Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái học và biện pháp kỹ thuật trồng cây bò khai (erythropalum scandens blume) tại tỉnh thái nguyên, bắc kạn - Pdf 22

1
MỞ ĐẦU
Tổ chức Quĩ thiên nhiên toàn thế giới (WWF) đã ước tính: trên thế
giới có
khoảng 35.000 - 70.000 loài trong số 250.000 - 270.000 loài cây cỏ được sử
dụng
vào mục đích làm thực phẩm và chữa bệnh [128]. Kho tàng nguồn tài
nguyên thực
vật vô giá này đã và đang được các cộng đồng khác nhau trên thế giới khai
thác và sử
dụng thường xuyên, nguồn lợi từ thực vật đã góp phần lớn trong công cuộc
phát triển
kinh tế của các quốc gia trên thế giới.
Tuy nhiên, nguồn tài nguyên cây hoang dại hữu ích (useful wild
plants -
UWP) [121] hiện đang bị đe dọa do thảm thực vật tự nhiên bị tàn phá, bị
khai thác
quá mức và bị sử dụng một cách lãng phí, tri thức về khai thác, sử dụng và
bảo tồn
các loài cây hữu ích bản địa bị mai một do không được tư liệu hoá, thế hệ
trẻ ở nhiều
cộng đồng ít quan tâm đến học tập kinh nghiệm của thế hệ trước,vv Ngày
nay,
nhiều cây hoang dại hữu ích đang đối mặt với nguy cơ bị tuyệt chủng nhưng
lại có
rất ít nỗ lực bảo tồn. Trong khi đó các nỗ lực lại tập trung quá nhiều vào
việc khám
phá các loài có ích mới [13].
Do đặc điểm về vị trí địa lý, điều kiện khí hậu và cấu trúc địa hình đa
dạng
nên Việt Nam là một trong những quốc gia có hệ động thực vật rất phong

đồng liên quan đến sử dụng, bảo tồn và phát triển các loài cây đó. Do đó
việc phát
triển hệ thống phương pháp luận, cách tiếp cận và kỹ thuật thích hợp nhằm
quản lý,
2
bảo tồn. sử dụng và phát triển bền vững nguồn tài nguyên cây hoang dại hữu ích
trong tình hình mới ở Việt Nam là việc làm hết sức cấp thiết.
Một trong những lợi ích quan trọng của thực vật bản địa đối với con người là
cung cấp nguồn thức ăn tại chỗ như rau xanh, củ, quả vv. Đây là một phần không
thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của con người. Khoa học dinh dưỡng đã phân tích
và xác định trong rau quả hầu hết các chất dinh dưỡng cần thiết cho con người [4].
Ăn nhiều rau, quả giúp cơ thể tránh được các bệnh về tim, đột qụy, ổn định huyết áp
và ngăn ngừa một số bệnh ung thư… Một chế độ ăn uống khoa học, và an toàn thì
không thể thiếu rau xanh và các loại hoa quả trong mỗi bữa ăn [27].
Do vậy việc nghiên cứu phát triển nghề trồng rau luôn là hướng đi đúng đắn
trong phát triển nông nghiệp. Chính phủ Việt Nam đã có nhiều chính sách, chương
trình hỗ trợ phát triển nghề trồng rau trên địa bàn toàn quốc như các chương trình sản
xuất rau, quả an toàn…cùng với đó là chiến lược đầu tư nghiên cứu phát triển sản
xuất các loại rau bản địa đặc sản tại các vùng, địa phương trên cả nước, như dự án”
Liên kết để đa dạng hoá thu nhập từ các cây trồng ít sử dụng”, chương trình bảo tồn
và phát triển cây rau bản địa như cây rau sắng tại vườn quốc gia Xuân Sơn [88]…
Tại khu vực các tỉnh miền núi phía Bắc, gần đây cây rau Bò khai được biết
đến như một loài rau xanh sạch, ngon và có nhiều giá trị. Cây Bò khai có tên khoa
học là Erythropalum scandens Blume [94], là một loại dây leo có tua cuốn, chúng
thường mọc ven các rừng thứ sinh hoặc rừng đang phục hồi. Loài rau này vừa có tác
dụng làm thực phẩm - thức ăn, vừa có tác dụng làm thuốc chữa bệnh, và còn được
đánh giá là một loại thực phẩm chức năng quý. Theo Tạ Minh Hoà - Trung tâm
nghiên cứu Lâm đặc sản Việt Nam [35]: Rau Bò khai là loại thực phẩm có giá trị
dinh dưỡng cao, gồm các thành phần chủ yếu sau (tính trong 100g lá non): nước
78,8g; Protein 06g; Gluxit 6,1g; Xơ 7,5g; tro 1,6g; can xi 138mg; phốt pho 40,7 mg;

quan đến cây Bò khai.
- Xác định một số đặc điểm sinh thái học của cây Bò khai, làm cơ sở cho định
hướng phát triển sản xuất loài cây này.
