BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
NGUYỄN KHẮC HẢI
MSSV: 45DN037
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PROTEIN VÀ TỶ LỆ THAY THẾ BỘT CÁ
BẰNG BỘT ĐẬU NÀNH KHÁC NHAU TRONG THỨC ĂN LÊN SINH TRƯỞNG
VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ CHẼM (Lates calcarifer Bloch, 1790)
GIAI ĐOẠN GIỐNG
Luận văn tốt nghiệp
Chuyên ngành Nuôi trồng thủy sản, 2003-2007
Qua đây, tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới anh Phan Ngọc Anh (chủ trang trại,
nơi tôi thực tập), cùng tất cả các bạn sinh viên khác thực tập cùng cơ sở đã nhiệt tình hợp
tác và hỗ trợ tôi trong suốt thời gian thực hiện thí nghiệm.
Một lần nữa, tôi xin gửi lại đây lòng biết ơn sâu sắc và lời cảm ơn chân thành nhất
tới gia đình, quý Thầy Cô giáo và các bạn.
TÓM TẮT
Nghề nuôi cá chẽm (Lates calcarifer) ở Việt Nam tuy chưa phát triển rộng khắp
trong cả nước, xong nó hứa hẹn mang lại một tiềm năng lớn trong tương lai gần. ở nước ta
những nghiên cứu khoa học về qui trình sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá chẽm còn
ít. Trong đó đặc biệt là những nghiên cứu trong lĩnh vực dinh dưỡng và thức ăn còn hạn
chế. Đây là lý do định hướng cho tôi thực hiện đề tài tốt nghiệp chuyên ngành nuôi trồng
thủy sản với hai nôi dung nghiên cứu:
1. nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein khác nhau trong thức ăn lên
sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chẽm (Lates calcarifer) ở giai đoạn 3,5 đến 6 cm.
2. nghiên cứu ảnh hưởng tỷ lệ thay thế bột cá bằng bột đậu nành trong thức ăn
lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chẽm (Lates calcarifer) ở giai đoạn 2,5 đến 4 cm.
Thí nghiệm được thực hiện với 3 loại thức ăn có mức protein khác nhau 36%, 39%
2.1.2 Đặc điểm hình thái 4
2.1.3 Đặc điểm phân bố 5
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng 6
2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng 6
2.1.6 Đặc điểm sinh sản 7
2.1.7 Vòng đời của cá chẽm 9
2.2 Tình hình nuôi cá biển trên thế giới 9
2.2.1 Vài nét về nghề nuôi cá biển trên thế giới 9
2.2.2 Tình hình nghiên cứu và nuôi cá chẽm trên thế giới 11
2.3 Tình hình nuôi cá biển ở việt nam 13
2.3.1 Vài nét về tình hình nuôi cá biển ở Việt Nam 15
2.3.2 Tình hình nghiên cứu và nuôi cá chẽm ở Việt Nam 18
2.4 Tình hình nghiên cứu về dinh dưỡng của cá chẽm 18
2.4.1 Khái quát chung về nhu cầu dinh dưỡng cá 19
2.4.2 Những nghiên cứu về dinh dưỡng của cá chẽm 21
2.5 Công nghiệp sản xuất thức ăn thủy sản 21
2.5.1 Bột cá và bột đậu nành trong thức ăn thủy sản 27
2.5.2 Một vài tồn tại trong ngành công nghiệp sản xuất thức ăn
và phương hướng khắc phục 31
Phần 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
3.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 31
3.2 Phương pháp nghiên cứu 32
3.1.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 32
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 32
3.2.3 Phương pháp và dụng cụ xác định các thông số kỹ thuật 32
3.2.4 Phương pháp bố trí thí nghiệm 34
3.2.5 Phương pháp xử lý số liệu 34
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
4.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein lên sinh trưởng
Và tỷ lệ sống của cá chẽm ở giai đoạn 3,5 đến 6 cm 37
