Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái học và biện pháp kỹ thuật trồng cây bò khai (erythropalum scandens blume) tại tỉnh thái nguyên, bắc kạn - Pdf 22


1
MỞ ĐẦU
Tổ chức Quĩ thiên nhiên toàn thế giới (WWF) đã ước tính: trên thế giới có
khoảng 35.000 - 70.000 loài trong số 250.000 - 270.000 loài cây cỏ được sử dụng
vào mục đích làm thực phẩm và chữa bệnh [128]. Kho tàng nguồn tài nguyên thực
vật vô giá này đã và đang được các cộng đồng khác nhau trên thế giới khai thác và sử
dụng thường xuyên, nguồn lợi từ thực vật đã góp phần lớn trong công cuộc phát triển
kinh tế của các quốc gia trên thế
giới.
Tuy nhiên, nguồn tài nguyên cây hoang dại hữu ích (useful wild plants -
UWP) [121] hiện đang bị đe dọa do thảm thực vật tự nhiên bị tàn phá, bị khai thác
quá mức và bị sử dụng một cách lãng phí, tri thức về khai thác, sử dụng và bảo tồn
các loài cây hữu ích bản địa bị mai một do không được tư liệu hoá, thế hệ trẻ ở nhiều
cộng đồng ít quan tâm đến học tập kinh nghiệm của thế h
ệ trước,vv Ngày nay,
nhiều cây hoang dại hữu ích đang đối mặt với nguy cơ bị tuyệt chủng nhưng lại có
rất ít nỗ lực bảo tồn. Trong khi đó các nỗ lực lại tập trung quá nhiều vào việc khám
phá các loài có ích mới [13].
Do đặc điểm về vị trí địa lý, điều kiện khí hậu và cấu trúc địa hình đa dạng
nên Việt Nam là một trong những quốc gia có hệ
động thực vật rất phong phú. Theo
báo cáo tại hội nghị khoa học về đa dạng sinh học do Tổng cục môi trường tổ chức
tháng 11/2010,[12] trên lãnh thổ Việt Nam, ở các hệ sinh thái trên cạn, đã thống kê
và xác định được trên 13.200 loài thực vật, hơn 10.000 loài động vật. Khoảng hai
thập kỷ gần đây, rất nhiều loài động, thực vật mới được phát hiện và mô tả, trong đó
có nhiều chi và loài mới. Vi
ệt Nam là quốc gia có nguồn tài nguyên cây hoang dại
hữu ích phong phú, với khoảng 3.800 loài cây hoang dại hữu ích đã được phát hiện
[8]. Đây là cơ sở rất quan trọng để chúng ta tiếp tục phát hiện, chọn lọc và phát triển
các loài cây hoang dại trong tự nhiên có tiềm năng cho giá trị kinh tế cao, vừa góp

để đa dạng hoá thu nhập từ các cây trồng ít sử dụng”, chương trình bảo tồn
và phát triển cây rau bản địa như cây rau sắng tại vườn quốc gia Xuân Sơn [88]…
Tại khu vực các tỉnh miền núi phía Bắc, gần đây cây rau Bò khai được biết
đến như một loài rau xanh sạch, ngon và có nhiều giá trị. Cây Bò khai có tên khoa
học là Erythropalum scandens Blume [94], là một loại dây leo có tua cuốn, chúng
thường mọc ven các rừng thứ sinh hoặc rừng đang phục hồ
i. Loài rau này vừa có tác
dụng làm thực phẩm - thức ăn, vừa có tác dụng làm thuốc chữa bệnh, và còn được
đánh giá là một loại thực phẩm chức năng quý. Theo Tạ Minh Hoà - Trung tâm
nghiên cứu Lâm đặc sản Việt Nam [35]: Rau Bò khai là loại thực phẩm có giá trị
dinh dưỡng cao, gồm các thành phần chủ yếu sau (tính trong 100g lá non): nước
78,8g; Protein 06g; Gluxit 6,1g; Xơ 7,5g; tro 1,6g; can xi 138mg; phốt pho 40,7 mg;
ca-rô-ten 2,6mg; vitamin C 60mg. Chính vì vậy, Bò khai được coi là một loài cây
lâm sản ngoài gỗ đa tác dụng và có thể phát triển để góp phần xoá
đói giảm nghèo
cho đồng bào địa phương các tỉnh miền núi phía Bắc.
Từ lâu, người dân các tỉnh vùng núi phía Bắc Việt Nam đã biết khai thác loại
rau rừng này để làm thức ăn hàng ngày. Ban đầu chỉ là vào rừng khai thác nguồn rau
sẵn có trong tự nhiên đem về ăn, sau đó nhận thấy giá trị nhiều mặt của loài rau này
nên người dân các địa phương đã vào rừng khai thác nhiều hơn, vừa để ăn và vừa để
đem bán, cùng với việc diện tích rừng ngày một giảm nên số lượng cây Bò khai tự
nhiên hiện không còn nhiều. Vì vậy để bảo tồn và phát triển loài cây này cần có biện

3
pháp để khôi phục cả trong tự nhiên và nhân tạo. Việc nghiên cứu gây trồng được coi
là hướng đi chủ đạo, có thể đem lại cơ hội thành công cho việc duy trì phát triển loài
cây đặc sản có giá trị này. Góp phần tạo nguồn hàng hoá có giá trị trên thị trường,
hình thành nghề trồng rau mới - một cơ hội sinh kế lâu dài cho người dân, góp phần
bảo vệ nguồn gen của những loại thực vật rừng quý hiếm
đang có nguy cạn kiệt

giảng dạy cho các nhà định hướng chiến lược phát triển cây rau, các nhà khoa học,