- Xác định được một số biện pháp kỹ thuật nhân giống và gây trồng cây Bò
khai theo hướng thâm canh.
* Ý NGHĨA CỦA LUẬN ÁN
- Bổ sung phương pháp luận trong việc nghiên cứu bảo tồn nguồn gen cây
hoang dại và khai thác tiềm năng kinh tế của tài nguyên đa dạng sinh học.
- Góp phần phát triển cây Bò khai trở thành loại thực phẩm chức năng sạch
được dùng phổ biến hơn, đáp ứng nhu cầu của người dân, góp phần nâng cao thu nhập
và xoá đói giảm nghèo.
- Những kết quả của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu,
giảng dạy cho các nhà định hướng chiến lược phát triển cây rau, các nhà khoa học,
4
các cán bộ kỹ thuật nông nghiệp, học sinh, sinh viên, nông dân về đặc tính sinh thái
học, kỹ thuật gây trồng theo hướng thâm canh cây Bò khai.
* NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
- Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu các kiến thức bản địa về sự phân
bố, tình hình khai thác và sử dụng cây Bò khai (Erythropalum Scandens Blume) tại
tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn.
- Là công trình đầu tiên nghiên cứu các đặc điểm sinh thái tự nhiên của cây
Bò khai làm cơ sở cho việc định hướng bảo tồn và phát triển loài cây này.
- Là Công trình nghiên cứu một cách hệ thống về kỹ thuật nhân giống và
trồng trọt cây Bò khai. Từ đó bổ sung và hoàn thiện một số biện pháp kỹ thuật nhằm
phát triển loài rau bản địa tiềm năng này trong sản xuất nông lâm nghiệp.
5
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN
1.1. CÁC VẤN ĐỀ VỀ BẢO TỒN TÀI NGUYÊN THỰC VẬT HOANG DẠI
HỮU ÍCH

6
trên 10.000 loài [119]. Ấn Độ có khoảng 7.500 - 8.000 loài [97], [113], Indonesia có
khoảng 7.500 loài, Malaysia có khoảng 2.000 loài [82]. Nepal có hơn 700 loài [114].
Sri Lanca có khoảng 550 - 700 loài [110]. Hàn Quốc có khoảng 1.000 loài có thể sử
dụng được trong y học truyền thống [109]. Châu Mỹ La tinh, nơi có chứa lới 1/3 số
loài thực vật trên thế giới, cũng có truyền thống sử dụng cây cỏ bản địa thực phẩm và
làm thuốc chữa bệnh, đặc biệt là ở người dân bản địa Schule đã phát hiện gần 2.000
loài thực vật hoang dại hữu ích được sử dụng ở vùng Amazon thuộc Colombia. Các
quốc gia ở Châu Phi có số loài thực vật hoang dại hữu ích ít hơn như Somalia có 200
loài [114]. Botswana có 314 loài [104].
Các nghiên cứu khảo cổ cho thấy người Neanderthal có ở Iraq từ 60.000 năm
trước đã biết sử dụng một số cây cỏ mà ngày nay vẫn thấy sử dụng trong y học cổ
truyền như Cỏ thi (Achillea), Cúc bạc (Chrysanthemum sinense Sabine) vv. Người
dân bản xứ Mehico từ nhiều nghìn năm trước đã biết sử dụng Xương rồng Mehico
(Opuntia. Spp) mà ngày nay được biết là chứa chất gây ảo giác, kháng khuẩn [122].
Mức độ sử dụng thực vật hoang dại hữu ích ở các nước công nghiệp ngày
càng tăng. Ngày nay, có khoảng 40% dân số ở các nước công nghiệp phát triển sử
dụng các dạng thuốc bổ sung [100]. Tổng giá trị thuốc có nguồn gốc cây cỏ trên thị
trường châu Âu, Mỹ và Nhật Bản vào năm 1985 là 43 tỉ USD [92].
Tonga Noweg và cộng sự (2003)[123] nghiên cứu những loài cây làm rau lấy
từ rừng của các cộng đồng trong khu vực Vườn quốc gia Crocker Range, Sabah,
Malaysia cho thấy có đến 70,6% cộng đồng dân cư có lấy các loài rau từ rừng, 82%
phụ nữ tham gia lấy các loại rau rừng phục vụ cho gia đình 18% vừa lấy để dùng vừa
đem bán ở các chợ địa phương.
Tugba Bayrak Ozbucak và cộng sự (2006) [126] đã nghiên cứu phân bố các
loài cây ăn được ở vùng biển đen Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy các loài cây ăn được rất phổ
biến và được dân cư vùng này sử dụng thường xuyên, thống kê được có 52 loài cây
ăn được thuộc trong 26 họ. Họ có số loài nhiều nhất là họ Lamiaceae (10 loài), tiếp
theo là các họ Asteraceae (5loài), Apiaceae và Boraginaceae (4 loài), Liliaceae (3
loài), Orchidaceae và Polygonaceae (2 loài).

