PHẦN MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Lúa được coi là một trong ba cây lương thực chủ yếu trên thế giới: Lúa
mỳ, lúa và ngô. Trong đó có khoảng 40% dân số coi lúa gạo là nguồn lương
thực chính, 25% dân số sử dụng lúa gạo trên 1/2 khẩu phần lương thực hàng
ngày. Như vậy, lúa gạo có ảnh hưởng tới đời sống ít nhất 65% dân số trên thế
giới (Giáo trình cây lương thực).
Cây lúa bị rất nhiều loài sinh vật gây hại như: sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục
thân, rầy nâu, chuột…, trong đó rầy nâu là một trong những đối tượng gây hại
nguy hiểm nhất vì ngoài việc chích hút gây hại trực tiếp, rầy nâu còn là môi
giới truyền bệnh virus cho lúa như bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá.
Theo Reissig Henrichs (1993), sự gia tăng về số lượng và thành phần nhóm
rầy hại thân do nguyên nhân, mở rộng diện tích trồng lúa, tạo điều kiện cho rầy
pháp tán và lây lan trên diện rộng. Tăng số vụ lúa trong năm tạo điều kiện cho rầy
phát triển thành dịch, cơ cấu giống thường xuyên được thay đổi, thay thế các
giống chống chịu tốt năng xuất thấp thay bằng các giống cho năng xuất cao nhưng
ngược lại tính chống chịu sâu, bệnh lại kém. Trồng nhiều giống mới thay giống
liên tục làm phát sinh nhiều loài rầy mới gây hại mạnh hơn. Ngoài ra, rầy lưng
trắng và rầy xám cũng thường xuyên xuất hiện trên các giống lúa đặc biệt trên các
giống nhiễm cùng với rầy nâu và được coi là những dịch hại quan trọng đối với
trồng lúa nhiệt đới và cận nhiệt đới Châu Á.
Ở Việt Nam, vào năm 1958 rầy nâu phát sinh thành dịch phá hại lúa
chiêm xuân giai đoạn trỗ - chín ở các tỉnh phía Bắc. Ở nhiều tỉnh thuộc đồng
bằng sông Cửu Long, đồng bằng ven biển khu 5 và Thừa Thiên Huế. Năm
1974 diện tích lúa bị rầy nâu hại ở các tỉnh phía Nam lên tới 97.860 ha, đặc
biệt từ tháng 11/1977, trong suốt 3 tháng 11-1, rầy nâu gây thành dịch trên
diện tích rộng 200.000 ha. Theo Cục Bảo vệ thực vật (BVTV), trong những
năm 1999 - 2003, diện tích lúa bị hại do rầy nâu và rầy lưng trắng gây ra
1
trong cả nước là 408.908,4 ha trong đó miền Bắc là 213.208,8 ha, miền Nam
là 195.699 ha. Năm 2006 tại các tỉnh thành phía Nam, tổng diện tích nhiễm
ngưỡng kinh tế.
* Ý nghĩa khoa học của đề tài
Số liệu điều tra diễn biến mật độ của nhóm rầy hại thân lúa, giúp chúng
ta tìm hiểu thêm được các mối liên quan giữa các loài rầy hại thân lúa với
thiên địch, nhằm xây dựng được quy trình phòng trừ tổng hợp nhóm rầy hại
thân lúa.
4. Phạm vi nghiên cứu.
* Phạm vi về không gian: Tại Hải Hậu - Nam Định và Trung tâm đấu
tranh sinh học - Viện bảo vệ thực vật
* Phạm vi về thời gian: Từ 22/2/2011 đến 22/5/2011.
.
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu
Rầy nâu (Nilaparvata lugens Stål) đã được ghi nhận tại hầu hết các
nước có trồng lúa như Ấn Độ, Sri Lanka, Cam Phu Chia, Thái Lan, Trung
Quốc, Đài Loan, Malaysia, Indonesia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Philippin, các
quốc đảo vùng Thái Bình Dương và Việt Nam. Trước năm 1960 rầy nâu chỉ
là đối tượng dịch hại thứ yếu, trong thập niên 60 và 70 của thế kỷ 20 khi cuộc
“cách mạng xanh” diễn ra thì rầy nâu đã trở thành đối tượng sâu hại quan
trọng bậc nhất ở hầu hết các nước trồng lúa trên thế giới.