4
các cán bộ kỹ thuật nông nghiệp, học sinh, sinh viên, nông dân về đặc tính sinh thái
học, kỹ thuật gây trồng theo hướng thâm canh cây Bò khai.
* NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
- Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu các kiến thức bản địa về sự phân
bố, tình hình khai thác và sử dụng cây Bò khai (Erythropalum Scandens Blume) tại
tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn.
- Là công trình đầu tiên nghiên cứu các đặc điểm sinh thái tự nhiên của cây
Bò khai làm cơ sở cho việc định hướ
ng bảo tồn và phát triển loài cây này.
- Là Công trình nghiên cứu một cách hệ thống về kỹ thuật nhân giống và
trồng trọt cây Bò khai. Từ đó bổ sung và hoàn thiện một số biện pháp kỹ thuật nhằm
phát triển loài rau bản địa tiềm năng này trong sản xuất nông lâm nghiệp.

5
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN
1.1. CÁC VẤN ĐỀ VỀ BẢO TỒN TÀI NGUYÊN THỰC VẬT HOANG DẠI
HỮU ÍCH
1.1.1. Tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích và công tác bảo tồn trên thế giới
1.1.1.1. Tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích
Nói về thực vật hoang dại hữu ích là nói đến nguồn tài nguyên cây cỏ phong
phú trên hành tinh, đó là những loài thực vật có giá trị đối với loài người, chúng đã
và đang được con người khai thác và sử dụng hàng ngày, nhằm đáp ứng nhu cầu
đa
dạng của mình. Trong đó, các sản phẩm phi gỗ được khai thác ngày càng nhiều, nhu
cầu khai thác các cây lâm sản ngoài gỗ (LSNG) để làm thực phẩm và làm thuốc chữa
bệnh luôn là quan trọng nhất, đồng thời hai nhu cầu này lại thường song hành với

dụng được trong y học truyền thống [109]. Châu Mỹ La tinh, nơi có chứa lới 1/3 số
loài thực vật trên thế giới, cũng có truyền thống sử dụng cây cỏ bản địa thực phẩm và
làm thuốc chữa bệnh, đặc biệt là ở người dân bản địa Schule đ
ã phát hiện gần 2.000
loài thực vật hoang dại hữu ích được sử dụng ở vùng Amazon thuộc Colombia. Các
quốc gia ở Châu Phi có số loài thực vật hoang dại hữu ích ít hơn như Somalia có 200
loài [114]. Botswana có 314 loài [104].
Các nghiên cứu khảo cổ cho thấy người Neanderthal có ở Iraq từ 60.000 năm
trước đã biết sử dụng một số cây cỏ mà ngày nay vẫn thấy sử dụng trong y học cổ
truyền như Cỏ thi (Achillea), Cúc bạ
c (Chrysanthemum sinense Sabine) vv. Người
dân bản xứ Mehico từ nhiều nghìn năm trước đã biết sử dụng Xương rồng Mehico
(Opuntia. Spp) mà ngày nay được biết là chứa chất gây ảo giác, kháng khuẩn [122].
Mức độ sử dụng thực vật hoang dại hữu ích ở các nước công nghiệp ngày
càng tăng. Ngày nay, có khoảng 40% dân số ở các nước công nghiệp phát triển sử
dụng các dạng thuốc bổ sung [100]. Tổng giá trị thu
ốc có nguồn gốc cây cỏ trên thị
trường châu Âu, Mỹ và Nhật Bản vào năm 1985 là 43 tỉ USD [92].
Tonga Noweg và cộng sự (2003)[123] nghiên cứu những loài cây làm rau lấy
từ rừng của các cộng đồng trong khu vực Vườn quốc gia Crocker Range, Sabah,
Malaysia cho thấy có đến 70,6% cộng đồng dân cư có lấy các loài rau từ rừng, 82%
phụ nữ tham gia lấy các loại rau rừng phục vụ cho gia đình 18% vừa lấy để dùng vừa
đem bán ở các chợ địa ph
ương.
Tugba Bayrak Ozbucak và cộng sự (2006) [126] đã nghiên cứu phân bố các
loài cây ăn được ở vùng biển đen Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy các loài cây ăn được rất phổ
biến và được dân cư vùng này sử dụng thường xuyên, thống kê được có 52 loài cây
ăn được thuộc trong 26 họ. Họ có số loài nhiều nhất là họ Lamiaceae (10 loài), tiếp
theo là các họ Asteraceae (5loài), Apiaceae và Boraginaceae (4 loài), Liliaceae (3
loài), Orchidaceae và Polygonaceae (2 loài).

trong điều kiện dân số thấp. Đến nay, do áp lực dân số ngày càng cao trong khi quĩ
đất để du canh càng ít đi, dẫn đến chu kỳ quay vòng càng ngắn. Kết quả là tài nguyên
sinh vật nói chung và tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích nói riêng ngày càng bị
tàn phá và mất môi trường sống.
Khai thác quá mức [114]; [110]: Có đến 80% thực vật làm thuốc sử dụng ở
Trung Quốc và 95% loài cây thuốc ở Ấn Độ đượ
c khai thác từ hoang dại. Việc khai
thác quá mức tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích gây ra bởi áp lực tăng dân số và
nhu cầu cuộc sống ngày càng tăng, không những cho nhu cầu trong nước mà còn để
xuất khẩu. Điều này dẫn đến lượng tài nguyên tái sinh không bù đắp được lượng bị
mất đi.
Lãng phí tài nguyên thực vật có ích: Gây ra bởi (i) thói quen sử dụng hoang
phí, (ii) hoạt động thu hái mang tính chất hủy diệt, (iii) điều kiện b
ảo quản kém, (iv)
thiếu các phương tiện vận chuyển và thị trường thích hợp [110] .