Trung Quốc và 95% loài cây thuốc ở Ấn Độ được khai thác từ hoang dại. Việc khai
thác quá mức tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích gây ra bởi áp lực tăng dân số và
nhu cầu cuộc sống ngày càng tăng, không những cho nhu cầu trong nước mà còn để
xuất khẩu. Điều này dẫn đến lượng tài nguyên tái sinh không bù đắp được lượng bị
mất đi.
Lãng phí tài nguyên thực vật có ích: Gây ra bởi (i) thói quen sử dụng hoang
phí, (ii) hoạt động thu hái mang tính chất hủy diệt, (iii) điều kiện bảo quản kém, (iv)
thiếu các phương tiện vận chuyển và thị trường thích hợp [110] .
8
Nhu cầu sử dụng thực vật hoang dại hữu ích tăng lên: Việc sử dụng cây cỏ làm
thuốc ở nhiều nước tăng lên do chính sách khuyến khích phát triển các nền y học truyền
thống [107].
Khai thác không có kế hoạch.
Thay đổi cơ cấu cây trồng.
Tri thức sử dụng không được tư liệu hoá: Hầu hết tri thức sử dụng cây cỏ làm
thuốc của các cộng đồng truyền thống được truyền miệng từ đời này sang đời khác
hay từ người dạy sang người học nghề. Ngày nay, do nhu cầu phát triển kinh tế, một
bộ phận thế hệ trẻ không quan tâm đến việc thừa kế tri thức sử dụng cây cỏ làm
thuốc từ thế hệ trước [127].
Sự sụp đổ và mất các nền văn hoá truyền thống.
* Quan điểm và cách tiếp cận trong bảo tồn tài nguyên thực vật có ích
Trước hội nghị Chiang Mai (1988) các quan điểm, cách tiếp cận và nội dung
công tác bảo tồn thực vật hoang dại hữu ích đã được nhiều nhà chuyên môn trên thế
giới xây dựng và phát triển, nhưng còn tản mạn và chưa có hệ thống. O. Hamann cho
rằng để bảo tồn thực vật hoang dại hữu íchcần nắm vững về phân bố, hiện trạng của
chúng để thiết lập các khu bảo tồn nguyên vị và chuyển vị. Theo O. Akerel, bảo tồn
tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích ở các quốc gia chính là sự nhận biết và bảo tồn
giá trị sử dụng của chúng trong các nền văn hóa ẩm thực và y học truyền thống [92].
Sau hội nghị Chiang Mai, tổ chức y tế thế giới (WHO) phối hợp với tổ chức
bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) và quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới (WWF) lần

chúng.
- Nghiên cứu và phát triển trồng thực vật hoang dại hữu ích, bao gồm: (i) thiết
lập các vườn ươm thực vật hoang dại hữu ích, (ii) cải thiện mặt nông học các loài
thực vật hoang dại hữu ích được trồng và trồng các loài thực vật hoang dại hữu ích
có nhu cầu nhưng chưa được trồng trước đây, (iii) chọn tạo các giống thực vật hoang
dại hữu ích thuần chủng, có năng suất và chất lượng cao, (iv) hạn chế sử dụng thuốc
hóa học trong trồng thực vật hoang dại hữu ích, (v) đào tạo và cung cấp thông tin về
kỹ thuật trồng trọt thực vật hoang dại hữu ích, đặc biệt là cho cộng đồng.
- Cải tiến kỹ thuật thu hái, bảo quản, sử dụng và sản xuất hàng hóa.
(3) Bảo tồn, bao gồm:
- Bảo tồn nguyên vị (In situ): Xây dựng các khu bảo tồn chính thức của nhà
nước như các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên.vv hay duy trì, khôi phục các
khu vực được bảo vệ không chính thức của các cộng đồng.
Nội dung hoạt động bao gồm: (i) xây dựng chính sách quốc gia về bảo tồn và
sử dụng thực vật hoang dại hữu ích ở các khu vực được bảo vệ. (ii) đánh giá phạm vi
bao gồm các loài thực vật hoang dại hữu ích trong hệ thống các khu vực được bảo vệ
trong toàn quốc (iii) xác định các động cơ kinh tế và xã hội thúc đẩy việc duy trì các
10
nơi sống tự nhiên và các loài hoang dại, (iv) bảo đảm hoạt động bảo tồn và khai thác
thực vật hoang dại hữu ích được kết hợp chặt chẽ trong kế hoạch quản lý, (v) trồng
lại các loài thực vật hoang dại hữu ích bị thu hái quá mức vào các khu vực nguyên
sản của chúng.
Bảo tồn chuyển vị (Ex situ): Được thực hiện tại các vườn thực vật (VTV),
vườn sưu tầm, ngân hàng hạt, nhà kính vv Bảo tồn chuyển vị có thể bao hàm cả
việc trồng trọt không chính thức các loài cây hoang dại ở các vườn ươm, vườn gia
đình hay VTV cộng đồng.