Ở Việt Nam, rầy nâu đã được ghi nhận như một loài sâu hại lúa quan
trọng từ những năm 1931-1932 (Chiu, 1979). Nhưng cũng chỉ trong khoảng
30 năm trở lại đây chúng mới trở thành đối tượng dịch hại chủ yếu và thường
xuyên ở nhiều vùng. Theo tài liệu đã ghi nhận được ở phía Bắc thì năm 1969,
rầy nâu đã phá hại mạnh ở Thái bình và một số tỉnh Trung bộ. Những năm
sau đó (1971-1974) rầy nâu đã phát triển ở nhiều vùng thuộc duyên hải Trung
bộ và đồng bằng Bắc bộ. Diện tích bị rầy nâu gây hại năm 1974 lên tới 97.860
ha. Trong những năm 1976-1978, các đợt dịch rầy nâu đã liên tiếp xẩy ra ở
các tỉnh Bắc bộ và ven biển miền Trung. Trong hai năm 1977-1978 rầy nâu
rầy Delphacidae, bộ nhỏ Fulgoromorpha, bộ phụ Auchenorrhyncha, bộ cánh
đều Homoptera.
Nilaparvata lugens được đặt tên đầu tiên vào năm 1854 là Delphax
lugens Stål. Sau đó được đổi tên thành Nilaparvata lugens bởi Muir và
Giffard vào năm 1924. Tại Sri Lanka, Nilaparvata lugens được biết đầu tiên
với tên Nilaparvata greeni Distant (Fernando và ctv., 1979). Tại Đài Loan, rầy
nâu được biết đến với cái tên đầu tiên là Liburnia oryzae (Fukuda, 1934) , sau
5
đó là Nilaparvata oryzae Matsumra (Anonymous, 1944; Wang, 1957) và trở
thành Nilaparvata lugens Stål vào các năm sau đó (Lin, 1970; Tao 1966;
Chiu, 1979).
Phân bố của rầy nâu rộng khắp các nước trồng lúa ở Châu Á, Australia và một
số đảo ở Thái Bình Dương. Trên thế giới phạm vi phân bố của rầy nâu rất
rộng. Theo Mochida (1970), rầy nâu phân bố ở hầu hết các nước trồng lúa
nước ở Châu Á như Ấn Độ, Thái Lan, Campuchia, Lào, Bangladesh,
Indonesia, Srilanca, Philippines, Malaysia, Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản,
Hàn Quốc, Việt Nam… Lúa nước là ký chủ chính của rầy nâu do đó thời gian
không trồng lúa hoặc để ruộng nghỉ không có lúa chét có thể làm giảm số
lượng rầy cho vụ tiếp theo. Cây dại thuộc họ hoà thảo và lúa chét là ký chủ
phụ thích hợp cho rầy sinh sống và đẻ trứng. Thí nghiệm của Viện Nghiên
Cứu Lúa Quốc Tế (IRRI, 1979) cho biết: cỏ dại ở ruộng lúa có thể góp phần
làm tăng số lượng rầy khi lúa gần chín, là do đã tạo được môi trường có thảm
cây rậm rạp. Tuy nhiên, có một số tác giả khác cho rằng, các ký chủ khác
ngoài cây lúa chỉ là nơi trú ngụ tạm thời của rầy nâu (Hinekly, 1963).
1.2.2. Đặc điểm sinh thái của rầy nâu Nilaparvata lugens Stal
1.2.2.1. Những nghiên cứu về về rầy nâu Nilaparvata lugens Stal ở nước
ngoài.
Rầy non và rầy trưởng thành cánh ngắn di chuyển theo cách bò và
nhảy. Rầy trưởng thành cánh dài thì có thể bò nhảy và bay. Rầy bay sau khi
vũ hóa 2-5 ngày với rầy cái và 2-4 ngày với rầy đực (Padgham, 1983). Rầy
o
C
(Kuwahara và ctv, 1956) và 10,8
o
C (Suenga, 1963).