8
Nhu cầu sử dụng thực vật hoang dại hữu ích tăng lên: Việc sử dụng cây cỏ làm
thuốc ở nhiều nước tăng lên do chính sách khuyến khích phát triển các nền y học truyền
thống [107].
Khai thác không có kế hoạch.
Thay đổi cơ cấu cây trồng.
Tri thức sử dụng không được tư liệu hoá: Hầu hết tri thức sử dụng cây cỏ làm
thuốc của các cộng đồ
ng truyền thống được truyền miệng từ đời này sang đời khác
hay từ người dạy sang người học nghề. Ngày nay, do nhu cầu phát triển kinh tế, một
bộ phận thế hệ trẻ không quan tâm đến việc thừa kế tri thức sử dụng cây cỏ làm
thuốc từ thế hệ trước [127].
Sự sụp đổ và mất các nền văn hoá truyền thống.
* Quan điể

Xác định (tên khoa học) thực vật có ích, xác định sự phân bố và đánh giá mức
độ phong phú của chúng, trong đó: (i) xây dựng ít nhất một phòng tiêu bản quốc gia,
(ii) lập danh mục tất cả các loài cây được sử dụng ở trong n
ước, (iii) xác định loài
thực vật hoang dại hữu ích bị đe dọa trong tự nhiên nhằm đưa ra ưu tiên trong các
chương trình bảo tồn và (iv) xây dựng cơ sở dữ liệu máy tính hoá về thực vật hoang
dại hữu ích
theo tiêu chuẩn quốc tế để, lưu trữ và truy cập thông tin.
(2) Sử dụng:
Tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích phải được sử dụng một cách bền vữ
ng,
an toàn thông qua:
- Cơ chế luật pháp, bao gồm: (i) Nhà nước điều hòa hoạt động thu hái, khai
thác thực vật hoang dại hữu ích từ hoang dại, (ii) nghiêm cấm thu hái các loài thực
vật hoang dại hữu ích đang bị đe doạ, (trừ việc thu thập vật liệu nhân giống với
lượng nhỏ, theo cách không làm nguy hại đến, loài thực vật hoang dại hữu ích đó)
(iii) kiểm soát hoạt động buôn bán thực vật hoang dại hữu ích và các s
ản phẩm của
chúng.
- Nghiên cứu và phát triển trồng thực vật hoang dại hữu ích, bao gồm: (i) thiết
lập các vườn ươm thực vật hoang dại hữu ích, (ii) cải thiện mặt nông học các loài
thực vật hoang dại hữu ích được trồng và trồng các loài thực vật hoang dại hữu ích
có nhu cầu nhưng chưa được trồng trước đây, (iii) chọn tạo các giống thực vật hoang
dại hữu ích thu
ần chủng, có năng suất và chất lượng cao, (iv) hạn chế sử dụng thuốc
hóa học trong trồng thực vật hoang dại hữu ích, (v) đào tạo và cung cấp thông tin về
kỹ thuật trồng trọt thực vật hoang dại hữu ích, đặc biệt là cho cộng đồng.
- Cải tiến kỹ thuật thu hái, bảo quản, sử dụng và sản xuất hàng hóa.
(3) Bảo tồn, bao gồm:
- Bả

có sự tham gia của các ngành khác nhau, không những của các nhà khoa học, nhà
quản lý, nhà kinh tế mà còn cần có sự tham gia của người dân. Sự tham gia của
người dân phải là sự tham gia tích cực chứ không phải là "đối tượng nghiên
cứu" [127].
Theo WB, bước đầu tiên trong bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên thực
vật hoang dại hữu ích là tư liệu hoá, sử dụng chúng và thiết l
ập các chương trình
trồng thực vật hoang dại hữu ích với người nông dân và các trạm/trại nghiên cứu
nông nghiệp [107].
Theo nhóm chuyên gia về thực vật làm thuốc (MPSG). việc bảo tồn tài
nguyên cây thuốc trên thế giới có thể thực hiện được thông qua (i) xác định các bậc
phân loại (taxa) bị đe dọa và các khu vực ưu tiên trên thế giới, (ii) xác định nguyên
nhân, giải pháp và phương pháp nghiên cứu trong bảo tồn và (iii) khuyến khích sử
dụng bề
n vững [110].
* Một số hoạt động bảo tồn tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích
11
Năm 1988, hội thảo (consultation) quốc tế về bảo tồn thực vật hoang dại hữu
ích đã được tố chức ở Chiang Mai Thái Lan với sự tham gia của 24 chuyên gia y tế
và bảo tồn cây cỏ đến từ 16 quốc gia thuộc các khu vực khác nhau trên thế giới (trừ
Australia và Nam Mỹ). Kết quả là "Tuyên ngôn Chiang Mai" (Chiang Mai
declaration) đã ra đời [127], bản tuyên ngôn đánh giá cao tầm quan trọng của thực
vật hoang dại hữu ích trong chăm sóc sứ
c khỏe ban đầu, giá trị kinh tế và tiềm năng
của cây cỏ đối với việc tìm ra các loại thực phẩm và thuốc mới. Đồng thời báo động
về việc mất tính đa dạng sinh vật cây cỏ và các nền văn hoá trên thế giới có thể ảnh
hưởng đến việc tìm kiếm loài hoang dại hữu ích mới mang lại lợi ích toàn cầu. Tuyên
ngôn Chiang Mai cũng chỉ ra sự cấp thiết cần h
ợp tác ở mức độ toàn cầu để thiết lập
các chương trình bảo tồn thực vật hoang dại hữu ích. Sau hội thảo, lần đầu tiên một