Nội dung bảo tồn chuyển vị bao gồm: (i) thiết lập VTV hoạt động, (ii) thiết lập
ngân hàng hạt thực vật hoang dại hữu ích bản địa và được trồng trong nước, hay (iii) sử
dụng các giải pháp khác như ngân hàng trên đồng ruộng (Field Genebank), ngân hàng
gen in vitro.

hưởng đến việc tìm kiếm loài hoang dại hữu ích mới mang lại lợi ích toàn cầu. Tuyên
ngôn Chiang Mai cũng chỉ ra sự cấp thiết cần hợp tác ở mức độ toàn cầu để thiết lập
các chương trình bảo tồn thực vật hoang dại hữu ích. Sau hội thảo, lần đầu tiên một
bản hướng dẫn bảo tồn tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích trên thế giới đã ra đời.
Theo WB, trong số tất cả tri thức truyền thống ở châu Phi, châu Á và châu Mỹ
Latin thì tri thức truyền thống về y học là dễ bị đe doạ nhất. Tri thức này đang bị mất
có lẽ với tốc độ nhanh hơn các di sản trí tuệ bản địa khác [107]. Ước tính trên thế
giới có ít nhất 1.000 loài thực vật hoang dại hữu ích đang đối mặt với nguy cơ bị
tuyệt chủng trong đó có khoảng 120 loài ở Ấn Độ [107], 77 loài Ở Trung Quốc, 75
loài ở Maroco, 61 loài ở Thái Lan [116], 35 loài ở Bangladesh [105] vv Các loài
đang đối mặt với nguy cơ bị tuyệt chủng có thể kể đến là Noratodytesfoetida ở nam
Ấn Độ và Sri Lanka, được dùng làm thuốc chống ung thư ở châu âu: Saussurea
lappa ở Ấn Độ, được dùng làm thuốc trị các chứng rối loạn da mãn tính: Fritillaria
cirrhosa ở Trung Quốc, được dùng chữa viêm nhiễm đường hô hấp [110]: Coptis
teeta ở Ấn Độ được khai thác hàng chục tấn bán sang các nước Đông Á trước đây
[93].vv
Nhằm bảo tồn các nguồn đa dạng sinh vật cũng như tạo ra và duy trì mối quan
hệ hợp tác, bảo vệ quyền lợi của các quốc gia trong việc bảo tồn và phát triển các
nguồn lợi đa dạng sinh vật, đã có 3 công ước toàn cầu được ký kết là Công ước đa
dạng sinh học (CBD), Công ước về chống buôn bán các loài động thực vật có nguy
cơ bị tiêu diệt (CITES), Công ước Ramsa về bảo vệ đất ngập nước và chim di cư.
Với công ước CBD, lần đầu tiên thế giới đã chuyển các nguồn tài nguyên sinh học từ
một di sản chung của nhân loại thành tài sản quốc gia. Mặc dù vậy, hoạt động bảo
tồn đa dạng sinh học (trong đó có thực vật hoang dại hữu ích) đang gặp phải mối
thách thức kép là: (i) mối thách thức của bản thân việc bảo tồn đa dạng sinh học, (ii)
bảo vệ tri thức truyền thống về sử dụng các nguồn tài nguyên khỏi sự khai thác mang
12
tính chất thương mại trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế, (iii) phát triển các sản
phẩm từ đa dạng sinh học và bản quyền tri thức cộng đồng [1]. Khái niệm về Quyền
sở hữu trí tuệ (IPR) được thừa nhận trong luật pháp quốc tế và được sự bảo vệ của

trong tương lai [107]. Trên toàn thế giới, có khoảng 1.500 VTV đã được Xây dựng,
13
trong đó có 152 vườn của 33 quốc gia chuyên trồng thực vật hoang dại hữu ích hay
trồng thực vật làm thuốc kết hợp với các loài cây kinh tế khác. Các quốc gia có nhiều
vườn thực vật hoang dại hữu ích hay các vườn có bộ sưu tầm thực vật hoang dại hữu
ích là Liên Xô (cũ) (31 vườn), Nhật Bản (26), Mỹ (13), Ba Lan (10), Pháp (10), Ấn
Độ (6) Trung Quốc (5), Italia (5) vv.[101].
Tại Ấn Độ, một "Mạng lưới phân phối cơ sở dữ liệu thực vật có ích" đã được
thành lập với sự đóng góp thông tin của 9 tổ chức "nút". Mạng lưới này đã thu thập,
bảo tồn, nhân giống và sử dụng hơn 8.000 loài thực vật hoang dại hữu ích trong 48
cơ sở bảo tồn nguyên vị và chuyển vị [107].