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1: vài tên địa phương của loài cá Lates calcarifer Bloch, 1790 4
Bảng 2: một số loài cá biển xuất khẩu chính của Việt Nam 15
Bảng 3: Nhu cầu protein ở một số giai đoạn nuôi cá chẽm (Lates calcarifer) 20
Bảng 4: công thức thức ăn cho cá chẽm ở Malaysia 21
Bảng 5: công thức thức ăn cho cá chẽm ở Indonesia 21
Bảng 6: tỷ lệ thành phần của các acid amin thiết yếu trong các
nguyên liệu khác nhau 23
Bảng 7: tỷ lệ bột cá sử dụng trong ngành nông nghiệp 28
Bảng 8: các yếu tố môi trường trong ao ương cá 38
Bảng 9: công thức thức ăn dùng trong (thí nghiệm 1) 39
Bảng 10: ảnh hưởng các hàm lượng protein khác nhau lên sinh
trưởng của cá chẽm 3,5-6 cm 40
Bảng 11: ảnh hưởng của hàm lượng protein khác nhau lên
tỷ lệ sống cá chẽm 3,5-6 cm 44
Bảng 12: các yếu tố môi trường trong ao ương cá (thí nghiệm 2) 48
Bảng 13: công thức thức ăn với tỷ lệ bột cá và bột đậu nành
trong thí nghiệm 49
Bảng 14: ảnh hưởng các tỷ lệ bột cá và bột đậu nành khác nhau
lên sinh trưởng của cá chẽm giai đoạn 2,5 – 4 cm 49
Bảng 15: ảnh hưởng của tỷ lệ thay thế bột cá bằng bột đậu nành
lên tỷ lệ sống của cá chẽm giai đoạn 2,5-4 cm 52
Hình 9: ảnh hưởng của tỷ lệ bột cá và bột đậu nành khác
nhau lên tỷ lệ sống cá chẽm giai 2,5 – 4 cm 50
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
Cùng với những điều kiện tự nhiên thuận lợi sẵn có và việc áp dụng những thành tựu
của tiến bộ khoa học công nghệ, ngành thủy sản Việt Nam đã có những thành tựu rực rỡ
trong những năm gần đây. Xuất khẩu thủy sản tăng cả về sản lượng lẫn giá trị kinh tế; đời
sống của hầu hết người dân tham gia trong hoạt động thủy sản được nâng lên đáng kể; sản
phẩm trong ngành thủy sản không những đáp ứng được nhu cầu thực phẩm hàng ngày mà
còn đem lại thêm thu nhập kinh tế cho người dân.
Nhìn lại chặng đường hơn 45 năm qua kể từ ngày thành lập, thủy sản từ một lĩnh vực
sản xuất nhỏ bé, nghèo và lạc hậu, nay đã trở thành một trong nhữ
ng ngành kinh tế xứng
Đề tài nghiên cứu bao gồm những nội dung sau:
Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein khác nhau trong thức ăn lên
sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chẽm giai đoạn 3,5-6 cm
Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ thay thế bột cá bằng bột đậu nành trong thức
ăn khác nhau lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chẽm giai đoạn 2,5-4 cm
Trong thời gian thực hiện đề tài do thời gian không dài, các trang thiết bị nghiên
cứu còn thiếu và những hạn chế về chuyên môn của bản thân, cho nên trong nghiên cứu
này không thể tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong được sự đóng góp ý kiến và sửa sai
của quý Thầy cô giáo và các bạn
Xin chân thành cảm ơn! Nha Trang, ngày 18 tháng 11 năm 2007
Sinh viên thực hiện Nguyễn Khắc Hải PHẦN 2: TỔNG QUAN
2.1 Đặc điểm sinh học cá chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1790)
2.1.1 Vị trí phân loại
Cá Chẽm ( Lates calcarifer) được Bloch mô tả lần đầu tiên vào năm 1790 và đặt tên
Bộ: Perciformes
Bộ phụ: Percoidae
Họ: Centropomidae
Giống: Lates
Loài: Lates calcarifer Bloch, 1790
Các quốc gia khác nhau, thậm trí trong cùng một quốc gia nhưng giữa các vùng
khác nhau thì tên gọi của loài Lates calcarifer cũng không giống nhau, dưới đây là một vài
tên gọi của loài cá này ở các quốc gia khác nhau.