phẩm từ đa dạng sinh học và bản quyền tri thức cộng đồng [1]. Khái niệm về Quyền
sở hữu trí tuệ (IPR) được thừa nhận trong luật pháp quốc tế và được sự bảo vệ của
các đạo luật quốc gia khác nhau.
Tại Ấn Độ, việc trồng thực vậ
t hoang dại hữu ích được giới hạn ở các vườn
đơn lẻ trong các giai đoạn lịch sử trước đây. Việc trồng trọt một cách có hệ thống
được công ty Đông Ấn du nhập vào năm 1787. Năm 1930, chính phủ đã thành lập
chương trình trồng cây thuốc và cây có tinh dầu trên cơ sở khoa học, các loài được
trồng như Digiralis lanata, Hyoscyamus sp, Atropa belladona vv Sau ngày giành
được độc lập, chính phủ Ấn Độ đã thành lập nhi
ều tổ chức sử dụng và trồng các loại
thực vật hoang dại hữu íchchưa được khám phá trước đây. Hàng loạt tổ chức nhà
nước và cá nhân tham gia các chương trình nghiên cứu bảo tồn và trồng thực vật
hoang dại hữu ích như Viện nghiên cứu làm vườn, Trung tâm nghiên cứu quốc gia,
Hội đồng trung ương nghiên cứu các hệ thống y học Ấn Độ, Bộ nông lâm nghiệp,
các trường đại học nông nghi
ệp…vv Nghiên cứu trong vòng 40 năm cuối của thế
kỷ XX đã xác định được 144 loài thực vật hoang dại hữu ích có thể trồng trọt và tập
trung vào 40 loài thực vật hoang dại hữu ích cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp
dược[107].
Tại Trung Quốc, nhiều chương trình dài hạn đã được thiết lập nhằm bảo tồn
thực vật hoang dại hữu ích và nâng cao giá trị sử dụng của chúng thông qua trồng
trọt. Có khoảng 200 loài được trồng với diện tích trồng tăng từ 300.000 ha vào năm
1986 tăng lên 440.000 ha vào năm 1995 và cung cấp đến 40% nguyên liệu thô cho
công nghiệp chế biến nông lâm sản và dược liệu. Nhiều loài đã được trồng thành
công như: Glycyrrhiza uralensis; Rheum palmatum; Cistanche deserticola;
Dioscorea nipponica vv. Một số loài như Lithospermum erythrorhizon, Panax
quinquefolium, Corydalis yanhuosu, Scopolia tangutica vv. đã được nhân giống nhờ
công nghệ sinh học như nuôi cấy mô. Năm 1994 bộ atlas màu về thực vật hoang dại
hữu ích bả

hiện trồng khoảng 1.600 loài; VTV dân tộc (Mexico) được thành lập năm 1979 với
diện tích 4 ha; VTV và vườn cây gỗ Waimea (Hawai, Mỹ) tập trung trồng các mẫu
cây có nguồn gốc Hawai; VTV Devonia (Canada) thu thập và nghiên cứu các cây
được người bản địa sử dụng. Vườ
n thực vật hoang dại hữu ích cũng rất phổ biến tại
các nước Đông Âu, nơi có truyền thống sử dụng cây cỏ làm thuốc, như Liên Xô (cũ),
Bungari, Hungari, Séc, Ba Lan vv. [101]. Hiện có rất ít loài cây cỏ được sử dụng
trong các nền y học truyền thống được bảo tồn trong các ngân hàng hạt. Ngân hàng
gen Gatersleben (Đức) có khoảng 2.000 trong số 60.000 mẫu (acession) là thực vật
hoang dại hữu ích [101].
1.1.2. Tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích và việc b
ảo tồn ở Việt Nam
1.1.2.1. Tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích ở Việt Nam
Việt Nam có diện tích phần lục địa rộng 35 triệu ha, một phần gắn liền với lục
địa và một phần thông với đại dương, kéo dài từ bắc xuống nam hơn 1.650 km. Phân
bố từ vĩ độ 8
0
30' đến 23
0
2' bắc và từ kinh độ 102
0
10' đến 109
0
24' đông. Lãnh thổ
Việt Nam chịu sự chi phối về hoạt động địa chất của hai địa khối Indonesia (từ
Mường Tè, Điện Biên Phủ ở cực Tây bắc đến Trung bộ và Nam bộ) và Hoa Nam
14
(vùng Bắc bộ) [76]. Địa hình đa dạng và phức tạp với hai vùng đồng bằng lớn là
châu thổ Sông Hồng ở phía bắc và Sông Cửu long ở phía nam, có hai dãy núi lớn là
Hoàng liên sơn và Trường sơn với nhiều vùng có độ cao trên 2.000m và các cao