Tại Trung Quốc, đã có khoảng 50 loài thực vật hoang dại hữu ích thuộc diện
quí hiếm được thu thập và trồng trong các VTV và vườn cây thuốc. Một số VTV
đáng lưu ý là VTV Quảng Tây thành lập năm l959, rộng 240 ha, hiện trồng lưu trữ
2.400 loài; Vườn thực vật Bắc Kinh của Viện Phát triển thực vật hoang dại hữu ích,
có 1.300 loài; VTV Nam Ninh (Quảng Tây), trồng 800 loài [56]. Việc nghiên cứu
thành công quá trình trồng và lưu giữ đã dẫn đến kết quả là nhiều thực vật hoang dại
hữu ích được phát triển ở các địa phương.
Các VTV có trồng thực vật hoang dại hữu ích khác trên thế giới có thể kể đến
là Vườn thực vật hoang dại hữu ích ở Tokyo (Nhật Bản) được thành lập năm 1945
hiện trồng khoảng 1.600 loài; VTV dân tộc (Mexico) được thành lập năm 1979 với
diện tích 4 ha; VTV và vườn cây gỗ Waimea (Hawai, Mỹ) tập trung trồng các mẫu
cây có nguồn gốc Hawai; VTV Devonia (Canada) thu thập và nghiên cứu các cây
được người bản địa sử dụng. Vườn thực vật hoang dại hữu ích cũng rất phổ biến tại
các nước Đông Âu, nơi có truyền thống sử dụng cây cỏ làm thuốc, như Liên Xô (cũ),
Bungari, Hungari, Séc, Ba Lan vv. [101]. Hiện có rất ít loài cây cỏ được sử dụng
trong các nền y học truyền thống được bảo tồn trong các ngân hàng hạt. Ngân hàng
gen Gatersleben (Đức) có khoảng 2.000 trong số 60.000 mẫu (acession) là thực vật
hoang dại hữu ích [101].
1.1.2. Tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích và việc bảo tồn ở Việt Nam

sống ớ miền Trung và miền Nam thuộc nhánh ngôn ngữ Môn-khmer có bà con sinh
sống ở Lào, Campuchia, Thái Lan vv Nhóm các dân tộc sinh sống dọc ven biển
miền Trung và Tây Nguyên có quan hệ họ hàng với những dân cư đang sinh sống ở
Malaysia và Indonesia [25]. Các dân tộc sinh sống ở Việt Nam tạo nên một hình ảnh
thu nhỏ của khu vực Đông Nam Á. Mỗi dân tộc có ngôn ngữ phong tục, tập quán,
niềm tin và tri thức sử dụng cây cỏ khác nhau.
Với điều kiện tự nhiên và xã hội như vậy, Việt Nam là một trong những quốc
gia có tính đa dạng sinh vật cao với khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao [33]. Cũng
như sự phong phú về tri thức sử dụng cây cỏ. Trong số đó có khoảng 6.000 loài cây
hoang dại hữu ích [17] được sử dụng làm thuốc, rau ăn, lấy gỗ, nhuộm.vv Khoảng
3.200 loài cây cỏ và nấm đã được ghi nhận là có giá trị hay có tiềm năng làm thuốc
15
[16]. Nguồn tài nguyên cây cỏ tập trung chủ yếu ở 6 trung tâm đa dạng sinh vật trong
cả nước là (i) Đông bắc, (ii) Hoàng Liên Sơn, (iii) Cúc Phương, (iv) Bạch Mã, (v)
Tây Nguyên, ( vi ) Cao nguyên Đà Lạt [19].
1.1.2.2. Hoạt động bảo tồn tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích ở Việt Nam
* Ban hành các chính sách và luật pháp liên quan:
Chính phủ Việt Nam đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ
thiên nhiên bằng việc ban hành nhiều luật lệ và chính sách nhằm bảo vệ thiên nhiên
và môi trường như sắc lệnh bảo vệ rừng (1972), Chiến lược bảo tồn (1985), Kế
hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững giai đoạn 1991- 2000
(1991).vvv
Trong bối cảnh môi trường và nguồn tài nguyên sinh vật đang bị đe dọa trên
khắp thế giới, cần thiết phải xây dựng chiến lược và chương trình hành động ớ mức
toàn cầu, định hướng cho các quốc gia xây dựng chiến lược và kế hoạch hành động
riêng của mình. Sau hội nghị của Liên hiệp quốc về môi trường và phát triển ở Reo
de Janeiro (1992), nhà nước đã phê chuẩn "Công ước Đa dạng sinh học" (1994), xây
dựng "Kế hoạch hành động đa dạng sinh học của Việt Nam" (1995) [19].
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng của Việt Nam (12/8/1991) nhấn mạnh, việc
khai thác các loại thực vật rừng, săn bắt động vật rừng phải tuân theo quy định của

công tác bảo tồn và phát triển các nguồn tài nguyên đa dạng sinh học nói chung,
cũng như đối với nguồn tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích tại Việt Nam.