Bảng 1: Vài tên địa phương của loài cá Lates calcarifer Bloch, 1790
Quốc gia Tên gọi
Anh Giant perch, white seabass, slver perch
Ân Độ Giant perch, palmer, cck-up seabass
Đông Bengal Begti, bekti, dangara, voliji fitadar, todah
Silanka Modhak, keduwa
Malaysia Saikap, kakap
Thailand Pla kapong kao, Pla kapong
Bắc Borneo Ikan, salung-sung
Việt Nam Cá chẽm, cá vược
Capuchia Tvey spong
Indonesia Kakap, pelak, petcham, telap
Australia Barramundi
Papua New Giunea Barramundi
2.1.2 Đặc điểm hình thái
Cá chẽm có thân dài và dẹp bên, cuống đuôi khuyết sâu. Đầu nhọn nhìn từ phía bên
thấy phía trên hơi lõm xuống ở giữa và hơi lồi ở mặt lưng. Miệng rộng và hơi so le, hàm
trên kéo dài đến phía dưới sau hốc mắt. Răng dạng nhung không có răng nanh, trên nắp
mang có gai cứng, vây lưng có hai vây: vây trước có 7-9 gai cứng và vây sau có 10-11 tia
vây mềm. Vây hậu môn có 3 gai cứng, vây đuôi tròn có dạng hình quạt. Vẩy dạng lược có
kích cỡ vừa phải, có 61 vẩy đường bên [ 26].
vùng nước mặn thành thục và sinh sản [2].
+ Nhiệt độ
: nhìn chung cá chẽm tăng trưởng chậm khi nhiệt độ nước xuống dưới
25
oC
, giảm khả năng bắt mồi ở dưới 20
oC
và tỷ lệ sống thấp ở dưới 15
oC
(tỷ lệ sống khoảng
40%). Trong nghề nuôi cá chẽm thương phẩm người ta thường mong muốn và duy trì nhiệt
độ nước trong khoảng 26-30
oC
, cần phải đảm bảo nhiệt độ nước trong ao nuôi ít nhất phải
trên 20
oC
[14].
+ Độ mặn: Cá chẽm có khả năng chịu đựng được khoảng dao động của độ mặn khá
rộng từ 0 – 36 ppt. Thậm trí cá chẽm nhỏ (TL = 10 mm) có thể di cư từ vùng nước mặn tới
vùng nước ngọt trong khoảng 6 giờ mà không bị chết (Rasmussen, 1911) [14].
+ Oxy hoà tan: khi hàm lượng oxy hoà tan trong nước giảm xuống còn 2 ppm sẽ làm
cho cã bị chết chỉ trong một vài phút. Trừ phi hàm lượng oxy tăng trở lại nhanh chóng
ngay sau đó [14].
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng
Sinh trưởng của cá chẽm có dạng đường cong sigma. Trong đó cá tăng trưởng chậm
ở giai đoạn đầu nhưng tăng trưởng nhanh khi cá đạt kích cỡ 20 – 30 gam và giảm dần khi
cá đạt trọng lượng khoảng 4 kg (Kungvankij, 1986). Môi trường sống khác nhau cũng ảnh
hưởng tới tốc độ sinh trưởng của cá. Cá sống trong môi trường nước ngọt có tốc độ tăng
trưởng nhanh hơn trong môi trường nước mặn (Wantanabe et al. 1984). Cá chẽm có chiều
dài và trọng lượng tối đa là 2m (TL) và 50 kg (W) (Bahanal & Soseanto, 1982).
Lương Công Trung (1999), ông nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá chẽm từ cá bố mẹ
được bắt ngoài tự nhiên và thấy rằng. Cá chẽm bắt mồi mạnh vào lúc trời tối từ 17h trở đi.
Cá bắt mồi ngay khi cho ăn thức ăn xuống và ăn rất nhanh (80 – 100%). Cá mới được
thuần dưỡng chưa quen với môi trường mới chúng thường tránh xa khi có tiếng động hoặc
bóng người [8].
Cá chẽm sẽ ăn thịt đồng loại đối với những con cá có chiều dài lên đến xấp xỉ 67%
chiều dài (TL) của con cá lớn. Tính ăn thịt đồng loại chủ yếu ở những con cá có chiều dài
nhỏ hơn 15 cm. Những con cá có chiều dài nhỏ hơn 16 mm TL rất khó khăn trong viêc tập
cho chúng ăn thức ăn chế biến [14].