miền Trung và Tây Nguyên có quan hệ họ hàng với những dân cư đang sinh sống ở
Malaysia và Indonesia [25]. Các dân tộc sinh sống ở Việt Nam tạo nên một hình ảnh
thu nhỏ của khu vực Đông Nam Á. Mỗi dân tộc có ngôn ngữ phong tục, tập quán,
niềm tin và tri thức sử
dụng cây cỏ khác nhau.
Với điều kiện tự nhiên và xã hội như vậy, Việt Nam là một trong những quốc
gia có tính đa dạng sinh vật cao với khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao [33]. Cũng
như sự phong phú về tri thức sử dụng cây cỏ. Trong số đó có khoảng 6.000 loài cây
hoang dại hữu ích [17] được sử dụng làm thuốc, rau ăn, lấy gỗ, nhuộm.vv Khoảng
3.200 loài cây cỏ và nấm đã đượ
c ghi nhận là có giá trị hay có tiềm năng làm thuốc
15
[16]. Nguồn tài nguyên cây cỏ tập trung chủ yếu ở 6 trung tâm đa dạng sinh vật trong
cả nước là (i) Đông bắc, (ii) Hoàng Liên Sơn, (iii) Cúc Phương, (iv) Bạch Mã, (v)
Tây Nguyên, ( vi ) Cao nguyên Đà Lạt [19].
1.1.2.2. Hoạt động bảo tồn tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích ở Việt Nam
* Ban hành các chính sách và luật pháp liên quan:
Chính phủ Việt Nam đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ
thiên nhiên bằng việc ban hành nhiều luật lệ
và chính sách nhằm bảo vệ thiên nhiên
và môi trường như sắc lệnh bảo vệ rừng (1972), Chiến lược bảo tồn (1985), Kế
hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững giai đoạn 1991- 2000
(1991).vvv
Trong bối cảnh môi trường và nguồn tài nguyên sinh vật đang bị đe dọa trên
khắp thế giới, cần thiết phải xây dựng chiến lược và chương trình hành động ớ mức
toàn cầu, đị
nh hướng cho các quốc gia xây dựng chiến lược và kế hoạch hành động
riêng của mình. Sau hội nghị của Liên hiệp quốc về môi trường và phát triển ở Reo
de Janeiro (1992), nhà nước đã phê chuẩn "Công ước Đa dạng sinh học" (1994), xây
dựng "Kế hoạch hành động đa dạng sinh học của Việt Nam" (1995) [19].

cây trồng. [86] Cũng trong năm 2004 Quốc hội khóa 11 đã thông qua Luật Bảo vệ và
phát triển rừng (thay thế Luật ban hành năm 1991), sau đó Chính phủ đã ban hành
Nghị định số 23/2006/NĐ-CP về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng [20]. Luật
Đa dạng sinh học đã
được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa
XII, kỳ họp thứ tư, thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008, và có hiệu lực thi hành từ
ngày 01 tháng 7 năm 2009 [69] Đây là những văn bản pháp lý quan trọng đối với
công tác bảo tồn và phát triển các nguồn tài nguyên đa dạng sinh học nói chung,
cũng như đối với nguồn tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích tại Việt Nam.
Đã có 138 loài, thuộc 60 họ, 3 ngành thực vật b
ậc cao đã được xác định thuộc
diện quí hiếm hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau (dựa trên bộ
tiêu chuẩn phân hạng cũ của IUCN), trong đó có 23 loài thuộc diện nguy cấp (E), 21
loài sắp bị nguy cấp (V), 53 loài thuộc diện hiếm (R), 36 loài thuộc diện bị đe dọa
(T) và 5 loài chưa được biết đầy đủ; 102 loài thực vật hoang dại hữu ích đã đượ
c
pháp luật bảo vệ bằng cách đưa vào "Sách đỏ Việt Nam" (SĐVN) [7]; 60 loài đã
được bảo tồn bằng hình thức ex situ tại các VTV, vườn thực vật hoang dại hữu ích
trong nước [75].
Mặc dù vậy, công tác bảo tồn và phát triển tài nguyên thực vật hoang dại hữu
ích ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn xuất phát từ chính sách và luật pháp. Mối
quan hệ quản lý tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích giữa ngành với ngành, vớ
i
quản lý lãnh thổ chưa thoả đáng. Theo các văn bản, việc xác định nhu cầu dược liệu,
lập kế hoạch nuôi trồng hàng năm do ngành Y tế chịu trách nhiệm, nhưng công tác
điều tra cơ bản, trồng trọt lại do ngành Nông - Lâm nghiệp thực hiện. Thực vật
hoang dại hữu íchtồn tại và phát triền cùng với hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái nông
nghiệp và nông thôn trong khi đó rừng, đất rừng, đất nông nghi
ệp lại thuộc quyền
quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, của chính quyền tỉnh, thành