Sự phát dục của trứng ngừng khi nhiệt độ xuống thấp khoảng
10-10,8ºC. Quá trình hình thành trứng ngừng lại khi nhiệt độ xuống thấp dưới
17ºC hoặc 18ºC (Mochida và Okada, 1979). Nhiệt độ thấp hơn 20
o
C hoặc cao
hơn 30
o
C đều làm cho tỷ lệ nở của trứng giảm (Visarto, 2005).
7
Theo Otake (1978), thời gian trứng của rầy nâu khoảng từ 7-13 ngày ở
điều kiện 25
o
C và từ 7-13,7 ngày ở điều kiện nhiệt độ 30
o
C. Thời gian dài
nhất của trứng là 26,7 ngày ở điều kiện 15
o
C và ngắn nhất là 12,6 ngày ở điều
kiện nhiệt độ 28
o
C (Visarto, 2005). Các tác giả như Suenaga (1963) và
Mochida (1964), chứng minh rằng tỷ lệ trứng nở cao nhất ở điều kiện nhiệt độ
25
o
C (khoảng 96%) và nhiệt độ cao hơn hoặc thấp hơn 25
o
C
và cho tuổi 4, tuổi 5 là 11,3
o
C.
Sự phát triển và một số đặc điểm của trưởng thành rầy nâu: Rầy nâu có
2 dạng cánh: một dạng cánh dài và một dạng cánh ngắn. Khi rầy nâu được
nuôi ở các kiện khác nhau như nhiệt độ, ánh sáng, mật độ, thức ăn ảnh hưởng
lớn đến sự hình thành dạng cánh. Những con trưởng thành cái cánh dài thu
vào năm 1992 từ Nhật Bản và những khu vực cận nhiệt đới như ở phía Bắc
8
Việt Nam thời gian sống kéo dài hơn khi chúng được thu ở khu vực nhiệt đới
như Indonesia. Quần thể rầy nâu thu vào năm 1993, 1994 ở Nhật Bản, miền
Trung và miền Nam Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam có thời gian trước đẻ
trứng cũng dài hơn ở Malaysia (Visator, 2005).
Trưởng thành thường vũ hoá vào buổi sáng, những hoạt động của
chúng bắt đầu sau khi cánh hình thành (Kisimoto, 1969). Những con cái cánh
ngắn bắt đầu giao phối với con đực sau khi vũ hoá từ 2-4 ngày, và 3-7 ngày
đối với những con cái cánh dài ở điều kiện nhiệt độ 25
o
C, trong khi đó cả 2
dạng cánh dài và cánh ngắn của con đực trưởng thành có thể giao phối ngay
sau khi vũ hoá (Kisimoto, 1965). Tuy nhiên theo Otake (1978), sau khi vũ hóa
24 giờ, rầy trưởng thành bắt đầu giao phối, hoạt động tăng dần lên đến ngày
thứ 5, sau đó giảm đi. Một cá thể đực có thể giao phối với 9 cá thể cái trong
vòng 24 giờ, trong thời gian sống con cái có thể giao phối 2 lần hoặc nhiều
hơn (Mochida and Suryana, 1975). Số trứng do một con cái đẻ thay đổi tùy
theo từng cá thể, liên quan chặt chẽ với thời gian sống và số ngày đẻ, con cái
đẻ nhiều nhất tới 1.474 trứng (Suenaga, 1963). Trong điều kiện nhiệt độ bình
thường, trung bình một cá thể cái đẻ từ 108-599 trứng (Mochida, 1964).
hạn. Nhiều tác giả cho rằng tưới nước và giữ nước trong ruộng đã dẫn đến
làm tăng mật độ rầy nâu và từ đó làm tăng thiệt hại cho lúa (Hinckley, 1963;
Mochida và Suryana, 1975).
Cây chủ: Lúa là cây chủ thích hợp nhất với rầy nâu (Nasu, 1964;
Kisimoto, 1977; Okada, 1976). Trên các ký chủ phụ như cỏ, rầy nâu có thể
sống nhưng phát triển không thuận lợi (Mochida và ctv., 1977).
