B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y THI BèNH
NG TH HIN
đặc điểm dịch tễ học và véc-tơ truyền bệnh
sốt xuất huyết Dengue tại tỉnh Bình Định
trong 5 năm (2008 2012)
LUN VN THC S Y T CễNG CNG
Mó s: 60 72 03 01
Ngi hng dn khoa hc:
1. TS. Nguyn c Thanh
2. TS. ng Vn Nghim
THI BèNH - 2013
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Đảng ủy, Ban Giám hiệu,
Phòng Quan lý Đào tạo Sau đại học, Khoa Y tế công cộng Trường Đại học Y
Thái Bình cùng các thầy cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn và giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới
TS. Nguyễn Đức Thanh –TS. Đặng Văn Nghiễm là hai người thầy đã
dành nhiều tâm huyết và trách nhiệm của mình giúp đỡ tôi trong quá trình
học tập và nghiên cứu để tôi hoàn thành bản luận văn này một cách tốt nhất.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo và toàn thể cán bộ trung tâm y tế
dự phòng tỉnh Bình Định cùng bạn bè đồng nghiệp nơi tôi đang làm việc đã
luôn động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập và
nghiên cứu.
Tôi xin cảm ơn Lãnh đạo và cán bộ viện Pasteur Nha Trang đã hỗ trợ
tôi rất nhiều trong thời gian triển khai thực hiện nghiên cứu và hoàn thành
luận văn.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới gia đình và bạn bè thân thiết
của tôi - những người đã luôn động viên, khích lệ tôi trong suốt cả quá trình
học tập và nghiên cứu.
1.3.2. Đặc điểm sinh học, sinh thái học của véc-tơ 13
1.4. Giám sát dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết 17
1.4.1. Giám sát bệnh nhân và huyết thanh vi rút 17
1.4.2. Giám sát vec tơ [5] 18
1.4.3. Một số mô hình phòng chống dịch 21
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1. Đối tượng nghiên cứu 25
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 25
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu 25
2.1.3. Thời gian nghiên cứu 26
2.2. Phương pháp nghiên cứu 27
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu 27
2.2.2. Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu 28
2.2.3. Phương pháp thu thập số liệu 29
2.2.4. Các biến số, chỉ số nghiên cứu 30
2.2.5. Phương pháp phân tích và sử lý số liệu 31
2.2.6. Đạo đức trong nghiên cứu 33
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1. Đặc điểm dịch tễ học SXHD giai đoạn 2008 – 2012 34
3.1.1. Đặc điểm ca bệnh giai đoạn 2008 – 2012 34
3.1.2. Đặc điểm ca bệnh phân theo độ tuổi, giới và lâm sàng 35
3.1.3. Diễn biến của véc-tơ truyền bệnh giai đoạn 2008 – 2012 42
3.2. Thực trạng nguồn gây bệnh sốt xuất huyết Dengue năm 2012 44
Chương 4
BÀN LUẬN 54
4.1. Đặc điểm dịch tễ học SXHD giai đoạn 2008 – 2012 54
4.1.1. Đặc điểm ca bệnh giai đoạn 2008 – 2012 54
4.1.2. Diễn biến của véc-tơ truyền bệnh giai đoạn 2008 – 2012 62
Biểu đồ 3.1. Diễn biến số bệnh nhân mắc và chết do sốt xuất huyết
Dengue qua các năm 35
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ mắc bệnh sốt xuất huyết Dengue phân theo độ tuổi 36
Biểu đồ 3.3. Tỷ lệ mắc bệnh sốt xuất huyết Dengue giữa nam và nữ 36
Biểu đồ 3.4. Tỷ lệ mắc bệnh sốt xuất huyết Dengue trung bình trong 5
năm phân theo mức độ lâm sàng 37
Biểu đồ 3.5. Tỷ lệ mắc sốt xuất huyết trung bình trong 5 năm theo vùng
sinh thái 39
Biểu đồ 3.6. Tỷ lệ mắc bệnh/100.000 dân giữa thành thị, nông thôn 40
Biểu đồ 3.7. Số mắc SXHD phân bố theo huyện (2008-2012) 40
Biểu đồ 3.8. Diễn biến số mắc SXHD theo tháng (2008 – 2012) 41
Biểu đồ 3.9. Tỷ lệ các loại dụng cụ chứa nước trong nhà và ngoài trời 45
Biểu đồ 3.10. So sánh số lượng bọ gậy có trong các loại dụng cụ chứa
nước trong nhà và ngoài trời 48
