010 - Pdf 19

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ), là một trong 3 căn bệnh có tốc độ phát
triển nhanh nhất Thế giới. Theo thông báo của Liên đoàn Đái tháo đường
Quốc tế hiện nay có 285 triệu người mắc bệnh Đái tháo đường và dự đoán
vào năm 2030 sẽ là 435 triệu người [44]. Đặc biệt bệnh Đái tháo đường týp 2
chiếm 1 tỷ lệ lớn vào khoảng 90% ở người lớn [49].
Không chỉ vậy, ĐTĐ còn để lại cho bệnh nhân những di chứng nặng
nề, giá thành điều trị cao và tỷ lệ tử vong lớn. Theo thống kê của Tổ chức Y tế
thế giới (WHO), cứ 30 giây lại có 1 người mắc bệnh ĐTĐ bị cắt cụt chi; mỗi
ngày có 5.000 người mất khả năng nhìn do biến chứng về mắt của bệnh ĐTĐ;
mỗi năm có khoảng 3,2 triệu người chết vì các bệnh liên quan tới ĐTĐ đặc biệt
bệnh ĐTĐ là nguyên nhân gây tử vong thứ 4 trong số các bệnh không lây
nhiễm và thứ 6 trong tổng số các bệnh gây tử vong trên toàn thế giới. Bệnh đã
và đang trở thành mối hiểm hoạ lớn cho cộng đồng [42].
Trước đây, bệnh đái tháo đường được coi là không thể phòng ngừa
được. Nhưng cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, ngày nay chúng ta
càng hiểu rõ hơn về cơ chế bệnh sinh của bệnh đái tháo đường, đặc biệt là đái
tháo đường týp 2. Vai trò của yếu tố gen, yếu tố môi trường và lối sống đã
được chứng minh. Từ đó khẳng định rằng đái tháo đường týp 2 có thể phòng
chống được với các mức độ khác nhau nếu được can thiệp tích cực vào các
yếu tố đó [1].
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, có những chính sách đổi mới
trên nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội làm cho đời sống kinh tế, xã hội của đất
nước thay đổi nhanh chóng, chính sự thay đổi này đã làm cho điều kiện sống,
lối sống của người dân nâng cao là nguyên nhân làm cho tốc độ mắc đái tháo
1
đường gia tăng mạnh. Theo điều tra dịch tễ học bệnh đái tháo đường ở đối
tượng 30–64 tuổi, năm 2002 trên địa bàn toàn quốc, tỷ lệ chung mắc bệnh đái
tháo đường là 2,7% ; tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường ở khu vực miền núi là
2,1%; ở khu vực thành thị là 4,4% ; khu vực đồng bằng là 2,7% [2].

trong ĐTĐ làm tổn thương, rối loạn và suy chức năng của nhiều cơ quan khác
nhau, đặc biệt là các tổn thương ở mắt, thận, thần kinh và tim mạch [56][57].
1.1.1.2. Phân loại
* Phân loại đầu tiên về bệnh đái tháo đường
Phân loại đái tháo đường được nhóm nghiên cứu ĐTĐ dữ liệu quốc
gia của Mỹ xây dựng và công bố vào năm 1979, được hội đồng chuyên gia
về ĐTĐ của tổ chức Y tế thế giới và nhóm nghiên cứu của tổ chức Y tế thế
giới chấp thuận vào năm 1980. Chia ĐTĐ thành 5 thể riêng biệt:
- Đái tháo đường phụ thuộc insulin (ĐTĐPTI).
- Đái tháo đường không phụ thuộc insulin (ĐTĐKPTI).
- Đái tháo đường thai kỳ.
- Đái tháo đường liên quan đến dinh dưỡng
- Các thể ĐTĐ đặc biệt.
Ngoài ra, trong phân loại năm 1979 cũng bao gồm cả thể rối loạn dung
nạp glucose, rối loạn glucose máu lúc đói cho những đối tượng có mức
glucose máu tương cao hơn bình thường nhưng thấp hơn mức xác định bệnh
ĐTĐ khi làm nghiệm pháp dung nạp glucose hay đường máu lúc đói.
3
Tuy nhiên trong phân loại năm 1979 vào thời điểm đó kiến thức về
bệnh ĐTĐ còn hạn chế, nguyên nhân bệnh còn chưa rõ ràng, mới chỉ có một
vài gen gây bệnh được phát hiện, nhất là hiểu biết về vai trò của miễn dịch
học trong ĐTĐ týp 1 mới chỉ bắt đầu. Chính vì vậy, việc sửa đổi và điều
chỉnh lại phân loại bệnh ĐTĐ là cần thiết. Tiêu chuẩn chẩn đoán và phân loại
đã được nghiên cứu kỹ lưỡng, đã được nhóm nghiên cứu ĐTĐ quốc gia của
Mỹ xây dựng và công bố vào năm 1997, được hội đồng chuyên gia về ĐTĐ
của tổ chức Y tế thế giới và nhóm nghiên cứu của tổ chức Y tế thế giới chấp
thuận vào năm 1999 [56][57].
* Những thay đổi chính của phân loại 1999 [56][57].
- Những thay đổi về thuật ngữ, theo đó ĐTĐPTI và ĐTĐKPTI không
còn được sử dụng vì những thuật ngữ này có thể dẫn đến một số nhầm lẫn và