Giống lúa: Quan niệm chung đều cho rằng việc gieo cấy các giống lúa
mới đã làm tác hại của rầy nâu tăng lên (Smith, 1972; Nickel,1973). Tác giả
nhận xét các trận dịch rầy nâu gần đây liên quan đến nhập nội những giống
lúa có năng suất cao (Oka, 1976). Mochida và ctv, (1977) cho biết ở
Indonesia sự phá hại của rầy nâu có tương quan chặt chẽ với diện tích cấy
10
giống lúa mới, nhưng một số tác giả khác lại phản đối quan niệm này và cho
rằng nhìn chung các giống lúa mới không mẫn cảm với rầy nâu hơn các giống
lúa cao cây cổ truyền, mà chính là các biện pháp kỹ thuật được áp dụng với
giống lúa mới như cấy dày, tưới nước, bón nhiều phân... mới là nguyên nhân
gây lên bùng phát rầy nâu (Shastry, 1971; Freeman, 1976).
Mùa vụ: Nhiều tác giả cho rằng việc tăng vụ lúa trong năm đã dẫn đến
làm tăng sự phá hại của rầy nâu, việc gieo cấy hai hoặc nhiều vụ lúa liên tiếp
trong một năm với thời gian không ổn định đã góp phần gây ra các trận dịch
rầy nâu (Nickel, 1973). Trong một năm, thời gian có cây chủ tồn tại trên đồng
ruộng càng dài thì càng có điều kiện cho quần thể rầy nâu đạt đến mật độ cao,
trong điều kiện đó rầy nâu phát tán từ ruộng này sang ruộng khác và lan rộng
từ ruộng cấy trước sang ruộng lúa cấy sau.
Mật độ gieo cấy: Cấy dầy và tăng mật độ gieo sạ cũng làm tăng tác hại
của rầy nâu nguyên nhân là do khi tăng mật độ cấy hoặc sạ đã tạo nên điều
kiện tiểu khí hậu trong ruộng lúa thích hợp với rầy nâu (Fernando, 1975;
Kisimoto, 1965).
Phân bón: Các tác giả đều thống nhất bón nhiều phân đặc biệt là phân
đạm sẽ làm tăng sự gây hại của sâu hại trong đó có rầy nâu (Smith, 1972;
pháp. Tuy nhiên, nhiều tác giả nhận xét rằng nếu chỉ dùng đơn độc hai biện
pháp trên cũng không đầy đủ (Oka, 1978). Gieo cấy rộng rãi các giống kháng
rầy sau một thời gian sẽ xuất hiện những biotype rầy mới có khả năng phá hại
các giống đó (IRRI, 1977).
Dùng thuốc hóa học một cách không đúng sẽ giết chết các thiên địch
của rầy nâu (Kulshresthan, 1974; Fernando và ctv, 1975) và gây ra hiện tượng
kháng thuốc (Fernando và ctv, 1975; Heindrish, 1979; Phạm Hồng Hiển,
2009). Vì vậy khuynh hướng chung của các nước hiện nay là áp dụng các
12
chương trình phòng trừ tổng hợp dựa trên các biện pháp kỹ thuật trồng trọt,
phát huy tác dụng của các thiên địch, đặc biệt chú ý chọn tạo, sử dụng các
giống kháng rầy và sử dụng thuốc hoá học chọn lọc khi cần thiết.
Phòng trừ rầy nâu bằng biện pháp hóa học: Nhìn chung các nghiên cứu
về hiệu lực phòng trừ rầy nâu của thuốc, thời điểm sử dụng, đánh giá tác động
của thuốc tới quần thể thiên địch, tính chống thuốc và khả năng tái phát quần
thể rầy nâu… đã được nghiên cứu. Nhóm thuốc Carbamate có hiệu lực trừ rầy
khá và được sử dụng khá rộng rãi vào những năm 1970 (Heinrich, 1979),
hoặc nhóm Bufloferin có tác dụng ức chế quá trình hình thành Kitin của rầy
nâu các dạng thuốc (thuốc viên, thuốc dạng sữa…) đã được nghiên cứu cách
sử dụng kết quả cho thấy thuốc Mipcin dạng hạt có khả năng trừ rầy lứa 2 và
3 đạt hiệu quả cao, tuy nhiên nếu rắc vào giai đoạn rầy đang đẻ trứng hoặc
chưa nở hết mật độ rầy sẽ tăng cao và gây cháy rầy (Nagata và ctv, 1975).