Biểu đồ 3.11. Tỷ lệ các hộ gia đình có thả cá diệt bọ gậy trong các dụng cụ
chứa nước 48
Biểu đồ 3.12. Diễn biến côn trùng và bệnh nhân theo các tháng 50
Biểu đồ 3.13. Diễn biến côn trùng với lượng mưa theo các tháng trong
năm 2012 50
Biểu đồ 3.14. Số muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus bắt được trong
năm 2012 51
Biểu đồ 3.15. Chỉ số côn trùng, bệnh nhân theo mùa trong năm 2012 53
Biểu đồ 3.16. Diễn biến côn trùng với lượng mưa trong năm 2012 53
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh sốt xuất huyết do vi-rút Dengue được biết đến từ năm 1913 tại
miền Bắc và miền Trung Việt Nam, nhưng đến năm 1958 mới có một vụ dịch
nhỏ đầu tiên xảy ra tại Hà Nội [1] và từ đó cho đến nay, sốt xuất huyết đã trở
thành dịch bệnh lưu hành địa phương. Trong những năm qua, dịch sốt
Dengue/sốt xuất huyết Dengue (Gọi chung là sốt xuất huyết) thường xuyên
xuất hiện ở nước ta gây ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe của mọi người và đời
cứu một số đặc điểm dịch tễ học và véc-tơ truyền bệnh sốt xuất huyết
Dengue tại tỉnh Bình Định trong 5 năm (2008 – 2012)”, nhằm đề xuất
những giải pháp thích hợp cho công tác phòng chống sốt xuất huyết trong thời
gian đến có hiệu quả với mục tiêu như sau:
1) Mô tả một số đặc điểm dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết Dengue tại
tỉnh Bình Định trong 5 năm (2008 – 2012).
2) Xác định thực trạng ổ bọ gậy nguồn sốt xuất huyết Dengue trên địa
bàn tỉnh Bình Định năm 2012.
-2-
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số khái niệm
Dịch tễ học: là một khoa học nghiên cứu sự phân bố số mắc hoặc chết
đối với các bệnh trạng cùng với những yếu tố quy định sự phân bố của các
yếu tố đó [1]
Giám sát dịch tễ học: là việc thu thập một cách có hệ thống liên tục,
phân tích, giải thích và phân phát những dữ liệu sức khỏe, sử dụng những dữ
liệu giám sát để mô tả và theo dõi những sự kiện sức khỏe, xác định ưu tiên
và giúp cho việc lập kế hoạch, thực hiện, đánh giá những chương trình can
thiệp [4].
Giám sát chủ động: là giám sát mà các cơ quan y tế công cộng chủ
động tìm kiếm, báo cáo thông tin từ các tuyến trong hệ thống giám sát
một cách đều đặn thay vì chờ đợi các báo cáo (ví dụ gọi điện xuống cơ sở
hàng tháng) [4].
Giám sát thụ động: là giám sát mà ở đó các thông tin được báo cáo thụ
động và không có sự chủ động, cố gắng tìm kiếm thông tin từ các đơn vị
trong hệ thống giám sát [4].
Định nghĩa ca bệnh sốt xuất huyết [4].
Ca bệnh giám sát: Bệnh nhân sốt cao đột ngột kéo dài từ 2 đến 7 ngày
kèm các triệu chứng đau đầu, đau hốc mắt, đau cơ, đau khớp, phát ban, có
tối ưu, thời gian cần để trứng phát triển thành muỗi chỉ khoảng 7 ngày, kể cả
2 ngày của giai đoạn quăng. Tuy nhiên ở nhiệt độ thấp, thời gian này có thể là
vài tuần. Tại khu vực Đông Nam Á Aedes hầu như chỉ đẻ trứng ở những dụng
cụ chứa nước do con người làm ra ở chung quanh nhà. Những dụng cụ này
-4-
được tìm thấy ở khu vực đô thị hay những vùng lân cận như trong gia đình,
công trường xây dựng và các nhà máy, bao gồm nhiều loại khác nhau như
chum vại, lọ hoa, chậu rửa, bể xây, bể cảnh, xô thùng, lốp xe, túi nilon, chai
lọ, vỏ đồ hộp, cốc nhựa, bình ắc quy hỏng, và bát kê chân chạn. Sinh cảnh tự
nhiên của bọ gậy thì hiếm hơn, nhưng các hốc cây, kẽ lá và vỏ dừa đều có thể
là ổ bọ gậy. Ở những vùng nóng và khô, các bể treo, bể chứa nước ngầm và
bể đựng chất thải có thể là những nơi sinh cảnh chính. Còn ở những khu vực
được cấp nước thất thường, dụng cụ chứa nước dự trữ trong các hộ gia đình là
những ổ bọ gậy phổ biến.