Đã có 138 loài, thuộc 60 họ, 3 ngành thực vật bậc cao đã được xác định thuộc
diện quí hiếm hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau (dựa trên bộ
tiêu chuẩn phân hạng cũ của IUCN), trong đó có 23 loài thuộc diện nguy cấp (E), 21
loài sắp bị nguy cấp (V), 53 loài thuộc diện hiếm (R), 36 loài thuộc diện bị đe dọa
(T) và 5 loài chưa được biết đầy đủ; 102 loài thực vật hoang dại hữu ích đã được
pháp luật bảo vệ bằng cách đưa vào "Sách đỏ Việt Nam" (SĐVN) [7]; 60 loài đã
được bảo tồn bằng hình thức ex situ tại các VTV, vườn thực vật hoang dại hữu ích
trong nước [75].
Mặc dù vậy, công tác bảo tồn và phát triển tài nguyên thực vật hoang dại hữu
ích ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn xuất phát từ chính sách và luật pháp. Mối
quan hệ quản lý tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích giữa ngành với ngành, với
quản lý lãnh thổ chưa thoả đáng. Theo các văn bản, việc xác định nhu cầu dược liệu,
lập kế hoạch nuôi trồng hàng năm do ngành Y tế chịu trách nhiệm, nhưng công tác
điều tra cơ bản, trồng trọt lại do ngành Nông - Lâm nghiệp thực hiện. Thực vật
hoang dại hữu íchtồn tại và phát triền cùng với hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái nông
nghiệp và nông thôn trong khi đó rừng, đất rừng, đất nông nghiệp lại thuộc quyền
quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, của chính quyền tỉnh, thành
phố. Thực tế chưa thật rõ ai quản lý tài nguyên thực vật có ích.
* Nghiên cứu cơ bản tài nguyên thực vật có ích:
17
Hoạt động nghiên cứu cơ bản được thực hiện từ sớm ở Việt Nam đặc biệt là
sau ngày hòa bình lập lại, ở các trường Đại học, Viện nghiên cứu, hệ thống trạm
nghiên cứu, các lương y vv. Ngày nay, hoạt động nghiên cứu cơ bản được thực hiện
ở 45 cơ sở nghiên cứu khác nhau, bao gồm trường đại học, viện nghiên cứu, trung
tâm nghiên cứu, tổ chức phi chính phủ, vv Trong đó có 16 cơ sở có chức năng
nghiên cứu trực tiếp đến tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích [125]. Nội dung
nghiên cứu chủ yếu tập trung vào điều tra da dạng sinh vật, tư liệu hoá, nghiên cứu
đặc tính sinh vật và sinh thái, tác dụng dược lý, hoá thực vật và sàng lọc thực vật có

kiểm soát và bảo vệ thực vật hoang dại hữu íchcòn bị xem nhẹ [6].
Thực hiện "Kế hoạch hành động da dạng sinh học của Việt Nam", nhà nước
đã phê duyệt đề án "Xây dựng hệ thống quốc gia bảo tồn đa dạng sinh học nguồn cây
thuốc cổ truyền", do Viện Dược liệu chủ trì. Dự án đã được triển khai từ năm 1996
tại các địa phương là Vườn quốc gia Hoàng Liên Sơn - Sa Pa, Tam Đảo, Ba Vì, Bạch
Mã, Cát Tiên với nội dung là: (i) khảo sát, kiểm kê cây làm thuốc, xác định tình trạng
quí hiếm và tiến hành bảo tồn in situ, (ii) phối hợp xây dựng VTV trong vườn quốc
gia, (iii) khảo sát phương thức vừa bảo tồn vừa khai thác hợp lý và phát triển tài
nguyên cây thuốc [15].
Trong giai đoạn từ 1997-2000, dự án "Bảo tồn nguồn tài nguyên cây hoang dại
hữu ích ở Vườn quốc gia Tam Đảo” (do Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển cây thuốc
Dân tộc Cổ truyền (CREDEP), Tổ chức các Vườn thực vật Quốc tế (BGCI) và Vườn
quốc gia Tam Đảo thực hiện) đã tiến hành kiểm kê thực vật có ích, xác định mức bảo
tồn, phân bố và điều kiện sinh thái của thực vật hoang dại hữu ích ở Vườn quốc gia
Tam Đảo. Kết quả là đã xác định được 361 loài thực vật có ích, trong đó có 25 loài ưu
tiên bảo tồn. Dự án cũng nghiên cứu phương pháp nhân giống bằng hom của 11 loài
thực vật hoang dại hữu ích [22],[62].
Trong thời gian từ 1999-2000, dự án "Bảo vệ đa dạng sinh học cây hoang dại
hữu ích ở VQG Ba Bể (Trung tâm Nghiên cứu và phát triển cây thuốc Dân tộc Cổ
truyền (CREDEP) và Vườn quốc gia Ba Bể thực hiện) đã tiến hành kiểm kê thực vật
có ích, xác định ưu tiên bảo tồn và nghiên cứu giâm hom thực vật hoang dại hữu ích
của cộng đồng người Tày. Kết quả là đã xác định được 432 loài thực vật có ích, trong
đó có 12 loài ưu tiên bảo tồn [124].