Một số phương pháp dùng thuốc khác như xử lý hạt giống cũng đã được
nghiên cứu (Aquino và Pathak, 1976). Thời gian sử lý thuốc vào giai đoạn rầy
non đạt đỉnh cao sẽ cho hiệu quả tốt, phun thuốc vào lúc rầy đang nở hoặc khi
đang vũ hóa đều cho hiệu quả kém (IRRI, 1979). Các loại thuốc hầu hết
không có tác dụng với trứng rầy nâu và độ bền kém do vậy nếu thời gian sử lý
không chính xác sẽ không đạt hiệu quả như mong muốn (Heinrichs, 1979).
Tính kháng thuốc cũng được một số tác giả tiến hành nghiên cứu kết quả cho
thấy hiện tượng kháng thuốc xảy ra với nhóm thuốc lân hữu cơ và Carbamate
decamethrin đã giúp cho lúa phát triển tốt hơn, đó chính là nguyên nhân làm
tăng sự phát triển của quần thể rầy nâu. Hơn nữa, ở những công thức áp dụng
thuốc đã làm rút ngắn thời gian phát dục của rầy non, thời gian phát dục của
trưởng thành dài hơn, kết quả là vòng đời rầy nâu ngắn lại, tuy nhiên việc làm
này đã dấn đến thời gian đẻ trứng của trưởng thành dài hơn so với không xử
14
lý thuốc, đây là nguyên nhân dẫn đến sự phục hồi quần thể rầy nhanh và cao
hơn ở những công thức xử lý thuốc.
Sự bùng phát rầy nâu không theo chu kỳ và xảy ra trên diện tích rộng.
Sau những năm 1960, rầy nâu bùng phát vào những năm 1975, 1990, 1997 và
2005 tại hầu hết các nước trồng lúa Châu Á (Song và ctv, 2008). Để dự báo
trước sự bùng phát của rầy nâu thực sự rất khó khăn, và người nông dân khó
có thể ngăn chặn kịp thời sự bùng phát của rầy nâu (Phạm Hồng Hiển, 2009).
Rất nhiều loại thuốc hoá học có độ độc cao với thiên địch, đó chính là
nguyên nhân gây nên sự phục hồi quần thể rầy nâu khi sử dụng thuốc hóa học
quá liều lượng (Heinrich và Mochida, 1984; Kenmore và ctv, 1984; Gallagher
và ctv, 1994). Hầu hết các tác giả đều khảng định do sử dụng thuốc hoá học
không đúng đã dẫn tới sự gia tăng quần thể và làm bùng phát rầy nâu ở hầu
hết các nước Đông Nam Châu Á (Kenmore và ctv, 1985). Thuốc trừ sâu
không giết được trứng rầy nâu, nhưng lại giết hại thiên địch (Reissig và ctv,
1982; Phạm Hồng Hiển, 2009), thêm vào đó rầy nâu phục hồi quần thể nhanh
hơn quần thể thiên địch (Settle và ctv, 1996; Preap và ctv, 2001) đó chính là
lý do bùng phát rầy nâu nhanh chóng sau khi áp dụng thuốc hoá học một cách
bừa bãi.
Sự phát triển của biện pháp hoá học trong giai đoạn đầu đã đem lại lợi
ích to lớn hầu như với tất cả các loại dịch hại trên tất cả các loại cây trồng, vì
rằng biện pháp này sử dụng đơn giản, giá thành hạ, hiệu lực cao, nhanh chóng
dậpt tắt các trận dịch trên đồng ruộng. Tuy nhiên khi sử dụng thuốc trừ sâu
hóa học người ta nhận thấy nhiều loại thuốc kém hiệu quả trong một thời gian
sử dụng, nguy hại hơn là trong một vài tình huống thuốc đã làm cho dịch hại
giống ngắn ngày. Theo Oka (1978) luân canh lúa với các cây trồng hàng năm
như đậu tương, khoai lang… hoặc nghỉ một thời gian giữa hai vụ lúa sẽ phá
vỡ chu kỳ phát triển của rầy nâu hàng năm làm vệ sinh đồng ruộng, thu sạch
16
cỏ dại, rạ, lúa chét sau vụ thu hoạch được coi là biện pháp hữu hiệu để giảm
nguồn rầy nâu tồn tại và xâm nhập đồng ruộng. Rất nhiều tác giả đã kết luận
rằng, rầy nâu ở các ruộng có tưới nước đầy đủ gây hại lớn hơn ruộng khô
(Fernando, 1977). Cấy dày góp phần làm mật độ rầy cao hơn cấy thưa
(Kisimoto, 1965). Mặt khác bón nhiều phân đạm sẽ làm gia tăng sự gây hại
của rầy (Lu và ctv, 2007).