Sự thay đổi dịch tể học bệnh SXH
Dịch tễ học bệnh SXH thay đổi cùng với sự thay đổi về sinh thái tại
khu vực Đông Nam Á xảy ra trong và sau chiến tranh thế giới lần thứ II [56].
Hệ thống cung cấp nước dùng cho sinh hoạt cũng như cứu hỏa đã bị phá hủy
trong thời kỳ chiến tranh. Các phương tiện chiến trường di chuyển qua các
miền quê và thành thị rồi bị để tại đó với số lượng cũng tương đối lớn để rồi
được sử dụng làm vật chứa nước, là nơi lý tưởng cho các ấu trùng của muỗi
Ae.aegypti và di chuyển muỗi, trứng muỗi đi đến các khu vực mới khác. Kết
quả của sự thay đổi này là quần thể muỗi Aedes aegypti gia tăng và lan rộng.
Thêm vào đó hàng trăm ngàn lính Nhật Bản và lực lượng quân đội đồng minh
thường xuyên di chuyển từ khu vực này sang khu vực khác. Hậu quả của
những thay đổi trên là sự lan truyền của vi-rút Dengue gia tăng và sốt xuất
huyết xảy ra trầm trọng [62].
Phân bố mùa dịch
Do đặc điểm địa lý, thời tiết, khí hậu khác nhau: Miền Nam và Miền
Trung bệnh xuất hiện quanh năm, riêng Miền Bắc bệnh xảy ra từ tháng 4 đến
-6-
dịch chéo, nhưng thời gian ngắn chỉ vài tháng. Như vậy, miễn dịch chéo xảy
ra trong thời gian rất ngắn. Sau thời kỳ ủ bệnh 4-6 ngày (tối đa là 10 ngày)
virut sẽ có mặt trong máu bệnh nhân trong giai đoạn cấp của bệnh [24].
Ở Miền Bắc, các vụ dịch từ năm 1990 đến 1996 đều có mặt của 4 tuýp
huyết thanh, nhưng từ năm 1990 đến 1992, các vụ dịch chủ yếu do vi-rút
Dengue tuýp 2 (60%) và từ năm 1993 đến 1996 có mặt thêm Dengue tuýp 1
(16%) và Dengue tuýp 3 (23%) [41].
Ở khu vực phía Nam, Dengue tuýp 1 (12%-59%) hoạt động từ 1990
đến 1995, Dengue tuýp 2 (30%-90%) hoạt động từ 1987 đến 1997, Dengue
tuýp 3 (10%-74%) hoạt động từ 1996 đến 1998, Dengue tuýp 4 còn đang tiềm
ẩn, sự có mặt trong các vụ dịch chiếm tỷ lệ ít (2%-11%0. Như vậy, thời gian
lưu hành của Dengue tuýp 2 kéo dài nhiều năm và chiếm tỷ lệ cao [11].
Ở khu vực Miền Trung từ 1995 đến 2001, tuýp vi-rút lưu hành và chu
kỳ hoạt động cũng khác nhau: từ năm 1995 – 1997, xuất hiện Dengue tuýp 2
là chủ yếu, năm 1998 – 2000 xuất hiện Dengue tuýp 3 là chủ yếu. Trong suốt
5 năm (1996-2000) đều có sự hiện diện của Dengue tuýp 2, đây là điều đáng
quan tâm vì tuýp vi-rút này được xem là chủng vi-rút thường gây ra hội chứng
lâm sàng nặng [24].
Yếu tố lan truyền (Véc-tơ)
Véc-tơ truyền bệnh chính đã được TCYTTG khẳng định là Aedes
aegypti và Aedes albopictus, trong đó Aedes aegypti đóng vai trò chủ yếu và
có mặt hầu hết trong các vụ dịch, loại muỗi này thường sinh sản trong nhà,
trong các dụng cụ chứa nước sạch như: vại, lọ hoa, lon sữa bò, hoặc chung
quanh nhà: trong lớp xe, gáo dừa, thố nước sạch,….Muỗi Aedes aegypti sau
khi hút máu người bị nhiễm virut có thể truyền bệnh sau thời gian ủ bệnh (3–
10 ngày), trong thời kỳ này virut nhân lên trong tuyến nước bọt của muỗi
hoặc có thể truyền bệnh ngay cho người khác [32].