trong hai yếu tố trên nổi trội hoặc cả hai.
• Những thể bệnh đái tháo đường đặc biệt:
- Khiếm khuyết gen hoạt động của tế bào bêta: đái tháo đường khởi
phát sớm ở người trẻ thường dưới 25 tuổi (Maturity-onset diabetes of young -
MODY) do đột biến gen. Gồm các thể MODY 1 (khiếm khuyết nhiễm sắc thể
20, HNF-4 ), MODY 2 (khiếm khuyết nhiễm sắc thể 7, glucokinase),
MODY 3 (khiếm khuyết nhiễm sắc thể 12, HNF-1 ), MODY 4 (khiếm
khuyết ADN ty lạp thể) và các khiếm khuyết khác.
- Khiếm khuyết gen hoạt động của insulin: bất thường hoạt động của
insulin do đột biến thụ thể của insulin. Gồm kháng insulin týp A,
leprechaunism, hội chứng Rabson -Mendenhall, đái tháo đường teo tổ chức
mỡ, dạng khác.
5
- Bệnh tuỵ ngoại tiết: tất cả những tác động gây tổn thương lớn ở tuyến
tuỵ có thể gây bệnh ĐTĐ. Những nguyên nhân gây tổn thương như viêm tuỵ,
chấn thương, nhiễm trùng, carcinoma tuỵ, cắt bỏ tuỵ, chứng xơ hoá nang,
chứng nhiễm sắc tố sắt (đái tháo đường đồng đen), sỏi tuỵ và một số bệnh khác.
- Các bệnh nội tiết: một số bệnh nội tiết tiết quá nhiều Hormon đối lập
hoạt động của insulin như: Grown hormon (GH), Cortisol, Glucagon,
Epinephrin, có thể gây đái tháo đường.
- Đái tháo đường do thuốc hoặc hoá chất: hoá chất diệt chuột (varco),
pentamidin, nicotinic acid, glucocorticoid
- Một số bệnh nhiễm trùng: nhiễm một số loại virus như coxsackie B,
cytomegalovirus, adenovirus, virus quai bị có thể gây đái tháo đường.
• Đái tháo đường thai kỳ: là dạng bệnh đái tháo đường chỉ khởi
phát hoặc được phát hiện lần đầu tiên trong thời kỳ người phụ nữ đang mang
thai, và tình trạng đường huyết trở lại bình thường sau khi người phụ nữ đã
sinh nở (khoảng sau 6 – 8 tuần).
• Ngoài ra, năm 2005, tổ chức Y tế thế giới, Hiệp hội đái tháo
đường quốc tế chính thức sử dụng thuật ngữ tiền đái tháo đường

MM toàn phần
mmol /l (mg/dl)
Huyết tương
TM
mmol/l (mg/dl)
ĐTĐ
ĐM lúc đói hoặc
2 giờ sau
NPDNG
= 6,1 (= 110)
= 10,0 (= 180)
= 6,1 (= 110)
= 11,1 (= 200)
= 7,0 (= 126)
= 11,1 (= 200)
RLDNG
GM lúc đói và
2 giờ sau
NPDNG
< 6,1 (< 110) và
= 6,7 (= 120)
< 6,1 (< 110)

= 7,8 (= 140)
< 7,0 (< 126) và
= 7,8 (= 140)
RLGMLĐ
GM lúc đói và
NPDNG nếu đo
= 5,6 (= 100) và