Biện pháp sinh học trong phòng trừ rầy nâu: Tăng cường vai trò và bảo
vệ thiên địch của rầy nâu trên đồng ruộng bằng cách sử dụng các loại thuốc
chọn lọc ít độc với thiên địch (Chiu, 1979; Heong và ctv, 1993). Việc sử dụng
các chế phẩm sinh học phòng trừ rầy nâu đã được nghiên cứu và sử dụng tuy
nhiên hiệu lực của các sản phẩm này không cao (Pathak, 1971).
Biện pháp sử dụng giống chống chịu trong phòng trừ rầy nâu: Visator
(2005), đã đánh giá biện pháp giống trong phòng chống sâu bệnh trong đó có
rầy nâu như sau “Giống chống chịu là hòn đá tảng để phòng trừ sâu bệnh có
hiệu quả. Kết hợp giống chống chịu với phòng trừ sinh học và kỹ thuật canh
tác là chiến lược phòng trừ sâu bệnh lý tưởng đối với nông dân ít vốn”. Chính
vai trò quan trọng của giống trong phòng trừ sâu bệnh đặc biệt là rầy nâu do
vậy có rất nhiều nghiên cứu về giống kháng rầy nâu đã được tiến hành gồm
những vấn đề: đánh giá sức chống chịu của giống với rầy nâu, nghiên cứu cơ
chế chống chịu của giống với rầy nâu, nghiên cứu về di truyền học của tính
chống chịu, lai tạo giống chống chịu rầy nâu hoặc chuyển gen chống chịu rầy
nâu vào các giống lúa có các đặc điểm nông học tốt, nghiên cứu đánh giá các
biotype rầy nâu tại các vùng trồng lúa. Tại IRRI đã có hơn 26.000 giống lúa
trong ngân hàng gen và đã tiến hành đáng giá xác định được 286 kháng
biotype 1 và 110 giống kháng biotyope 2.
17
C,
vòng đời rầy từ 35-40 ngày. Trong tháng 2- 3, với nhiệt độ thấp (17-20,2
o
C)
vòng đời kéo dài tới 50-55 ngày.
18
Theo N. Đ. Khiêm (1995), thời gian phát dục của rầy nâu trong vụ mùa
nhiệt độ từ 25-29
o
C thì thời gian trứng khoảng 6,5 ngày, rầy non khoảng
13,5-16 ngày, trưởng thành 6-9 ngày, trước đẻ trứng 2,5-3 ngày, vòng đời
26-30 ngày. Số trứng trên mỗi ổ ít nhiều phụ thuộc vào giống lúa làm thức ăn
cho rầy, trên giống nhiễm rầy số trứng/ổ cao gấp 2 lần so với giống kháng
rầy. Bên cạnh đó, khả năng đẻ trứng còn phụ thuộc vào mùa vụ, trong một
năm thì vụ xuân rầy đẻ trứng nhiều hơn vụ mùa, vụ xuân đẻ 255 trứng nhưng
vụ mùa chỉ đẻ 164 trứng thấp hơn 1,37 lần so với vụ xuân. Tại Tiền Giang,
năm 1977-1978 cho thấy ổ trứng rầy nâu có ít nhất là 1 trứng và nhiều nhất là
43 trứng, thường là 2-5 trứng/ổ (P. V. Lầm, 1992). Trứng có dạng “quả chuối
tiêu” mới đẻ trong suốt, gần nở chuyển màu vàng và có hai điểm mắt đỏ. Đẻ
thành từng ổ từ 5 - 12 trứng nằm sát nhau theo kiểu “úp thìa” đầu nhỏ quay
vào trong đầu to quay ra ngoài biểu bì ngoài của bẹ lá. Mới đẻ nằm chìm
trong mô biểu bì, sắp nở chồi đầu trứng ra ngoài biểu bì bẹ lá. Trứng được đẻ
ở bẹ lá là chính (lúa non) và ở gân chính của lá lúa (lúa già) (Viện BVTV,
2003).