* Hoạt động bảo tồn tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích:
+ Bảo tồn nguyên vị :
Bảo tồn nguyên vị đã sớm được quan tâm ở Việt Nam bằng việc thành l
ập khu
Rừng cấm Cúc Phương từ năm 1962 và chính thức thành Vườn quốc gia Cúc
Phương vào năm 1966. Đến nay (tháng 8/2010) Việt Nam có 30 vườn quốc gia, 69
khu bảo tồn thiên nhiên, 45 khu bảo vệ cảnh quan VH-LS-MT, 20 Khu Rừng Nghiên
cứu thực nghiệm khoa học đã được thành lập ở các vùng sinh thái khác nhau trên
toàn quốc, với tổng diện tích khoảng 2.97 triệu ha, chiếm khoảng 9% diện tích lãnh
thổ [2].
Với chức năng bảo vệ nguyên vẹn các hệ sinh thái, thự
c vật hoang dại hữu ích
trong các VQG có thể an toàn hơn. Tuy nhiên các VQG và KBTTN mới quan tâm
18
bảo vệ tổng thể hệ sinh thái, chú trọng nhiều tới tầng cây gỗ, chưa chú ý đến các sản
phẩm rừng phi gỗ, nhiệm vụ bảo tồn thực vật hoang dại hữu ích chưa được đặt ra cụ
thể, tài nguyên thực vật hoang dại hữu íchchưa được khảo sát, kiểm kê đầy đủ, việc
kiểm soát và bảo vệ thực vật hoang dại hữu íchcòn bị xem nhẹ
[6].
Thực hiện "Kế hoạch hành động da dạng sinh học của Việt Nam", nhà nước
đã phê duyệt đề án "Xây dựng hệ thống quốc gia bảo tồn đa dạng sinh học nguồn cây
thuốc cổ truyền", do Viện Dược liệu chủ trì. Dự án đã được triển khai từ năm 1996
tại các địa phương là Vườn quốc gia Hoàng Liên Sơn - Sa Pa, Tam Đảo, Ba Vì, Bạch
Mã, Cát Tiên với nội dung là: (i) khảo sát, kiểm kê cây làm thu
ốc, xác định tình trạng
quí hiếm và tiến hành bảo tồn in situ, (ii) phối hợp xây dựng VTV trong vườn quốc
gia, (iii) khảo sát phương thức vừa bảo tồn vừa khai thác hợp lý và phát triển tài
nguyên cây thuốc [15].
Trong giai đoạn từ 1997-2000, dự án "Bảo tồn nguồn tài nguyên cây hoang dại
hữu ích ở Vườn quốc gia Tam Đảo” (do Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển cây thuốc

hoá (Asarum caudigerum), Hoàng liên gai (Berberis iulianae. B. wallichiana),
Hoàng đằng (Fibraurea tincroria), Sâm vũ diệp (Panax bipinnatifidus), Tam thất
hoang (Panax stipuleanatus), Hoàng tinh vòng (polygonatum kingianum), Ba gạc
(Rauvolfia verticillata), Thông thảo (Tetrapanax papyriferus), Các loài này có triển
vọng đưa vào bảo tồn ex situ [15],[74].
Bảo tồn tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích ngoài các khu vực được bảo vệ
(Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên) cũng đã được thực hiện bước đầu trong dự
án "Bảo tồn đa dạng sinh vậ
t rừng Ở Phú Lương - Thái Nguyên" thời gian từ 1997-
1999 (do Hiệp hội nghiên cứu và Hỗ trợ môi trường Australia (AREA) và CREDEP,
Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên thực hiện), Dự án đã tiến hành kiểm kê thực
vật hoang dại hữu ích và nghiên cứu giâm hom 14 loài cây thuốc và thực phẩm.
Nhìn chung, công tác bảo tồn tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích đã được
quan tâm sớm ở Việt Nam nhưng còn lẻ tẻ ở các cơ quan và đơn vị nghiên cứu khác
nhau. Trong công tác quản lý, việc ban hành, triển khai, cụ thể hoá các văn bản còn
chậm, kể cả trong việc triển khai các công ước quốc tế đã được ký kết: chưa có sự
phối hợp chặt chẽ giữa các ngành và chỉ đạo thống nhất, mối quan hệ giữa ngành y
tế, nông nghiệp và lâm nghiệp mới tồn tại trên văn bản. Về phương pháp luận và
cách tiếp cận, hầu hết các hoạt
động bảo tồn mới tập trung vào một số vấn đề của
khía cạnh tự nhiên như đa dạng sinh vật, tư liệu hoá.vv Trong khi đó còn ít nghiên
cứu về điều kiện sinh thái, trữ lượng, khả năng gây trồng, tri thức bản địa vv của
các loài cây hoang dại làm thực phẩm và làm thuốc, chưa quan tâm đến các khía
cạnh xã hội, nhân văn, chưa huy động được sự tham gia của các cộng đồ
ng. Phương
pháp nghiên cứu còn đang được các cơ quan nghiên cứu, các trường đại học tìm tòi
và thử nghiệm.
1.2. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ THỰC VẬT HOANG DẠI HỮU ÍCH
1.2.1 Nghiên cứu ở nước ngoài
Hội nghị môi trường và phát triển của Liên hợp quốc (UNCED), họp tại Rio

