nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học và biến đổi bệnh lý của hội chứng rối loạn sinh sản - hô hấp (prrs) trên lợn tại tỉnh bắc ninh - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN HÙNG CƢỜNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC
VÀ BIẾN ĐỔI BỆNH LÝ CỦA HỘI CHỨNG RỐI LOẠN
SINH SẢN - HÔ HẤP (PRRS) TRÊN LỢN TẠI TỈNH BẮC NINH Chuyên ngành: THÚ Y
Mã số: 60 64 01 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: 1 .PGS.TS Tô Long Thành
2. TS. Nguyễn Quang Tính
THÁI NGUYÊN - 2013


ii
LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực hiện đề tài, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã
nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của các thầy giáo, cô giáo,
các tập thể, cá nhân, bạn bè đồng nghiệp trong và ngoài trường. Nhân dịp này
tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và cảm ơn chân thành nhất tới:
Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Phòng quản lý
sau Đại học, Khoa chăn nuôi – Thú y, các thầy cô giáo đã giúp đỡ, tạo điều
kiện để tôi học tập và tiếp thu kiến thức trong suốt quá trình học.
Các cán bộ Phòng bệnh lý – Trung tâm chẩn đoán Thú y Trung ương.
Ban Lãnh đạo, cán bộ Chi cục Thú y tỉnh Bắc Ninh và một số bạn đồng
nghiệp đang làm việc trong lĩnh vực Chăn nuôi – Thú y.
Đặc biệt là thầy giáo hướng dẫn trực tiếp: PGS.TS Tô Long Thành –
Giám đốc Trung tâm chẩn đoán Thú y Trung ương và TS Nguyễn Quang
Tính – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên những người đã tận tình
hướng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được gửi lời cảm ơn sâu
sắc tới gia đình, người thân cùng bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi vượt qua
mọi khó khăn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, thực hiện đề tài.
Một lần nữa tôi xin bày tỏ lòng biết ơn, cảm ơn chân thành tới những
tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập.

Bắc Ninh, tháng 11 năm 2013
Tác giả luận văn Nguyễn Hùng Cƣờng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

iv
1.5.1. Lợn nái 24
1.5.2. Lợn đực giống 24
1.5.3. Lợn con theo mẹ 24
1.5.4. Lợn con cai sữa và lợn choai 24
1.6. Bệnh tích của lợn mắc PRRS 25
1.6.1. Lợn nái mang thai 25
1.6.2. Lợn nái nuôi con, lợn choai và lợn vỗ béo 25
1.6.3. Lợn con theo mẹ 25
1.7. Các phương pháp chẩn đoán PRRS 25
1.7.1. Chẩn đoán lâm sàng 25
1.7.2. Chẩn đoán bằng phương pháp giải phẫu bệnh 26
1.7.3. Chẩn đoán bằng phương pháp huyết thanh học 26
1.7.4. Kỹ thuật RT- PCR 27
1.7.5. Các vi khuẩn kế phát 27
1.8. Phòng và điều trị bệnh 28
1.8.1. Vệ sinh phòng bệnh 28
1.8.2. Phòng bệnh bằng vaccine 28
1.8.3. Điều trị 28
CHƢƠNG 2. NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1. Đối tượng nghiên cứu 30
2.2. Địa điểm thực hiện đề tài 30
2.3. Nội dung nghiên cứu 30
2.4. Nguyên vật liệu và các thiết bị dùng trong nghiên cứu 30
2.5. Phương pháp nghiên cứu 31
2.5.1. Phương pháp nghiên cứu dịch tễ học 31
2.5.2. Phương pháp quan sát 31
2.5.3. Phương pháp mổ khám 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