2.1.6 Đặc điểm sinh sản
+ Mùa vụ: Cá chẽm đẻ quanh năm (Kungvankij, 1984), thời điểm chính vụ từ tháng
4 đến tháng 8. Cá con cỡ 1 cm có thể thu được nhiều từ tháng 5 đến tháng 8
(Bhatia & Kungvankij, 1971). Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến mùa vụ sinh sản của
cá chẽm trong đó có sự tác động của thời tiết, khí hậu là rất lớn [8].
+ Phân biệt giới tính: Thông thường rất khó phân biệt giới tính của loài cá này nếu
chỉ dựa vào hình dạng bên ngoài, ngoại trừ vào mùa sinh sản. Trong mùa sinh sản để phân
biệt giới tính của cá có thể dựa vào một số đặc điểm sau:
Cá đực có mõm hơi cong, trong khi đó con cái thì mõm thẳng. Cá đực có thân thon
dài hơn cá cái (cùng tuổi), còn cá cái kích cỡ lớn hơn so với cá đực. Đến vụ sinh sản,
những vẩy gần lỗ huyệt của cá đực sẽ dày lên, còn những con cá cái bụng to hơn cá đực.
+ Chuyển đổi giới tính: Đặc điểm nổi bật trong sinh sản của cá chẽm là có sự thay
đổi giới tính từ cá đực thành cá cái sau khi tham gia sinh sản một vài lần. Đặc tính này
không hoàn toàn là tuyệt đối, có những con cá đực không chuyển thành cá cái trong suốt
cuộc đời (Moore, 1979). Hiện nay vẫn chưa có những giải thích rõ ràng về hiện tượng
này. Những con cá cái được chuyển đổi giới tính từ cá đực đựơc gọi là con cái thứ cấp, còn
cá cái phát triển trực tiếp từ trứng đựơc gọi là cá cái sơ cấp.
+ Sức sinh sản: Sức sinh sản của cá chẽm có liên quan tới kích thước và trọng lượng
cơ thể cá. Buồng trứng thu được từ 18 cá cái có trọng lượng từ 5,5 kg đến 11 kg cho
khoảng 2,1 – 7,1 triệu trứng (Wongsomnuk & Maneewongsa, 1976). Các quan sát của Vụ
nông nghiệp Australia (Annon, 1975) cho thấy cá 12 kg cho 7,5 triệu trứng, cá 19,5 kg cho
Moore (1978, 1980, 1982); Moore & Reynolds (1982); Russell & Grrett (1983, 1985);
Griffin (1985, 1986); Davis (1982, 1985) đều có nhận định vòng đời của cá chẽm ở phía
bắc Australia giống với vòng đời của cá chẽm ở thailand và đưa ra sơ đồ vòng đời của cá
chẽm.
]Smith (1965) ghi rằng, một số con cá có vòng đời trong nước ngọt nơi chúng lớn lên
cỡ 65 cm và trọng lượng đạt 19,5 kg. Tuyến sinh dục của những con cá đó thì không phát
triển. Trong môi trường nước lợ, cá chẽm đạt 1,7 m TL được tìm thấy ở vùng Indonesia.
Hiện nay điều chưa biết là cá trưởng thành có di cư ngược dòng không hay chúng giữ giai
đoạn còn lại của chúng với đời sống ở biển.