-7-
Lê Viết Lô nghiên cứu vai trò của Aedes aegypti và Aedes albopictus
giai đoạn sớm (các ổ bọ gậy) để có một tiên lượng với căn cứ khoa học
đảm bảo [7].
1.2.2. Tình hình dịch bệnh trên thế giới
Bệnh sốt xuất huyết (SXH) là bệnh nhiễm vi-rút do muỗi Aedes truyền.
Trong 2 thập kỷ qua, mức độ xuất hiện của bệnh sốt xuất huyết và Hội chứng
sốc Dengue cùng vời những vụ dịch tăng lên đáng lo ngại. Bệnh có những
biểu hiện chính là sốt cấp tính, nhức đầu, đau khớp, đau cơ và đã được nhận
biết hơn ½ thế kỷ qua ở các nước thuộc khu vực Đông Nam Châu Á và Tây
Thái Bình Dương [36].
Ở khu vực Châu Á, vụ dịch SXH đầu tiên được phát hiện vào năm
1954 tại Manila - Phi lippin, rồi sau đó dịch SXH tiếp tục phát triển và lan
rộng ở nhiều nước khác thuộc vùng Đông- Nam Á và Tây Thái Bình Dương.
Thời gian về sau, (1981) dịch SXH lan sang châu Mỹ và đã bùng phát thành
dịch lớn ở Lahabana và 3 thành phố khác của Cuba. Đây là vụ dịch đầu tiên
của châu Mỹ [36], [58].
Dịch sốt xuất huyết được biết đến cách đây 3 thế kỷ, ở các khu vực có
khí hậu nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới. Dịch sốt xuất huyết được ghi nhận
đầu tiên vào năm 1635 ở những vùng Tây Ấn Độ. Tổ chức Y tế thế giới ước
tính có khoảng 2,5-3 tỷ người trên toàn cầu có nguy cơ nhiễm bệnh, phần lớn
trong số này sống trong khu vực đô thị có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Hàng năm ít nhất 100 triệu trường hợp mắc sốt Dengue và 500.000 trường
hợp sốt xuất huyết Dengue cần nhập viện, 90% là trẻ em <15 tuổi, 25.000
trường hợp tử vong mỗi năm [64].
-9-
Sự phân bố của SXH từ 1975 đến 1995 xảy ra ở 102 nước, trong đó có
20 nước châu Phi, 42 nước châu Mỹ, 7 nước Đông Nam Á, 4 nước phía Đông
Địa Trung Hải và 29 nước thuộc khu vực Tây Thái Bình Dương [36], [60].
1.2.3. Tình hình dịch bệnh trong nước
Từ năm 1913, Gaidé đã thông báo về SD tại Miền Bắc và Miền Trung.
Năm1958 có một vụ dịch nhỏ SXH xảy ra tại Hà Nội, sau đó từng vụ dịch
Bình Định là tỉnh thuộc vùng duyên hải miền Trung, có diện tích tự
nhiên 6.039,56 km
2
, dân số 1.489.900 người, mật độ dân số 247 người/km2
(số liệu năm 2009 - Website UBND tỉnh Bình Định), có 11 đơn vị hành
chính: thành phố Quy Nhơn là tỉnh lỵ, đô thị loại 1 và 10 huyện gồm An Lão,
Vĩnh Thạnh, Vân Canh (miền núi), Tây Sơn, Hoài Ân (trung du), Hoài Nhơn,
Phù Mỹ, Phù Cát, An Nhơn, Tuy Phước (đồng bằng). Toàn tỉnh có 159 xã,
phường, thị trấn (Trong đó: có 129 xã, 14 Thị trấn; 16 phường)
Từ năm 1999, Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống SXH đã
triển khai, với mục tiêu giảm chết, giảm mắc, khống chế không để dịch bùng
phát và xã hội hóa hoạt động phòng chống SXH dựa vào cộng đồng. Trong đó
chiến lược giảm mắc chủ yếu là diệt véc-tơ truyền bệnh thông qua các hoạt
động của mạng lưới cộng tác viên, chiến dịch diệt bọ gậy dựa vào cộng đồng
và hoạt động xử lý ổ dịch nhỏ quy mô thôn/xóm/tổ dân phố.