Enzyme Linked ImmunoSorbent Assay
FBS
Fetal Bovine Serum
IPMA
Immuno - Peroxidase Monolayer Assay
OIE
Office International des Epizooties (Tổ chức bảo vệ sức khỏe
động vật thế giới)
PBS
Phosphate Buffer Saline
PCR
Polymerase Chain Reaction
PRRS
Porcine Reproductive and Resiratory Syndrome
PRRSV
Porcine Reproductive and Resiratory Syndrome Virus
RNA
Ribonucleic Acid
RT – PCR
Reverse Transcription - Polymerase Chain Reaction


viii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 3.1. Tình hình dịch tại tỉnh Bắc Ninh và tỷ lệ lợn chết
do PRRS năm 2010 36
Biểu đồ 3.2. Tình hình dịch tại tỉnh Bắc Ninh và tỷ lệ lợn chết
do PRRS năm 2011 38
Biểu đồ 3.3. Tình hình dịch tỉnh Bắc Ninh và tỷ lệ lợn chết
do PRRS năm 2012 39
Biểu đồ 3.4. So sánh tình hình dịch PRRS từ năm 2010 đến 2013 40
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ix

nhân nên có nhiều tên gọi: Bệnh bí hiểm ở lợn, bệnh tai xanh, hội chứng hô hấp
và xảy thai ở lợn Năm 1991, viện Thú y Lelystad (Hà Lan) đã phân lập thành
công virus. Năm 1992, Hội nghị Quốc tế Tổ chức Thú y thế giới thống nhất tên
gọi là Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn. Cho đến nay bệnh vẫn còn
tồn tại và phát triển mạnh ở nhiều khu vực trên thế giới. Vì vậy từ khi xuất hiện
tới nay bệnh đã gây không ít thiệt hại kinh tế cho ngành chăn nuôi lợn của thế
giới. Nhận định của thế giới về PRRS là dịch địa phương của nhiều nước trên
thế giới kể cả các nước có ngành chăn nuôi lợn phát triển, gây tổn thất rất lớn
về kinh tế. Chưa có bất kỳ nước nào có thể thanh toán được PRRS.
Ở Việt Nam, PRRS được phát hiện trên đàn lợn nhập từ Mỹ vào các tỉnh
phía Nam năm 1997. Tháng 3/2007 tại 7 tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng sau đó

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
2
ở các tỉnh miền Trung, đồng bằng sông Cửu Long. Trong năm 2012, tổng số lợn
mắc bệnh là 90.688, tổng số chết là 14.065 con, tổng số lợn phải tiêu hủy là
51.761 con. Theo báo cáo ngày 25/6/2013 của Cục thú y (Bộ NN- PTNT) dịch
tai xanh tuy không bùng phát mạnh mẽ nhưng vẫn xuất hiện rải rác tại một vài
tỉnh trong khoảng thời gian từ tháng 2 đến tháng 5 đã làm chết và tiêu hủy hơn
6000 con lợn. Nguy cơ dịch nổ ra ở bất cứ địa phương nào, bất cứ thời điểm nào
là rất lớn đặc biệt những tháng Đông- Xuân, là mối nguy cơ bùng phát dịch bệnh
vẫn tiềm ẩn đối với việc phát triển chăn nuôi bền vững của Việt Nam.
Cho tới nay, ở nước ta đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về PRRS
vì việc chẩn đoán lâm sàng rất khó phân biệt với các bệnh khác đặc biệt trong
đó bệnh liên cầu khuẩn ở lợn có sự lây nhiễm chéo giữa lợn với người, có thể
gây tử vong cho người. Phân tích ban đầu về virus PRRS của Việt Nam tại
Mỹ xác định virus gây ra các ổ dịch tại Việt Nam là chủng độc lực cao. Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang xem xét việc sử dụng vắc xin phòng
PRRS nhập về Việt Nam vì dịch bệnh vẫn xảy ra trên nhiều tỉnh thành trong
khi hiện nay hiệu quả bảo hộ của các vắc xin kể cả của Trung Quốc vẫn còn là