2.2 Tình hình nuôi cá biển trên thế giới
2.2.1 Vài nét về nghề nuôi cá biển trên thế giới
Hình 3: Sơ đồ vòng đời cá chẽm
Bãi cá trưởng thành
(0-34 ppt)
Bãi sinh trưởng c
ủa cá son
(25-30ppt)
Bãi đẻ (30-32 ppt)
Nuôi cá nước lợ hay nước mặn là một trong những nghề có từ lâu đời. Điển hình như
cá măng (Chanos chanos) đã được nuôi ở những ao vùng ven biển ở Indonesia hơn 700
năm và loài cá này cũng đựơc nuôi cách đây hơn 400 năm ở vùng Phillipines, Taiwan. Cá
măng là một loài cá biển nuôi cho sản lượng đáng kể, phần lớn sản lượng của loài cá này
trên thế giới được nuôi trong ao nước lợ với mật độ thấp và không bổ sung thức ăn nhân
tạo. hiện nay mô hình này đã thay đổi, cá nuôi được cho ăn hàng ngày, nhưng hầu hết cá
lên 723 tấn [7]. Thailand nghề nuôi thuỷ sản ven biển thường kết hợp với các ao sản xuất
muối, người ta đã học được cách nuôi cá trong mùa mưa, khi mà không thể sản xuất muối
họ đã chuyển sang nuôi thuỷ sản và bắt đầu áp dụng kỹ thuật hiện đại hơn [26].
Australia là quốc gia đạt được thành công lớn trong nghề nuôi cá biển ở 2 thập kỷ
qua. đối tượng nuôi chính là cá hồi đại tây dương (Atlantic Salmon) và cá ngừ vây xanh
(Southern blifintuna) với sản lượng hàng năm đạt 1.200 tấn doanh thu xấp xỉ 10 triệu
USD/ năm. Theo dự kiến đến năm 2010 Australia có thể thu được từ nghề nuôi cá công
nghiệp là 2,5 tỷ USD/ năm, trong đó cá hồi chiếm 1 tỷ USD và cá ngừ chiếm 300 triệu
USD (Hussey, 1999) [11].
Theo thống kê của FAO từ năm 1988 đến năm 1997 sản lượng cá biển trên toàn thế
giới tăng khoảng 10% hàng năm. Năm 1997 sản lượng cá biển trên toàn thế giới đạt 2 triệu
tấn, trị giá 8 tỷ USD, trong đó sản lượng cá hồi đại tây dương đạt 640.000 tấn, chiếm ưu
thế nhất (Hambrey, 2000). Vào năm 1997 Tổ chức nông-lương Liên Hợp Quốc (FAO)
cũng đưa ra số liệu thống kê và nhận định rằng: Châu á là vùng có nghề nuôi trồng thuỷ
sản phát triển mạnh nhất chiếm 82% theo giá trị thuỷ sản toàn thế giới và 91% theo sản
lượng. Tổng sản lượng thuỷ sản của các loài nuôi quan trọng là 27.788.384 tấn trong đó
giáp xác là 1.126.634 tấn (chiếm 4%), nhuyễn thể 5.087.068 tấn (chiếm 18%), rong biển
832.879 tấn (chiếm 25%), cá 14.669.173 tấ
n (chiếm 53%) và các loại khác 72.632 tấn. Về
giá trị nhóm cá chiếm 53% và giáp xác chiếm 17%. Điều này cho thấy hải sản đóng vai trò
quan trọng nhất trong toàn ngành nuôi trồng thuỷ sản [26].
2.2.2 Tình hình nghiên cứu và nuôi cá chẽm trên thế giới
a) Những nghiên cứu khoa học về loài cá chẽm (Lates calcarifer)
Thailand là quốc gia đầu tiên trên thế giới nghiên cứu cho sinh sản nhân tạo cá chẽm
(Lates calcarifer) tại hồ Songkla vào năm 1971 (theo Ruangpapil, 1986) và đến năm 1973
họ đã thành công cho cá chẽm sinh sản nhân tạ
o thành công bằng phương pháp chủ động
môi trường sinh thái với nguồn cá được đánh bắt ngoài tự nhiên (Kungvankij, 1981). Đến
năm 1975 thailand tiếp tục cho đẻ cá chẽm thành công với nguồn cá bố mẹ được nuôi trong
lồng. Năm 1977, các nhà nghiên cứu lại tiếp tục thu được những thành công trong sinh sản
tỷ lệ sống cao khi nuôi thương phẩm. Theo Chen. L.C (1989), ngư dân Trạm Giang nuôi
đơn cá chẽm trong ao đất với mật độ 2-5 con/ m
2
. Sau 6 tháng nuôi có thể đạt năng suất 6-
12 tấn/ ha. Nuôi ghép bán thâm canh cá chẽm 0,2 con/ m
2
với cá rô phi 0,4 con/ m
2
có bổ
sung thêm thức ăn là cá tạp thì kết qủa cho thấy cứ 2,5 - 4 kg cá tạp cho 1 kg cá chẽm và
hiệu quả này rất cao.