Trung Quốc, Thuỵ Điển, Australia, Pháp, Ấn Độ, Malaysia, Indonesia, Nhật Bản,
Công Gô vv… đặc biệt từ khi con người tổng hợp được các chất điều hoà sinh
trưởng nhân tạo [80], [81], [90].
Ở Liên Xô (cũ) việc nhân giống bằng hom đã được tiến hành trên 50 năm
trước, đã thí nghiệm nhân giống 260.000 hom của 240 loài cây thuộc 55 họ
, 111 chi
trong đó có 47 loài lá kim, 113 loài lá rộng cho các loài cây rừng, cây làm cảnh, làm
thuốc, cây công nghiệp và cây ăn quả. Tại Thụy Điển, hàng năm công ty Hylles hog
sản xuất 4.000.000 cây hom Vân sam. Năm l993 vườn ươm Toolara tại bang
Quensland (Australia), sản xuất 700.000 cây hom thông lai. Nhật Bản hàng năm sản
xuất 49 triệu hom cây Lãnh sam. Ở Trung Quốc, chi riêng với nghiên cứu sản xuất
chế phẩm ABT, người ta đã nghiên cứu thực nghiệm 1.270 loài cây gỗ, cây ăn quả,
21
cây hoa, cây nông nghiệp, thực vật có ích vv… Riêng Quảng Đông (Trung Quốc) có
4 xưởng sản xuất cây bằng hom, trong đó có 3 xưởng cấp huyện, đạt công suất 1
triệu cây/năm [83]. Tại Malaysia, 75 loài cây họ Quả hai cánh đã được nhân giống
bằng hom. Tại Thái Lan, 1 ha vườn giống Sao đen 5 tuổi có thể sản xuất 200.000 cây
hom đủ trồng 400-500 ha rừng [57].
1.2.1.2. Một số nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng
Khi nghiên cứu và thử nghiệm các kỹ thu
ật gây trồng đối với các loài thực vật
hoang dại hữu ích bản địa, các nhà nghiên cứu thường phải quan tâm tìm hiểu rất kỹ
về đặc điểm sinh thái nơi phân bố của loài cây đó trong tự nhiên, nghiên cứu đặc
điểm sinh trưởng và phát triển của nó tương ứng với sự biến động các yếu tố sinh
thái trong điều kiện cụ thể ngoài thực địa. Với nhiều loài th
ực vật nhiệt đới, các yếu
tố sinh thái chi phối quan trọng có thể kể đến như: ánh sáng, nhiệt độ, ẩm độ không
khí, tính chất đất đai (hàm lượng các yếu tố dinh dưỡng, độ dày tầng đất, thành phần
cơ giới đất, độ pH, mùn, ẩm độ đất… ). Đây chính là cơ sở khoa học quyết định
thành công của các nghiên cứu vườn hóa thực vật hoang dại hữu ích bản đị

phát triển của củ. Còn trong điều kiện ngày dài sẽ làm tăng số lượng củ, thuận lợi
cho sự phát triển cành lá nhưng không thuận lợi cho củ lớn lên. Trong điều kiện thiếu
ánh sáng không ảnh hưởng đến sự ra lá của chuối nhưng nếu thiếu hoàn toàn phiến lá
có màu trắng nhạt, bẹ lá vươn dài nhanh. Điều kiện trong vườn chuối thiếu ánh sáng
cây sẽ
vươn cao, nếu cường độ ánh sáng quá mạnh và đột ngột sẽ làm bỏng chỗ cong
của cổ buồng và quả chuối.[36]
Theo kết quả nghiên cứu của (V.A.A. lecxcếp, 1973) [36] đã cho thấy khi tuổi
lớp cây tái sinh tăng lên thì nhu cầu ánh sáng của nó cũng tăng theo. Các loại cây ưa
sáng yêu cầu ánh sáng lớn hơn, tái sinh của các loại cây này sẽ chết ở điều kiện ánh
sáng 10 - 12% ở tuổi nhỏ (dưới 2 tuổi) và đ
iều kiện ánh sáng 25 - 30% ở tuổi lớn hơn
(5-10 tuổi).
Thực tế đã chứng minh những cây mọc lẻ hoặc mọc ở bìa rừng sẽ ra hoa kết
quả sớm hơn, số lượng và chất lượng hạt quả cao hơn. Ngay ở trên cùng một cây
cũng vậy ở phần phía trên tán thường cho quả hoa nhiều và tốt hơn (to nặng và chín
đều). Do ánh sáng kìm hãm sự nảy mầm của hạt nên có n
ơi người ta đã cất trữ hạt
bằng cách dùng ánh sáng mạnh để giảm khả năng nảy mầm của hạt trong mỗi giới
hạn thời gian nhất định (Vũ Trung Tạng, 2003) [73].
Từ những nhận thức về tầm quan trọng của các loài thực vật hoang dại hữu
ích bản địa, nên chúng đã được chú ý phát triển trong các chiến lược phát triển ở
nhiều Quốc gia như Trung qu
ốc, Ấn Độ, Pêru, Indonesia,… và đã có rất nhiều công
trình nghiên cứu được thực hiện ở nhiều nước đặc biệt là các nước có nguồn tài
nguyên rừng nhiệt đới để làm cơ sở cho việc định hướng phát triển trong tương lai.
Tuy nhiên, các công trình tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực như phân loại, đánh giá
vai trò, giá trị kinh tế, xã hội và môi trường, công dụng, kỹ thuật gây trồng, thị
trường,…. như các công trình của Mendelsohn (1989); Heinzman (1990); Falconer
(1993)… Đa số các công trình đều khẳng định các loài thực vật hoang dại hữu ích