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
4
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Giới thiệu chung
1.1.1. Tên bệnh
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (Porcine respiratory and
reproductive syndrome - PRRS) còn gọi là “Bệnh tai xanh”, là một bệnh truyền
nhiễm nguy hiểm đối với lợn, gây ra do virus. Bệnh lây lan nhanh với các biểu
hiện đặc trưng viêm đường hô hấp rất nặng như: Sốt, ho, thở khó và ở lợn nái
là các rối loạn sinh sản như: sẩy thai, thai chết lưu, lợn sơ sinh chết yểu.
Bệnh được ghi nhận lần đầu tiên ở Mỹ, tại vùng Bắc của bang
California, bang Iowa và bang Minnesota vào khoảng năm 1987. Thời gian
đầu do chưa xác định được nguyên nhân và chưa có những hiểu biết rõ ràng
về bệnh nên các triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đã được sử dụng để đặt tên
cho bệnh với những tên gọi khác nhau như sau:
- Hội chứng hô hấp và vô sinh của lợn (SIRS),
- Bệnh bí hiểm ở lợn (MDS) như ở châu Mỹ,
- Hội chứng hô hấp và sảy thai ở lợn (PEARS),

Hà Lan đã xác định được đặc tính của virus sau khi thực nghiệm thành
công các chỉ tiêu của định đề Koch và virus được đặt tên là virus
Lelystad, là tên Viện Thú y đã phát hiện ra virus (Terpstra và cs, 1991)
[47]. Sau đó không lâu, virus PRRS được Mỹ đặt tên là ATCC VR – 2332
(Collin và cs, 1992) [22]. Đứng trước những thiệt hại cũng như diễn biến
phức tạp của bệnh, năm 1992, tại hội nghị quốc tế về bệnh tổ chức ở
St.Paul, Minnesota, tổ chức Thú y thế giới (OIE) đã chính thức đặt tên
cho bệnh này là Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (Porcine
Reproductive and Respiratory Syndrome - PRRS) (Gonnie Nodelijk,
1996) [28]; (E.Weiland, 1999) [27].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
6
Tính từ năm 2005 trở lại đây, 25 nước vùng lãnh thổ thuộc tất cả các
châu lục (trừ châu Úc và New Zealand) trên Thế giới đã báo cáo phát hiện có
PRRS lưu hành. Con số thực tế sẽ còn khác rất nhiều. Trong số các nước nêu
trên có cả các nước có ngành chăn nuôi phát triển mạnh như Mỹ, Hà Lan, Đan
Mạch, Anh, Pháp, Đức…
Bảng 1.1. Bảng các nƣớc đã xác định có PRRS xuất hiện
Nƣớc
Thời gian báo cáo cuối cùng
Canada
Tháng 7- Tháng 12 năm 2006
Comlombia
Tháng 7- Tháng 12 năm 2006
Costa Rica
Tháng 7- Tháng 12 năm 2006
Pháp
Tháng 7- Tháng 12 năm 2006
Đức