+ Bảo tồn chuyển vị
So với bảo tồn nguyên vị, bảo tồn chuyển vị được quan tâm và thực hiện
muộn hơn. Đề án "Lưu giữ nguồn gen, giống cây thuốc và cây tinh dầu làm thuốc"
(do Viện Dược liệu chủ trì) đã được phê duyệt và thực hiện từ năm 1988 đến nay với
sự tham gia của 14 đơn vị, cơ quan khác nhau trong toàn quốc [6] và đã xây dựng
được mạng lưới các cơ quan bảo vệ nguồn gen và giống thực vật hoang dại hữu ích ở
11 cơ sở khoa học với 250 loài được trồng bảo tồn, theo dõi, đánh giá, trao đổi, cung

1.2. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ THỰC VẬT HOANG DẠI HỮU ÍCH
1.2.1 Nghiên cứu ở nước ngoài
Hội nghị môi trường và phát triển của Liên hợp quốc (UNCED), họp tại Rio
de Janero năm 1992, đã nhận thức được tầm quan trọng của các loài thực vật hoang
dại hữu ích phi gỗ nằm trong nhóm các sản phẩm “lâm sản ngoài gỗ” (LSNG), từ đó
20
thông qua Chương trình nghị sự 21 và các nguyên tắc về rừng, đã xác định LSNG là
một đối tượng quan trọng, một nguồn lợi môi trường cho phát triển lâm nghiệp bền
vững cần được chú nhiều hơn nữa. Từ đó đến nay, việc phát triển LSNG được các
nhà khoa học bàn luận sôi nổi, cả trong lĩnh vực nghiên cứu lý luận lẫn thực tiễn sản
xuất.
1.2.1.1. Một số nghiên cứu về nhân giống
Theo cuốn Hướng dẫn bảo tồn thực vật hoang dại hữu ích của WHO, IUCN
và WWF. Nhân giống thực vật hoang dại hữu ích là một hoạt động quan trọng trong
công tác bảo tồn, nhằm tạo giống thực vật hoang dại hữu ích phục vụ hoạt động
trồng trọt, bảo tồn chuyển vị, bảo tồn nguyên vị, phục tráng giống thực vật hoang dại
hữu ích vv
Nhân giống bằng hom (Cutting propagation): là một phương pháp nhân giống
sinh dưỡng với hom là một đoạn thân, cành, rễ được đặt trong điều kiện môi trường
thích hợp sẽ phát triển rễ bất định và mọc thành cây độc lập [98]. Đây là một hình
thức nhân giống sinh dưỡng, dựa trên khả năng sinh sản sinh dưỡng của cây, trên cơ
sở phân bào nguyên nhiễm. Tế bào mẹ sinh ra tế bào con có bộ nhiễm sắc thể giống
hệt mình. Do vậy sinh sản sinh dưỡng duy trì được các đặc tính di truyền của cơ thể
mẹ và ổn định qua nhiều thế hệ. Phương pháp này được áp dụng để duy trì các dòng
vô tính để tăng số lượng các cá thể cây hiếm hay duy trì các genotyp quan trọng của
cây mẹ [22],[98].
Nhân giống bằng hom đã được các nhà làm vườn và trồng cây cảnh ở các nơi
khác nhau trên thế giới sử dụng từ lâu đời và áp dụng trong sản xuất lâm nghiệp cách
đây hàng trăm năm, được nghiên cứu ở các nước trên thế giới như Liên Xô (cũ),
Trung Quốc, Thuỵ Điển, Australia, Pháp, Ấn Độ, Malaysia, Indonesia, Nhật Bản,

suất sinh vật học của cây. Cùng với ánh sáng thì các đặc điểm về tính chất đất đai,
đặc biệt là hàm lượng các yếu tố dinh dưỡng trong đất cũng đóng vai trò chi phối
quan trọng đến khả năng cho năng suất của cây. Chính vì vậy nghiên cứu về ảnh
hưởng của yếu tố ánh sáng, đất đai và phân bón tới sinh trưởng, phát triển của cây là
những nội dung không thể thiếu trong nỗ lực nghiên cứu bảo tồn và phát triển các
loài thực vật hoang dại hữu ích bản địa.