Từ năm 1999 đến nay, số mắc và chết hàng năm tương đối cao, đứng
thứ 5/11 tỉnh thuộc khu vực miền Trung, bệnh nhân tăng cao ở thành phố Qui
Nhơn và các huyện An Nhơn, Tây Sơn, Phù Cát, Phù Mỹ, Hoài Nhơn, Tuy
Phước, số ca mắc tăng cao bắt đầu từ tháng 6 và kéo dài cho đến tháng 11, 12.
-11-
Riêng các huyện Vân Canh, Vĩnh Thạnh, An Lão, Hoài Ân từ năm 1999 đến
năm 2003 số ca mắc bệnh ít và không có dịch, nhưng từ 2004 đến 2010, do
điều kiện phát triển kinh tế xã hội nên sinh hoạt của người dân sống tại trung
tâm của các huyện miền núi với mức cao hơn, mật độ dân cư ngày càng đông,
sự giao lưu giữa các địa phương gia tăng nên dịch bệnh cũng thường xảy ra
hàng năm. Cũng như các địa phương khác, dụng cụ chứa nước thường tập
trung bọ gậy cao là bể chứa nước, chum, vại, lọ hoa, bát kê chân chạn và các
dụng cụ phế thải. Loài muỗi gây bệnh chính bắt được trong các vụ dịch chủ
yếu vẫn là Aedes aegypty, tuy nhiên có một vài vụ dịch tìm thấy sự có mặt của
cả muỗi Aedes albopictus ở ngoài vườn. Tính trung bình 5 năm (Từ 2006 –
lại phổ biến ở những nơi thoáng và nhiều cây cối [56], [65].
Độ cao là một yếu tố quan trọng làm hạn chế sự phân bố của Aedes
aegypty. Ở An Độ phạm vi thích hợp cho Aedes aegypti sinh sống là nơi có độ
cao từ 0 – 1.000m so với mực nước biển. Trong khoảng dưới 500m, mật độ
muỗi là lớn hoặc vừa, c̣n ở vùng núi có độ cao trên 500m thì mật độ muỗi
thấp. Ở các nước Đông Nam Á, độ cao 1.000 – 1.500m là ngưỡng hạn chế sự
có mặt của Aedes aegypti. Tại các khu vực khác trên thế giới, có thể tìm thấy
Aedes aegypti ở độ cao lớn hơn, như ở Colombia tới 2.200m [55], [59].
1.3.2. Đặc điểm sinh học, sinh thái học của véc-tơ
Trứng muỗi: Trứng được đẻ trên thành vật chứa, sát ngay phía trên
ngấn nước. Hầu hết muỗi cái Aedes aegypti ở vài nơi trong chu kỳ sinh thực.
Phôi của trứng phát triển hoàn thiện trong vòng 48 giờ trong điều kiện môi
trường ấm và ẩm. Khi phôi đã phát triển hoàn thiện thì trứng có thể chịu đựng
-13-
được khô hạn trong thời gian dài (khoảng 1 năm). Trứng muỗi nở ngay khi
ngập nước trở lại, nhưng không phải tất cả các trứng đều nở cùng một lúc.
Khả năng chịu đựng khô hạn của trứng giúp cho Aedes aegypti có thể tồn tại
trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt) [8]
+ Bọ gậy: Bọ gậy phát triển qua 4 giai đoạn. Các giai đoạn này phụ
thuộc vào nhiệt độ, thức ăn và mật độ bọ gậy trong dụng cụ chứa nước. Trong
điều kiện tối ưu, thời gian cần để trứng phát triển thành muỗi chỉ khoảng 7
ngày, kể cả 2 ngày của giai đoạn quăng. Tuy nhiên ở nhiệt độ thấp, thời gian
này có thể là vài tuần. Tại khu vực Đông Nam Á Aedes aegypti hầu như chỉ
đẻ trứng ở những dụng cụ chứa nước do con người làm ra ở chung quanh nhà.
Những dụng cụ này được tìm thấy ở khu vực đô thị hay những vùng lân cận
như trong gia đình, công trường xây dựng và các nhà máy, bao gồm nhiều
loại khác nhau như chum vại, lọ hoa, chậu rửa, bể xây, bể cảnh, xô thùng, lốp
xe, túi nilon, chai lọ, vỏ đồ hộp, cốc nhựa, bình ắc quy hỏng, chén đựng nước
thờ và bát kê chân chạn. Sinh cảnh tự nhiên của bọ gậy thì hiếm hơn, nhưng
các hốc cây, kẽ lá và vỏ dừa đều có thể là ổ bọ gậy. Ở những vùng nóng và
khoảng 8 ngày. Vào mùa mưa, khả năng sống sót dài hơn nên nguy cơ lan
truyền vi-rút cũng lớn hơn. Cần có thêm những nghiên cứu về tuổi thọ tự
nhiên của Aedes aegypti trong những điều kiện môi trường khác nhau.