đầu tiên trong số các yếu tố nguy cơ của bệnh ĐTĐ týp 2 [56]. Khi cơ thể già
đi, chức năng của tuỵ nội tiết cũng giảm theo và khả năng tiết insulin của tuỵ
cũng bị giảm. Khả năng tiết insulin của tuỵ giảm làm nồng độ glucose máu có
xu hướng tăng lên, đồng thời giảm nhạy cảm của tế bào đích với các kích
thích của insulin. Khi tế bào tuỵ không còn khả năng tiết insulin đủ với nhu
cầu cần thiết của cơ thể, glucose máu khi đói tăng và bệnh ĐTĐ thực sự xuất
8
hiện [31]. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh tuổi có liên quan đến sự xuất hiện
bệnh ĐTĐ týp 2, tuổi càng tăng tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ và RLDNG càng cao.
Châu Á, bệnh ĐTĐ có tỷ lệ cao ở những người trên 30 tuổi, ở châu Âu
bệnh thường xảy ra sau tuổi 50. Từ tuổi 65 trở lên tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ lên đến
16%[58].
1.1.3.3. Các yếu tố nguy cơ liên quan đến hành vi và lối sống
* Béo phì (phân bố và các yếu tố liên quan)
Ở người béo phì, mỡ phân phối ở bụng nhiều dẫn đến tỷ lệ vòng
bụng /vòng mông tăng hơn bình thường. Béo bụng có liên quan chặt chẽ với
hiện tượng kháng insulin do thiếu hụt sau thụ thể, dẫn đến sự thiếu insulin
tương đối do giảm số lượng thụ thể ở các mô ngoại vi (chủ yếu là mô cơ, mô
mỡ). Do tính kháng insulin cộng với sự giảm tiết insulin dẫn tới sự giảm tính
thấm của màng tế bào với glucose ở tổ chức cơ và mỡ, ức chế quá trình
phosphoryl hoá và oxy hoá glucose, làm chậm quá trình chuyển carbohydrate
thành mỡ, giảm tổng hợp glycogen ở gan, tăng tân tạo đường mới và bệnh
ĐTĐ xuất hiện [26].
Tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu của Trần Đức Thọ và cộng sự [29]
cho thấy những người có BMI > 25 có nguy cơ bị bệnh ĐTĐ týp 2 nhiều hơn
gấp 3, 74 lần so với người bình thường. Theo nghiên cứu của Thái Hồng
Quang [26] ở những người béo phì độ 1 tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ tăng lên 4 lần,
béo phì độ 2 tỷ lệ bệnh tăng lên gấp 30 lần so với người bình thường.
Béo phì là một trong những nguy cơ có thể phòng tránh được của bệnh
ĐTĐ týp 2 và 70 - 80% người bệnh ĐTĐ týp 2 bị béo phì [59]. Nghiên cứu

1.1.3.4. Các yếu tố chuyển hoá và các loại nguy cơ trung gian
- Rối loạn đường huyết lúc đói, rối loạn dung nạp glucose.
- Kháng insulin.
10
- Các yếu tố liên quan đến thai nghén (tình trạng sinh, ĐTĐ thai kỳ, ĐTĐ,
con cháu của những phụ nữ ĐTĐ khi mang thai, môi trường trong tử cung).
Những người có tiền sử RLDNG, khả năng tiến triển thành bệnh ĐTĐ
thực sự là rất cao. Theo Harris và cộng sự [42] nghiên cứu năm 1989 ở Mỹ
cho thấy, tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose gặp khá nhiều và tăng dần theo tuổi,
từ 6,4% ở lứa tuổi 20 - 44 tăng lên 41% ở lứa tuổi 65 - 74. Theo Saad và cộng
sự rối loạn dung nạp glucose có nguy cơ phát triển thành bệnh ĐTĐ týp 2 cao
gấp 6, 3 lần so với người bình thường. Cách dự phòng bệnh ĐTĐ ở những
người có RLDNG hiệu quả vẫn là điều chỉnh chế độ ăn uống, sinh hoạt và
tăng cường hoạt động thể lực.
1.1.4. Cơ chế bệnh sinh
Nhiều chuyên gia hàng đầu về bệnh ĐTĐ trên thế giới đều thống nhất cơ
chế hình thành bệnh ĐTĐ týp 2 là quá trình tác động qua lại phức tạp của hai
nhóm nguyên nhân chính đó là các yếu tố môi trường và yếu tố gen (hình 1.1).
Kháng insulin Giảm khối tế bào Bêta
Tế bào Bêta bị tổn thương Nhiễm độc do glucose
Giảm dung nạp glucose Amyloid đảo
Đái tháo đường týp 2
Hội chứng giống ĐTĐ týp 1
(Phụ thuộc insulin)
Hình 1.1: Tóm tắt cơ chế bệnh sinh bệnh đái táo đường týp 2
11
Dưới tác động của yếu tố môi trường như chế độ ăn nhiều lipid, đặc
biệt nhiều acid béo bão hoà, nhiều carbohydrate tinh, ít vận động thể lực hoặc
sự tăng lên của tuổi tác, béo phì sẽ làm xuất hiện hoặc làm tăng sự đề kháng của
các cơ quan đích (tế bào cơ, gan, tổ chức mỡ) đối với insulin ở những đối tượng