chết. Qua một số nghiên cứu với qui mô lớn, người ta đã xác định virus gây
bệnh PRRS tại Trung Quốc thuộc chủng Bắc Mỹ thể cường độc gây ra.
Tại Thái Lan, một nghiên cứu quy mô rộng lớn từ năm 2000 – 2003
cho thấy các virus PRRS được phân lập từ nhiều địa phương gồm cả chủng
Châu Âu và chủng Bắc Mỹ, trong đó virus thuộc chủng Bắc Mỹ chiếm
33,58%. Dịch bệnh PRRS lần đầu tiên xuất hiện ở nước này vào năm 1989 và
tỷ lệ lưu hành huyết thanh của bệnh cũng thay đổi khác nhau, từ 8,7% vào
năm 1991 và trên 76% vào năm 2002. Nguồn gốc PRRS tại Thái Lan là do
việc sử dụng tinh lợn nhập nội đã bị nhiễm virus PRRS hoặc là do các đàn
nhập nội mang trùng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
8
1.1.2.2. Tình hình dịch PRRS ở Việt Nam
Lần đầu tiên trong lịch sử xuất hiện PRRS ở Việt Nam vào năm 1997,
PRRS được phát hiện trên đàn lợn nhập từ Mỹ vào các tỉnh miền Nam. Kết quả
kiểm tra thấy 10/51 lợn giống nhập khẩu có huyết thanh dương tính với PRRS
theo Cục Thú y (2007) [3]. Toàn bộ số lợn này đã được xử lý vào thời gian đó.
Tuy nhiên, trong những năm tiếp theo, các nghiên cứu về bệnh trên những trại
lợn giống tại các tỉnh phía Nam cho thấy tỷ lệ lợn có huyết thanh dương tính với
bệnh rất khác nhau, từ 1,3% cho tới 68,29% theo Bộ NN và PTNT (2007) [1].
Như vậy có thể thấy virus PRRS đã xuất hiện và lưu hành tại nước ta
trong một thời gian dài. Tuy nhiên, kể từ khi xác định được lợn có kháng thể
kháng virus PRRS ở đàn lợn giống nhập từ Mỹ, tại Việt nam chưa từng có vụ
dịch PRRS nào xảy ra.
Dấu ấn quan trọng của dịch PRRS tại Việt Nam được bắt đầu từ ngày
12/3/2007 khi hàng loạt đàn lợn tại Hải Dương có những biểu hiện ốm khác
thường sau đó lây lan ra các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ
gây thiệt hại rất lớn cho ngành chăn nuôi lợn (Tô Long Thành và cs, 2008) [10].
Đầu năm 2008 dịch tái xuất hiện ở nhiều xã thuộc tỉnh Hà Tĩnh và chỉ

tỉnh trong khoảng thời gian từ tháng 2 đến tháng 5 đã làm chết và tiêu hủy
hơn 6000 con lợn. Nguy cơ dịch nổ ra ở bất cứ địa phương nào, bất cứ thời
điểm nào là rất lớn đặc biệt những tháng Đông - Xuân, là mối nguy cơ bùng
phát dịch bệnh vẫn tiềm ẩn đối với việc phát triển chăn nuôi bền vững của
Việt Nam.
1.2. Căn bệnh
1.2.1. Phân loại
Virus PRRS là một virus ARN chuỗi đơn, có màng bọc, thuộc giống
Arterivirus, họ Arteriviridae, bộ Nidovirales (Cavanagh và cs, 1997) [20].
Hiện nay có 2 kiểu gen PRRS chính được công nhận là:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
10
Kiểu gen 1 (Nhóm 1): Các nhóm virus thuộc dòng Châu Âu với tên gọi
phổ thông là virus Lelystad (Meulenberg và cs, 1993) [34].
Kiểu gen 2 (Nhóm 2): Các nhóm virus thuộc dòng Bắc Mỹ mà tiêu biểu
cho chủng này là chủng virus VR-2332 (Nelsen và cs, 1998) [37].
Khi so sánh về di truyền đã thấy sự khác nhau rõ rệt (khoảng 40%) giữa
2 kiểu gen này. Những nghiên cứu gần đây còn cho thấy có sự khác biệt về
tính di truyền trong các virus phân lập được từ các vùng địa lý khác nhau. Bản
thân các virus trong cùng một nhóm cũng có sự thay đổi về nucleotit khá cao
(đến 20%), đặc biệt là các chủng virus thuộc dòng Bắc Mỹ.
Bảng 1.2. Sự tƣơng đồng về nucleotide của các chủng PRRSV
khi so sánh với chủng Bắc Mỹ VR2332
Chủng
Nƣớc phát hiện
Tỷ lệ tƣơng đồng(%)
VR2332
Hoa Kỳ
100%