(Daemonrops) có 4 loài; chi phướn (Korthalsia) có 2 loài; chi mây rúp (Myriapis) có
1 loài; chi song lá bạc (Plectocomia) có 2 loài và chim song voi (Plecomomiopsis) có
1 loài. Ngoài ra tác giả và các cộng sự [21] đã đưa ra định nghĩa, phân loại các loài
thực vật hoang dại hữu ích bản địa, giới thiệu về một số nhóm các loài thực vật
hoang dại hữu ích bản địa có giá trị ở Việt Nam, tổ
chức và quản lý các loài thực vật
hoang dại hữu ích bản địa, những thuận lợi, khó khăn trong quá trình phát triển các
loài thực vật hoang dại hữu ích bản địa
Theo Triệu Văn Hùng và cộng sự (2007) [40] ở Việt Nam có thể có đến 200
loài tre trúc, bước đầu xác định có 22 chi với 122 loài đã được giảm định tên, trong
đó có rất nhiều loài có giá trị sử dụng và kinh tế cao cần được nghiên cứu phát triển.
24
Tác giả đã giới thiệu 40 loài tre trúc thông dụng về phân bổ, đặc điểm hình thái, sinh
thái và công dụng để làm cơ sở tham khảo cho nghiên cứu và sản xuất.
Nguyễn Hoàng Nghĩa (2001) [57] cũng đã mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái
phân bổ và công dụng của 194 loài tre ở Việt Nam và 3 giống: Bát độ, Điềm trúc và
Tạp giao có xuất xứ từ Trung Quốc.
Triệu Văn Hùng cùng các tác giả khác (2007) [40], đã mô tả hình thái, phân
bố, công dụng, k
ỹ thuật gây trồng, thu hoạch, chế biến và bảo quản của 299 loài thực
vật hoang dại hữu ích bản địa. Trong đó phân ra thành 6 nhóm: Nhóm cây có sợi (35
loài tre nứa, 2 loài mây và 8 loài khác); Nhóm cây làm thực phẩm (40 loài cây ăn
được, 12 loài nấm); Nhóm thực vật làm thuốc (76 loài); Nhóm cây cho dầu nhựa (60
loài); Nhóm Tanin, thuốc nhuộm (19 loài); Nhóm cây bóng mát (23 loài cây hoa, 13
loài cây cảnh, 11 loài cây cảnh và cây bóng mát thân gỗ).
1.2.2.2. Nghiên cứu về nhân giống
Ở Việt Nam, nhân giống bằng hom cây lâm nghiệp và cây ăn quả một cách có
hệ thống mới đượ
c tiến hành vài thập kỷ nay tại hầu hết các trường đại học, viện
nghiên cứu, trung tâm nghiên cứu, cơ sở sản xuất, vườn quốc gia vv Từ những

các chất kích thích ra rễ. Việc nhân giống thường được thực hiện trực tiếp trong điều
kiện thường, mà chưa qua hệ thống vườn ươm với các kỹ thuật phức tạp.
Đỗ Tất Lợi đã nghiên cứu trồng Bạc hà (Mentha arvensis) bằng cành có tuổi
45 ngày sau khi trồng, với chiều dài hom 15-20cm. Hom có thể đượ
c xử lý bằng
2.4D với nồng độ 1/10.000 [52]. Trạm Nghiên cứu Dược liệu Hải Hưng đã nghiên
cứu nhân giống cây Cam thảo Hungari bằng phương pháp nhân giống vô tính có sử
dụng hormon kích thích sự nảy mầm [79].
Nhằm mục đích bảo tồn, Tạ Quang Nhiệm và cs, đã thăm dò khả năng nhân
giống bằng hom cây Ba gạc bốn lá (Rauvolfia vomitoria) Ở Phú Thọ, với các hom
dài 40-50cm, vùi xuống đất sâu 20-25cm. Kết quả cho thấy các hom có khả n
ăng ra
rễ và nẩy chồi nhưng tỷ lệ sống ít (< 10% ), các hom ngắn hơn, dài từ 10-20cm
không có khả năng ra rễ [60].
Phạm Duy Hùng và cs, đã thăm dò phương pháp giâm cành và rễ cây Ba gạc
hoa đỏ (Rauvolfia serpentina), có sử dụng chất kích thích ra rê. Kết quả cho thấy các
cành giâm đều chết và không ra rễ, trong khi đó các hom rễ có khả năng ra rễ tốt khi
không sử dụng chất kích thích ra rễ [38].
* Giai đoạn từ thập kỷ 90 của th
ế kỷ XX đến nay
Việc nghiên cứu nhân giống bằng hom thực vật hoang dại hữu ích được thực
hiện có hệ thống hơn trong các hệ thống vườn ươm hoàn thiện của ngành lâm
nghiệp, hay tự xây dựng theo các mô hình khác nhau. Kỹ thuật cắt hom, xử lý và duy
trì hom cũng được phát triển ở mức cao hơn. Nhiều loài đã được nghiên cứu nhân
giống bằng hom thành công. Mặc dù vậy, hầu hết các nghiên cứu mới ch
ỉ ở qui mô
thí nghiệm hay thử nghiệm trong địa phương hẹp.
Ngô Thị Minh Duyên đã nghiên cứu giâm hom cây Quế (Cinnamomum
cassia) sử dụng chế phẩm kích thích ra rễ ABT1 dạng bột và dung dịch, kết quả cho
tỷ lệ ra rễ 66.7% với dung dịch ABT1 và 86.7% với ABT1 dạng bột 1%, so với tỷ lệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status