Trong điều kiện Việt Nam, các kết quả theo dõi về khả năng đẻ trứng
của rầy nâu không giống nhau. Tại phòng thí nghiệm Viện KHKT nông
nghiệp miền Nam, một trưởng thành của rầy nâu đẻ trung bình 150-400 trứng.
Nuôi thí nghiệm ở Long An, mỗi trưởng thành cái đẻ 50 – 200 trứng, nhiều
nhất đẻ tới 612 trứng. Trong điều kiện vùng Hà Nội, một trưởng thành cái có
khả năng đẻ 110-324 trứng, nhiều nhất tới 670 trứng (Viện BVTV, 1980).
Rầy trưởng thành có xu hướng vào đèn mạnh vì vậy có thể lợi dụng đặc
tính này trong dự tính dự báo rầy nâu (N. C. Thuật và N. V. Hành, 1980).
20
Diễn biến rầy nâu trên ruộng lúa: Quan sát trên rất nhiều ruộng lúa ở
Long An và vùng ngoài thành Hà Nội (T. H. Thọ và N. C. Thuật, 1989) có thể
nhận thấy quá trình phát triển quần thể của chúng trong các thời kỳ
+Rầy trưởng thành du nhập vào ruộng lúa
+Thời kỳ tích lũy quần thể
+Thời kỳ cao điểm, phá hại nặng gây “cháy rầy”
+Thời kỳ phát tán
Nhìn chung trong mỗi vụ lúa thường có 2-3 lứa rầy phát sinh và gây hại
với mật độ lứa sau cao hơn lứa trước. Các đợt dịch rầy thường phát sinh ở các
vùng vào giai đoạn lúa trước hoặc sau trỗ bông (N. C. Thuật và N. V. Hành,
1980) tương ứng ở mỗi vụ lúa đông xuân, hè thu hay vụ mùa thường có một
đỉnh cao quần thể của rầy.
Trên mỗi ruộng gieo giống ngắn ngày có thể có 3 lứa rầy. Trong đó đợt
thứ hai có nhiều khă năng gây hại nhất.Trong thời gian xuất hiện các cao
điểm rầy trưởng thành và rầy non ở các trà lúa nói chung không chênh lệch
nhau nhiều (N. M. Chinh, 1992).
Rầy nâu dạng cánh dài du nhập vào ruộng lúa sau cấy 20-25 ngày từ
các ký chủ phụ và các nơi khác nhau. Chúng hoàn thành 3 thế hệ nếu du nhập
sớm, 2 thế hệ nếu du nhập muộn hơn. Sau khi du nhập chúng tích lũy số
lượng qua các lứa với hệ số tích lũy lứa 1-2 khoảng11 lần, lứa 1-3 tới 130 lần
(T. H. Thọ và N. C. Thuật, 1989). Sau khi tích lũy quần thể đến mức tối đa,
mật độ có thể lên tới 700 – 2000 con/khóm. Sau khi cây lúa bị hại nặng (do
cháy rầy) lúa không còn thích hợp với rầy, lúc này rầy nâu phát triển nhiều
dạng cánh dài phát tán tới những trà lúa muộn, những ruộng mạ gieo sớm hay
những ký chủ phụ đảm bảo cho phát triển các thế hệ tiếp theo.
Khi nghiên cứu rầy nâu ở các vùng ngoại thành Hà Nội, Hà Sơn Bình,
Hà Nam Ninh, các tác giả cho biết, hàng năm đợt rầy non xuất hiện trên các
Phòng chống rầy nâu bằng biện pháp sử dụng giống chống chịu: đây
một nội dung cơ bản trong phòng trừ tổng hợp. Sử dụng giống lúa kháng rầy
22
là biện pháp rẻ tiền, hiệu quả dễ thực hiện trên diện rộng để hạn chế tác hại
của rầy nâu. Các giống lúa kháng rầy nâu như Mudgo (gen Bph1), ADS7,
IR36 (gen bph2), CR 203, C 70, C180… làm cho rầy sinh trưởng kém, thời
gian phát dục kéo dài, tỷ lệ tử vong cao. Từ đó dẫn đến sự phát triển quần thể
của rầy nâu kém hơn rất nhiều lần so với khi chúng phát triển trên các giống
nhiễm như giống lúa TN1, IR8, IR22. Giống lúa CR203, C70, C71,.CR 84-1
kháng rầy nâu đã được triển khai rộng trên cả nước. Chính vì vậy các trận
dịch rầy nâu đã được dập tắt, sản lượng lúa tăng, chi phí cho bảo vệ thực vật
giảm đáng kể (Viện BVTV, 2006).