- Khả năng truyền vi rút: Muỗi vec tơ bị nhiễm vi-rút khi đốt người
đang trong giai đoạn nhiễm vi-rút huyết.Với SXH, giai đoạn này có thể xảy
ra 1 – 2 ngày trước khi khởi phát sốt và kéo dài khoảng 5 ngày sau khi bắt đầu
có sốt. Sau giai đoạn ủ bệnh khoảng 10 – 12 ngày, vi-rút phát triển xâm nhập
từ dạ dày sang các tổ chức khác và tuyến nước bọt của muỗi. Muỗi này sẽ
truyền vi-rút Dengue sang những người mẫn cảm với vi-rút theo nước bọt của
chúng qua vết đốt.
+ Muỗi Aedes albopictus:
- Muỗi Aedes albopictus thuộc cùng giống phụ (Stegomia) với Aedes
aegypty. Loài muỗi này phân bố rộng rãi ở Châu Á, từ các nước nhiệt đới đến
các nước ôn đới. Trong vòng 2 thập kỷ gần đây, phạm vi phân bố của Aedes
albopictus đã mở rộng sang Bắc và Nam Mỹ, khu vực Ca ri bê, Châu Phi,
Nam Âu và một số đảo ở Thái Bình Dương [63], [66].
- Đầu tiên, Aedes albopictus là loài muỗi sống trong rừng đã thích nghi
với môi trường sống của con người ở vùng nông thôn, bán đô thị, đô thị. Ổ
sinh sản của chúng ở trong rừng là những hốc cây, ống tre nứa và kẻ lá, thêm
vào đó là những dụng cụ chứa nước nhân tạo ở khu vực đô thị, Aedes
albopictus là loài hút máu tạp, ưa máu động vật hơn so với Aedes aegypty.
Phạm vi bay của Aedes albopictus có thể xa tới 500m. Không giống với
-16-
Aedes aegypty, một số chủng Aedes albopictus thích nghi với khí hậu lạnh ở
vùng Bắc Á và Bắc Mỹ nhờ trứng qua đông trong trạng thái “nghỉ” [61].
Ở một số khu vực của Châu Á và ở Seychelles, Aedes albopictus đôi
khi được coi là vec tơ trong các vụ dịch SXH, cho dù vai trò của nó ít quan
trọng hơn Aedes aegypty. Trong phòng thí nghiệm, cả 2 loài đều có thể truyền
vi-rút Dengue trực hệ từ muỗi cái qua trứng sang thế hệ sau, tuy nhiên, hình
thức này phổ biến hơn ở Aedes albopictus [35].
Giám sát muỗi trưởng thành bằng phương pháp soi bắt muỗi đậu nghỉ
trong nhà, dùng để đánh giá quần thể muỗi. Người điều tra chia thành nhóm,
mỗi nhóm hai người soi bắt muỗi cái đậu nghỉ trên quần áo, chăn màn, các đồ
vật trong nhà vào buổi sáng, mỗi nhà soi bắt muỗi trong 15 phút. Sau khi bắt
muỗi, tiến hành điều tra bọ gậy (lăng quăng) bằng quan sát, ghi nhận ở toàn
bộ dụng cụ chứa nước trong và quanh nhà. Số nhà điều tra cho một đơn vị
huyện là 50, điều tra 1 lần/tháng (phân bổ trong các xã, phường trọng điểm)
Giám sát bọ gậy
Giám sát thường xuyên: 1 tháng 1 lần cùng với giám sát muỗi trưởng thành.
Giám sát ổ bọ gậy (lăng quăng) nguồn: Phương pháp này dựa vào kết
quả đếm toàn bộ số lượng bọ gậy (lăng quăng) Aedes trong các chủng loại
dụng cụ chứa nước khác nhau để xác định nguồn cung cấp muỗi Aedes chủ
yếu của từng địa phương theo mùa trong năm hoặc theo từng giai đoạn để
điều chỉnh, bổ sung các biện pháp tuyên truyền và phòng chống véc-tơ
thích hợp.
-18-