Chủ yếu nghề nuôi cá chẽm ban đầu được nuôi trong các lồng lưới, các loại lồng lưới
này có dạng hình vuông, hình chữ nhật hoặc hình tròn. Thể tích của lồng dao động từ
8 m
3
(2 m x 2 m x 2 m) đến 150 m
3
. Mật độ nuôi đối với hình thức nuôi lồng nhìn chung
khoảng 15 - 40 kg/ m
3
, thậm trí mật độ có thể lên đến 60 kg/ m
3
xong việc tăng mật độ
càng cao thì yêu cầu quản lý tốt về chất lượng nước, sức khoẻ, lắp đặt máy sục khí và thay
nước càng nhiều hơn [14].
ở Australia, một số lượng trại nuôi cã chẽm đã xây dựng hệ thống nuôi nước ngọt
tuần hoàn, với việc lắp đặt hệ thống lọc sinh học và lý học. Những ưu điểm của hệ thống
này là nó có thể đặt ngay gần thị trường tiêu thụ, do đó giá thành vân chuyển giảm. Mật độ
nuôi trong các trang trại như thế này khoảng 15 kg/ m
3
Năm 1994, Viện hải dương học Nha Trang đã thành công trong việc cho sinh sản
nhân tạo và ương nuôi hai loài cá ngựa (Hippocampus kuda và H. trimaculata) sau 8 tháng
nuôi đạt khối lượng (W) 2,2 – 1,5 g/con. Tương ứng chiều dài thân (TL) 132 – 156 mm
(Nguyễn Trọng Nho, 2003) [4].
Năm 1994 – 1995, Viện nghiên cứu hải sản Hải Phòng đã thành công trong sản xuất
giống cá núc tại vịnh Hạ Long, kết quả sau 3 tháng nuôi đạt khối lượng 50 g/ con, chiều
dài (L) tương ứng là 13 cm.
Năm 2001, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I đã thành công trong sinh sản nhân
tạo loài cá giò (Rachysentron canadium) song tỷ lệ ương nuôi thành cá hương và cá giống
còn rất thấp (1 – 4 %). Viện cũng đã nhập 20.000 giống cá mú và ương nuôi thương phẩm
[13].
Theo Nguyễn Trọng Nho và CTV (2001) [18], từ năm 1995 đến năm 1998 số lượng
lồng nuôi trên biển tăng 10 lần, năm 1998 có trên 10.000 lồng nuôi, trong đó 6.000 lồng ở
vịnh Nha Trang (Khánh Hòa) và vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) chiếm diện tích 150 ha. Hầu
hết lồng nuôi do tư nhân quản lý (chiếm 99%), hơn 70% sản lượng được xuất khẩu ra thị
trường quốc tế như: Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản … và 30% tiêu thụ trong nước. Chi
phí cho nuôi biển năm 2001 là 106.192 triệu đồng lớn hơn năm 2000 là 4.303 triệu đồng.
Tỷ suất lợi nhuận của nuôi biển trong năm 2001 đạt 122,4% (Bộ thủy sản, 2001).
Vào những năm 80, thủy sản Việt Nam xuất khẩu chủ yếu qua hai thị trường trung
gian là Hongkong và Singapore, đến nay chúng ta đã xuất khẩu trực tiếp được vào các thị
trường của các nước ở khắp các châu lục, đặc biệt là các thị trường quan trọng như: Nhật
Bản, Hoa Kỳ, Trung Quốc và các nước EU [24]. Giá trị xuất khẩu các mặt hàng đông lạnh
của Việt Nam chiếm khoảng 15 – 20% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản hàng năm.
Trong đó giá trị xuất khẩu các mặt hàng cá biển chiếm khoảng 40 – 50% tổng giá trị các
mặt hàng cá đông lạnh [25].