Các giống lúa khác nhau có khả năng phản ứng với rầy nâu cũng khác
nhau. Ở miền Bắc đã xác định được 332 giống và dòng lai có tính kháng rầy
nâu trong số 905 giống và dòng lai được đánh giá (N. V. Đĩnh, 2005; N. Đ.
Khiêm, 1995). Khu vực phía Nam đã xác định được 78 giống và dòng lai có
tính kháng với rầy nâu trong 1134 giống và dòng lai được đánh giá (N. Đ.
Khiêm, 1995). Nhiều giống lúa phản ứng kháng với rầy nâu ở miền Bắc
nhưng lại nhiễm với rầy nâu ở đồng bằng sông Cửu long, tuy nhiên chưa thấy
giống nào ở đồng bằng sông Cửu long lại nhiễm rầy nâu ở khu vực phía Bắc
(N. Đ. Khiêm, 1995).
Phòng chống rầy nâu bằng biện pháp sinh học: Có thể nói cho đến nay
biện pháp sinh học được nhắc đến như một biện pháp không thể thiếu trong
biện pháp bảo vệ cây trồng, tuy nhiên trên cây lúa, biện pháp này vẫn chủ yếu
là bảo vệ các thiên địch trong tự nhiên thông qua việc thực hiện các biện pháp
phòng trừ và canh tác làm giảm việc ảnh hưởng đến suy giảm quần thể của
KSTĐ tự nhiên (Viện BVTV, 2006).
Các kết quả nghiên cứu về thành phần và diễn biến số lượng quần thể
thiên địch của rầy nâu cho tới nay cũng khá nhiều như: P. V. Lầm (1992) tác
giả đã phát hiện được 56 loài côn trùng, nhện, nấm và tuyến trùng là thiên
cần thiết trong một tương lai dài. PTTH, theo quan niệm của một số nhà khoa
học, không nhằm mục tiêu loại bỏ mà là sử dụng hợp lý và có chọn lọc hoá
chất bảo vệ thực vật. Tại Việt Nam hầu hết các công trình nghiên cứu về
phòng trừ sâu bệnh hại lúa đều quan tâm đên biện pháp sử dụng thuốc học
học hợp lý cụ thể rầy nâu thuốc Bassa 50EC, Trebon 10EC, Applaud 15 WP,
Regent 800 WG, Admire 50EC phun khi rầy tuổi 1 - 2 rộ.
Xử lý hạt giống: Cruiser Plus 312.5FS (50ml/100 kg hạt giống) và
Gaucho 600 FS (40ml/100 kg hạt giống) không ảnh hưởng đến tỷ lệ nẩy mầm
và tốc độ nảy mầm của hạt, không ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng và phát
triển của cây lúa sau khi gieo cấy. Thuốc Cruiser có hiệu quả trừ rầy trưởng
thành xâm nhập vào ruộng từ 72-82% sau mọc 3-5 ngày tuổi, từ 40-60% cây
lúa 7-10 ngày tuổi (N. V. Viễn 2007). Cũng theo tác giả Ngô Vĩnh Viễn
(2007) thì thuốc nhóm Neonicotinoid có hoạt chất Dinotefuran (trong đó có
Oshin 20 WP), Clothianidin (trong đó có Dantosu 16 WSG), Thiamethoxan
(trong đó có Actara 25WG) có hiệu quả trừ rầy non và rầy trưởng thành và có
thể bảo vệ lúa non trong 5 ngày sau phun. Những loại thuốc này có thể
khuyến cáo sử dụng trừ rầy nâu véc tơ truyền bệnh vàng lùn, lùn xoăn lá cho
lúa từ khi mọc cho đến 30 ngày tuổi.
25