Ánh sáng là một trong những yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng lớn nhất đến cây
trồng. Nó ảnh hưởng đến hầu hết các hoạt động sống của cây như quá trình quang
hợp, sự hút khoáng, vận chuyển các chất trong cây, sự thoát hơi nước, từ đó ảnh
hưởng trực tiếp đến năng suất và phẩm chất cây trồng. Nhà sinh lý học thực vật
người nga Timiriazep đã nói: “Hạt diệp lục là tiêu cự trong không gian một đầu kéo
theo năng lượng ánh sáng mặt trời, đầu kia bắt nguồn với mọi hoạt động sống của
sinh vật”. Ông đã phát hiện ra vai trò tích cực của hạt diệp lục ở cây xanh, đó là loại
vật chất thường xuyên hấp thụ năng lượng ánh sáng mặt trời, đồng hoá khí CO2 và
22
nước tạo ra các vật chất hữu cơ. Cây xanh hấp thụ các tia sáng một cách chọn lọc,
chủ yếu các tia trong nhóm ánh sáng trông thấy ( = 0,39 - 0,76∝m). [72]
Kết quả nghiên cứu của Học viện Timiriazep cho thấy khi cây cải bắp sinh
trưởng đầy đủ dùng phương pháp nhân tạo rút ngắn thời gian chiếu sáng còn
10h/ngày trong 3 năm liên tục cây cải bắp không ra hoa. Đối với cây sắn là cây cần
ánh sáng ngày ngắn nên trong điều kiện ngày ngắn sẽ thuận lợi cho sự sinh trưởng và
phát triển của củ. Còn trong điều kiện ngày dài sẽ làm tăng số lượng củ, thuận lợi
cho sự phát triển cành lá nhưng không thuận lợi cho củ lớn lên. Trong điều kiện thiếu
ánh sáng không ảnh hưởng đến sự ra lá của chuối nhưng nếu thiếu hoàn toàn phiến lá
có màu trắng nhạt, bẹ lá vươn dài nhanh. Điều kiện trong vườn chuối thiếu ánh sáng
cây sẽ vươn cao, nếu cường độ ánh sáng quá mạnh và đột ngột sẽ làm bỏng chỗ cong
của cổ buồng và quả chuối.[36]
Theo kết quả nghiên cứu của (V.A.A. lecxcếp, 1973) [36] đã cho thấy khi tuổi
lớp cây tái sinh tăng lên thì nhu cầu ánh sáng của nó cũng tăng theo. Các loại cây ưa
sáng yêu cầu ánh sáng lớn hơn, tái sinh của các loại cây này sẽ chết ở điều kiện ánh

vật hoang dại hữu ích bản địa hiện nay phần lớn giới thiệu về sự đa dạng, khái niệm,
phân loại, vai trò, giá trị sử dụng và kỹ thuật gây trồng cho một số loài cây chủ yếu,
điển hình là một số công trình nghiên cứu phân theo các vấn đề sau đây:
1.2.2.1. Nghiên cứu về sinh thái, phân loại và bảo tồn
Nhận thức được tầm quan trọng của các loài thực vật hoang dại hữu ích bản
địa, ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, Lecomte - một nhà nghiên cứu của Pháp đã
đề cập, xác định được nhiều loài thực vật hoang dại hữu ích bản địa có giá trị trong
cuốn “Thực vật chí đại cương Đông Dương” trong đó có ở Việt Nam.[108]
Đỗ Tất Lợi (1991) [53] trong “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” - tái
bản lần 3 có sửa đổi bổ sung đã mô tả nhiều loài thực vật hoang dại hữu ích bản địa
làm thuốc, trong đó có nhiều bài thuốc hay.
Theo Hà Thu Chử (1996) [21] tới nay Việt Nam đã thống kê được 5 chi và 30
loài cây song bao gồm: Chi mây nếp (Calamus) có 19 loài và 1 loài phụ; chi hèo
(Daemonrops) có 4 loài; chi phướn (Korthalsia) có 2 loài; chi mây rúp (Myriapis) có
1 loài; chi song lá bạc (Plectocomia) có 2 loài và chim song voi (Plecomomiopsis) có
1 loài. Ngoài ra tác giả và các cộng sự [21] đã đưa ra định nghĩa, phân loại các loài
thực vật hoang dại hữu ích bản địa, giới thiệu về một số nhóm các loài thực vật
hoang dại hữu ích bản địa có giá trị ở Việt Nam, tổ chức và quản lý các loài thực vật
hoang dại hữu ích bản địa, những thuận lợi, khó khăn trong quá trình phát triển các
loài thực vật hoang dại hữu ích bản địa
Theo Triệu Văn Hùng và cộng sự (2007) [40] ở Việt Nam có thể có đến 200
loài tre trúc, bước đầu xác định có 22 chi với 122 loài đã được giảm định tên, trong
đó có rất nhiều loài có giá trị sử dụng và kinh tế cao cần được nghiên cứu phát triển.
24
Tác giả đã giới thiệu 40 loài tre trúc thông dụng về phân bổ, đặc điểm hình thái, sinh
thái và công dụng để làm cơ sở tham khảo cho nghiên cứu và sản xuất.
Nguyễn Hoàng Nghĩa (2001) [57] cũng đã mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái
phân bổ và công dụng của 194 loài tre ở Việt Nam và 3 giống: Bát độ, Điềm trúc và
Tạp giao có xuất xứ từ Trung Quốc.
Triệu Văn Hùng cùng các tác giả khác (2007) [40], đã mô tả hình thái, phân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status