Bảng 2: Một số loài cá biển xuất khẩu chính của Việt Nam
Tên tiếng Việt Tên tiếng Anh Tên la tinh
1. Cá nổi lớn 1. Big pelagic
Cá ngừ Tuna
Lujanus
4. Cá đáy 4. Demersal fishes
Cá bơn Flounder tongue sole
Pseudorhombus cynoglos
Cá hố Largehead hairtall
Trichiurus lepturus
Cá chim Pomfret
Stromateoides
Cá lượng Threadfin bream
Nemipterus
Cá sạo Grunt
Pomadasys
Cá trác Mootail bigeye
Plectorynchus hamrur
Cá đù bạc Silver croaker
Pennahia argentata
Cá đục bạc Silver sillago
Silago sihama
Cá bánh đường Long spine seabream
Evynnis cardinalis
Cá lượng (cá đổng cờ) Threadfin bream
Nemipterus
Cá đầu vuông (cá đổng quéo) Japanese horsehead fish
Brachiostegus japonicus
Cá phèn Goleban (yellow) goitfish,
Upeneus moluccensis
Cá đối mục Bully mullet
Mugil cephlus
2.3.2 Tình hình nghiên cứu và nuôi cá chẽm ở Vệt Nam
với ương nuôi trong môi trường nước lợ hay nước mặn [9].
Năm 1998, tại huyện Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh, đã sản xuất nhân tạo bằng
phương pháp sử dụng kích dục tố kích thích sinh sản. Tuy nhiên qui trình chưa ổn định,
hiện tượng chết hàng loạt ở giai đoạn sớm còn cao.
Sau hơn 10 năm (1996 – 2007) nghiên cứu và thử nghiệm đề tài “Qui trình kỹ thuật
sản xuất giống nhân tạo cá chẽm (Lates calcarifer)” nhóm nghiên cứu trường Đại học
Thủy sản Nha Trang chính thức công bố tìm ra được qui trình kỹ thuật sản xuất giống cá
chẽm nhân tạo. Tiến sĩ Nguyễn Hữu Dũng trưởng nhóm nghiên cứu cho biết, nhóm đã
hoàn thiện được qui trình kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ (cá chẽm tại các tỉnh phía nam) trong
hệ thống lồng nuôi trên biển và bể xi măng nước chảy tuần hoàn với hệ thống lọc sinh học.
Tỷ lệ cá bố mẹ có thể tham gia sinh sản đạt 100%. Qui trình kỹ thuật ấp nở trứng cá, ương
nuôi cá bột thành cá giống qui mô sản xuất thương mại với tỷ lệ sống đạt 38% [30]
Từ năm 2004 đến nay, nhóm cũng sản xuất được hơn 2 triệu cá giống có chiều dài
2 – 3 cm (TL), trong đó cung cấp miễn phí 300.000 con cho trại thực nghiệm Nuôi trồng
thủy sản (Trường Trung học thủy sản IV tại Quảng Ninh), Trung tâm khuyến ngư các tỉnh
Thái Bình, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh thuận . Số
giống còn lại cung cấp cho người nuôi trồng thủy sản ven biển từ Quảng Ninh đến Kiên
Giang [30].
b) Tình hình nuôi cá chẽm ở Việt Nam
Những năm gần đây khi con tôm sú (Penaeus monodon) đang dần mấ
t vị thế do dịch
bệnh, ô nhiễm môi trường thì đề tài nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá chẽm (Lates
calcarifer) do các nhà nghiên cứu của trường Đại học thủy sản Nha Trang thực hiện đã đưa
được con cá chẽm từ ngoài khơi vào trong đất liền. Với khả năng kháng bệnh cao, sinh
trưởng nhanh, tiêu thụ tốt… con cá chẽm đang dần “lên ngôi”, nhiều hộ gia đình ở thị xã
Cam Ranh (Khánh Hoà) đang thay dần những diện tích nuôi tôm sú
để chuyển dần sang
nghề nuôi cá chẽm thương phẩm. Nếu năm 2004, Cam Ranh mới bắt đầu nuôi thử nghiệm
thì nay thị xã đã có gần 70 hecta diện tích với trên 100 hộ. Theo kinh nghiệm của người
dân thì quá trình nuôi cá chẽm rất đơn giản, ít chăm sóc. Người nuôi chỉ cần có đìa để lọc
những động vật trên cạn.