phân tử 25.000bp và GL có khối lượng phân tử 42.000.
Acid Nucleic: Sự nhân lên của virus không bị ảnh hưởng khi dùng hợp
chất ức chế tổng hợp ADN là 5-bromo-2-deoxyuridin, 5-iodo-2-deoxyuridin
và mitomycin C chứng tỏ axid nucleic đó là ARN. Sợi ARN này có kích
thước khoảng 15kb.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
12 Hình 1.3. Hình ảnh cấu trúc hệ gen của virus PRRS
Cấu trúc hệ gen của PRRSV bao gồm 7 khung đọc mở (ORF), gồm:
ORF1, ORF2, ORF3, ORF4, ORF5, ORF6 và ORF7. Trong đó, ORF1 được
chia làm hai phần bao gồm ORF1a và ORF1b, chiếm tới khoảng 80% tổng số
độ dài hệ gen của virus, chịu trách nhiệm mã hoá ARN thông tin tổng hợp các
enzym ARN polymerase của virus. ORF2, ORF3, ORF4, ORF5, ORF6,
ORF7 là các phần gen tạo nên khung đọc mở mã hoá các protein tương ứng,
đó là GP2 (glycoprotein 2), GP3, GP4, GP5 (hay còn gọi là glycoprotein vỏ
(E, envelope), protein màng M (membrane protein), và protein cấu trúc
nuclêocapsid N (nucleocapsid protein). Các protein được glycosyl hóa (là
hiện tượng gắn thêm hydrat cacbon vào một vị trí axit amin xác định) là: GP2,
GP3, GP4, GP5, và các protein không được glycosyl hóa là M và N.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
13
Bảng 1.3. Protein cấu trúc của PRRSV
Protein
KL phân tử
Gen mã hoá
Vai trò

Tương tự, dòng virus Châu Mỹ cũng có sự tương đồng nhau về cấu trúc
kháng nguyên.
Trong các tế bào bị nhiễm virus PRRS, virus sinh ra 6 ARNm. Tất cả 6
ARNm có trình tự sắp xếp chung ở đầu 5' của hệ gen ARN và tất cả chúng
đều có đuôi 3' polyA. Muelenberg kết luận rằng dựa trên chuỗi nucleotit, tổ
chức hệ gen, cũng như cách nhân lên của virus thì có thể xếp chúng vào nhóm
virus động mạch (Arterivirus) mới (Meulenberg và cs, 1993) [34].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
14
1.2.3. Sức đề kháng của virus
Bảng 1.4. Sức đề kháng của virus với điều kiện ngoại cảnh
Điều kiện môi trƣờng
Khả năng đề kháng
Virus trong bệnh phẩm:
-70
0
C đến -20
0
C
1 tuần ở 4
0
C
1 tháng ở 4
0
C
6 ngày ở 20 – 21
0
C
24 giờ ở 37

chất tẩy uế. Do đó, với các hoá chất sát trùng thông thường và môi trường
có pH axit, virus dễ dàng bị tiêu diệt; ánh sáng mặt trời, tia tử ngoại vô
hoạt virus nhanh chóng.
Virus PRRS có thể tồn tại 1 năm trong nhiệt độ lạnh từ -70
0
C đến -
20
0
C; trong điều kiện 4
0
C, virus có thể sống 1 tháng; với nhiệt độ cao, cũng
như các virus khác, PRRSV đề kháng kém: ở 37
0
C chịu được 48 giờ, 56
0
C bị
giết sau 1 giờ.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
15
1.2.4. Khả năng ngưng kết hồng cầu
PRRSV không có khả năng ngưng kết hồng cầu của lợn, dê, cừu, thỏ,
chuột lang, vịt, gà và nhóm máu O của người.
1.2.5. Đặc tính nuôi cấy virus trong môi trường tế bào
PRRSV phát triển ở mật độ 105-107TCID50 ở các loại tế bào:
- Đại thực bào phế nang lợn (pulmonary alveolar marcrophage-PAM)
- Dòng tế bào liên tục CL261.
- Tế bào thận khỉ Châu Phi (MA104) và các biến thể của MA104 là
MARC-145.
Ảnh hưởng bệnh lý tế bào ở môi trường PAM gây ra những tế bào kết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status