Ngày nay, can thiệp phòng bệnh gọi là can thiệp cấp 1 (can thiệp vào
nhóm người có yếu tố nguy cơ nhằm ngăn ngừa sự xuất hiện bệnh ĐTĐ týp 2
thực sự). Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nếu không được can thiệp thì cứ
trong khoảng 3 đến 5 năm sẽ có 6,0% số người bị rối loạn dung nạp glucose
sẽ tiến triển thành ĐTĐ và 3,0% số người bị rối loạn đường máu lúc đói sẽ
tiến triển thành ĐTĐ týp 2.
1.3. Tình hình mắc bệnh đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam
Bệnh ĐTĐ là một trong những bệnh không lây phổ biến nhất hiện nay
trên toàn cầu, theo báo cáo của Hiệp hội đái tháo đường quốc tế, năm 2000 có
khoảng 151 triệu người tuổi từ 20 đến 79 mắc bệnh ĐTĐ, chiếm tỷ lệ 4,6%.
Trong đó, nơi có tỷ lệ ĐTĐ cao nhất là khu vực Bắc Mỹ, khu vực Địa Trung
Hải và Trung Đông với tỷ lệ tương ứng là 7,8% và 7,7%; tiếp đến là khu vực
Đông Nam Á với tỷ lệ 5,3%; châu Âu 4,9%; Trung Mỹ 3,7%; khu vực Tây
Thái Bình Dương 3,6% và châu Phi 1,2%. Hiện nay khu vực Tây Thái Bình
Dương và khu vực Đông Nam Á là 2 khu vực có số người mắc ĐTĐ cao nhất
tương ứng là 44 triệu người và 35 triệu người. Những báo cáo mới đây của
Hiệp hội ĐTĐ quốc tế cũng khẳng định tỷ lệ bệnh ĐTĐ týp 2 chiếm khoảng
85% - 95% tổng số bệnh nhân ĐTĐ ở các nước phát triển và tỷ lệ này thậm
chí còn cao hơn ở các nước đang phát triển[45],[46].
13
Bệnh ĐTĐ là bệnh không lây có tốc độ phát triển nhanh nhất, năm
1994, cả thế giới mới có 110 triệu người mắc ĐTĐ; năm 1995 con số đó là
135 triệu người (tăng 4%); Theo số liệu mới nhất của Hiệp hội Đái tháo
đường quốc tế hiện nay có285 triệu người mắc bệnh ĐTĐ và ước tính đến
năm 2030 toàn thế giới có 435 triệu người mắc bệnh. Hậu quả của lối sống ít
hoạt động thể lực, môi trường sống, làm việc căng thẳng và chế độ ăn không
cân đối, nhiều mỡ là những yếu tố môi trường quan trọng làm tăng tỷ lệ bệnh
ĐTĐ. Những yếu tố khác như sự già hoá của quần thể, bệnh béo phì cũng là
những yếu tố nguy cơ quan trọng làm tăng nhanh tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ[45],
[46],[47].

lưới y tế quản lý bệnh ĐTĐ mới chỉ tập trung ở một vài trung tâm y tế lớn của
quốc gia; số cán bộ y tế có khả năng khám và điều trị bệnh ĐTĐ không chỉ
thiếu về mặt số lượng mà còn không được phổ cập những kiến thức mới về
bệnh ĐTĐ; trang thiết bị để chẩn đoán và theo dõi bệnh nhân thiếu và lạc hậu;
chất lượng điều trị chưa tốt; chi phí điều trị bệnh rất tốn kém do chi phí đi lại,
ăn ở của bệnh nhân và người nhà khi phải đến chữa bệnh tại các thành phố
lớn, do bệnh được phát hiện muộn nên kèm nhiều biến chứng. Công tác
phòng bệnh hầu như chưa được đề cập do quan điểm cũ cho rằng bệnh ĐTĐ
là không thể phòng được và do chưa đánh giá hết được tình hình bệnh tật.
Nhận thức của cộng đồng về bệnh ĐTĐ và khả năng phòng bệnh còn thấp.
Dựa trên những cơ sở về sinh lý bệnh học ĐTĐ, những thay đổi trong
tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh, các nghiên cứu về khả năng phòng bệnh ĐTĐ,
tình hình ĐTĐ trên thế giới và Việt Nam, việc triển khai tiến hành nghiên cứu
về tình hình mắc bệnh ĐTĐ ở Việt Nam là rất cần thiết. Các số liệu chính
15
xác về bệnh ĐTĐ nhằm giúp các nhà chính sách hoạch định về chiến lược y
tế, các nhà lập kế hoạch quản lý bệnh xây dựng những chính sách đúng đắn để
giải quyết tình hình bệnh tật, dự đoán bệnh và lập kế hoạch phù hợp. Các số
liệu của nghiên cứu cũng đưa ra các giải pháp hữu hiệu trong phòng bệnh,
điều trị và điều tra phát hiện bệnh. Ngoài ra, số liệu đầy đủ về tình hình bệnh
ĐTĐ và các yếu tố nguy cơ còn là những số liệu rất quan trọng để tham khảo
trong nghiên cứu khoa học.
16
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Địa điểm nghiên cứu
Chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu tại huyện Hải Hậu – tỉnh Nam Định.
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
Thời gian tiến hành nghiên cứu từ tháng 01 năm 2010 đến 03 năm 2010.

1,96
2
x0,03x0,97
= 1746
d
2
(0,008)
2
Trong đó: - n là cỡ mẫu.
- Z
1- /2
là giá trị tới hạn phụ thuộc vào độ tin cậy xác định.
- p là tỷ lệ bệnh ĐTĐ ước đoán.
- d là độ chính xác tuyệt đối.
Độ tin cậy 95%; tỷ lệ bệnh ĐTĐ ước đoán của quần thể (p) 3%; độ
chính xác tuyệt đối d= 0,008.
Cỡ mẫu tính được là 1746 người, chúng tôi làm tròn cỡ mẫu thành 1800
người, đối tượng nghiên cứu được phân bố trên 6 xã điều tra, mỗi xã 300 người.
2.2.2. Phương pháp chọn mẫu.
Chọn mẫu ngẫu nhiên nghiên cứu dịch tễ học ĐTĐ tại huyện Hải Hậu
Nam Đinh theo phương pháp PPS (Probabylity Proportionate to Size), các đối
tượng được phân bổ trong 30 cụm, mỗi cụm 60 đối tượng, gồm các bước cụ
thể như sau:
* Bước 1: Chọn xã (đơn vị hành chính dưới huyện) để điều tra. Áp
dụng phương pháp chọn mẫu cụm, xác suất tương ứng với kích thước quần
thể (PPS), tiến hành chọn 06 xã từ danh sách 32 xã của huyện Hải Hậu (chọn
18
=
bằng bảng số ngẫu nhiên). Việc chọn các xã điều tra được tiến hành tại Trung
tâm Y tế dự phòng huyện Hải Hậu.

nam, ta được: 52/10 = 5,3 làm tròn thành 5, vậy khoảng cách k = 5.
- Chọn đối tượng thứ nhất: Chọn ngẫu nhiên một số nằm trong khoảng
từ 1 đến 5 (chọn ngẫu nhiên một số bất kỳ trong dãy số của tờ tiền đáp ứng
yêu cầu trên). Ví dụ số chọn được là số 3 thì đối tượng mang số 3 trong danh
sách là người được chọn đầu tiên.
- Chọn các đối tượng tiếp theo: Đối tượng tiếp theo được xác định là
đối tượng có số thứ tự được chọn trước đó cộng với khoảng cách k. Ví dụ đối
tượng thứ 2 được chọn có số thứ tự là 3 + 5 = 8, đối tượng thứ 3 được chọn có
số thứ tự là 8 + 5 = 13, v.v , cứ làm như vậy ta chọn được 10 đối tượng nam
trong từng nhóm tuổi và 30 đối tuợng nam trong lứa tuổi 30 - 64 cho một thôn
được chọn để điều tra.
Tương tự cách chọn trên chọn ra 30 đối tượng nữ trong lứa tuổi 30 - 64
cho một thôn được chọn để điều tra.
Viết “Giấy mời” hẹn các đối tượng nghiên cứu đến Trạm Y tế xã để
tiến hành khám bệnh, phỏng vấn và làm xét nghiệm đường máu.
20
Thết kế nghiên cứu:

Sơ đồ 2.1. Các bước tiến hành nghiên cứu.
21
QUẦN THỂ NGHIÊN CỨU
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
PHỎNG VẤN
ĐÁNH GIÁ KAP
ĐTĐ CŨ
XÉT NGHIỆM
ĐƯỜNG MÁU
NGHIỆM PHÁP
TĂNG G MÁU
G MÁU BÌNH

bên, không cúi xuống hoặc ngửa ra sau. Chú ý không để tóc búi hoặc buộc tóc
quá chỏm đầu.
+ Hai xương bả vai chạm tường, hai tay để xuôi, mông chạm tường,
đầu gối thẳng, hai bàn chân khép kín vào nhau, hai gót chân đặt sát tường.
+ Trục của cơ thể theo phương thẳng đứng trùng với trục của thước dây.
- Đặt thước thăng bằng chính giữa chỏm đầu đối tượng, điều chỉnh cho
thước đúng ở vị trí nằm ngang, đọc chiều cao tại chỗ giao nhau giữa mép dưới
của thước thăng bằng và thước dây.
+ Chú ý: Số đo chiều cao lấy chính xác đến 1/10 cm.
• Cách cân trọng lượng
* Chuẩn bị dụng cụ:
- Cân sức khoẻ, sử dụng cân cơ học có kim.
- Tìm chỗ có đủ ánh sáng, nền nhà phẳng.
- Đặt cân sao cho không bị kênh, đầu mặt số quay về phía có ánh sáng.
- Điều chỉnh kim về đúng vị trí số 0.
* Cách cân
- Yêu cầu đối tượng cởi bỏ giầy dép, quần áo nặng và các vật có trọng
lượng trên người.
- Đứng nhẹ nhàng lên cân hai chân đặt theo hình chữ V, mũi bàn chân
hướng về phía mặt số, không che lấp mặt số, đối tượng đứng im bình thường trên
cân, không nhún. Khi kim đồng hồ ổn định không còn dao động thì đọc kết quả.
Khi đọc kết quả mắt phải nhìn vuông góc với mặt số, không được nhìn nghiêng.
Chú ý: - Cân nặng lấy chính xác đến 1/10 kg.
- Trước mỗi lần cân phải đảm bảo kim đang ở đúng vị trí số 0.
• Cách đo vòng bụng (eo), mông (hông).
- Dụng cụ: Thước dây nhựa có vạch chia đến mm.
23
- Vị trí đo: Trên mào chậu (điểm giữa của bờ dưới xương sườn và mào
chậu) hai bên đối với đo vòng bụng, ngang mấu chuyển lớn của xương đùi hai
bên đối với đo vòng mông.

mắc ống nghe vào tai.
+ Khoá van xả và bơm hơi đến khi không còn bắt được mạch quay,
không nghe thấy tiếng mạch đập, bơm thêm 20 mmHg thì ngừng bơm hơi.
+ Mở khoá van hơi từ từ sao cho cột thuỷ ngân chỉ áp lực hạ xuống
dần với tốc độ 2mm/giây, tiếp tục nghe khi nghe thấy tiếng mạch đầu tiên,
cột thuỷ ngân chỉ ở vị trí nào thì đó là huyết áp tối đa (lấy chính xác đến
2/10 mm), tiếp tục xả van hơi và nghe đến khi không còn nghe thấy mạch
đập, ranh giới giữa mạch đập thay đổi và không còn nghe thấy mạch nữa là
huyết áp tối thiểu.
* Đếm mạch và đo huyết áp lại lần 2
Như vậy việc lấy mạch và huyết áp cũng tuân theo quy luật sau:
Đếm mạch quay lần 1 → Đo HA lần 1 → Đếm mạch quay lần 2 → Đo
HA lần 2
Mạch và huyết áp thu được là trung bình cộng giữa 2 lần đo.
2.2.3.3. Các chỉ số sinh học
Xét nghiệm glucose máu lúc đói (máy SureStep, máu mao mạch), sau
đó tiến hành làm nghiệm pháp dung nạp đường máu và xét nghiệm lại ở thời
điểm sau 120 phút (trường hợp đường máu lúc đói = 15 mmol/L thì không
cần làm nghiệm pháp tăng đường máu).
Kỹ thuật định lượng đường huyết bằng máy SureStep
+ Bước 1: Chuẩn bị máy SureStep, que thử SureStep, kim và bút thử -
Sát trùng vùng da đầu ngón tay chuẩn bị lấy máu.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status