BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI NGUYỄN THỊ PHƯƠNG NGỌC
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC,
CHỈ SỐ HÓA SINH VÀ MỨC ĐỘ BIỂU HIỆN GEN HIP
TRONG U TUYẾN TIỀN LIỆT Chuyên ngành: Hóa sinh
Mã Số: 62.73.25.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ DƯỢC HỌC Hà Nội – 2009
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI:
Trường Đại học Dược Hà Nội, Trường Đại hoc Y Hà Nội, Trường Đại
học Y Hải Phòng, Viện Hóa học – Viện Khoa học và Công nghệ Việt
dNTP 2’-deoxynucleosid 5’-triphosphat
DTT Dithiothreitol (ức chế proteinase)
DEPC Diethylpyrocarbonate
cDNA Complement Desoxyribonucleic acid (DNA bổ xung)
EGF Epidermal Growth Factor (yếu tố tăng trưởng biểu bì)
FGF Fibroblast Growth Factor (yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi)
fPSA free Prostate Specific Antigen (kháng nguyên đặc hiệu TTL
dạng tự do)
GAPDH Glyceraldehyde - 3 phosphat dehydrogenase
HIP Heparan sulfate Interacting Protein
IGF-I Insulin – like Growth Factor (yếu tố tăng trưởng giống
insulin)
IPSS International Prostate Symptom Score (điểm triệu chứng tuyến
tiền liệt Quốc tế)
M-MLV
RT
Moloney Murine Leukemia Virus Reverse Transcriptase
(enzym phiên mã ngược).
OR Odd ratio (tỷ suất chênh)
PDGF Platelet-Derived Growth Factor (Yếu tố tăng trưởng nguồn gốc
tiểu cầu)
PĐLT Phì đại lành tính
PIN Prostatic intraepithelial neoplasia (tân sản nội biểu mô TTL)
PSA Prostate specific antigen (kháng nguyên đặc hiệu TTL)
PSAd PSA density (mật độ PSA)
RNA Ribonucleic acid
mRNA Messenger Ribonucleic acid (RNA thông tin)
RT-PCR Reverse Transcription Polymerase Chain Reaction (phản ứng
PCR nhờ enzym phiên mã ngược)
RLTT Rối loạn tiểu tiện
1
A- GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
Đặt vấn đề: U tuyến tiền liệt bao gồm cả u phì đại lành tính (PĐLT)
và ung thư tuyến tiền liệt (TTL) là bệnh khá phổ biến ở nam giới cao tuổi.
Riêng u PĐLT đã chiếm tới 50% nam giới ở độ tuổi trên 50 với những
triệu chứng rối loạn tiểu tiện cần được điều trị. Tỷ lệ này đang ngày càng
tăng ở các nước phát tri
và phát triển ung thư là gen mã hoá cho Heparan sulfate Interacting
Protein (HIP).
Để góp phần điều tra tình hình u TTL ở thành phố Hải Phòng - một
khu vực thuộc đồng bằng Bắc bộ có nhiều đặc điểm phong phú về địa lý,
dân cư, kinh tế, xã hội và bệnh tật - đồng thời xác định các chỉ số hóa sinh,
để có chiến lược về chẩn đoán, dự phòng, quản lý bệnh u PĐLT và ung thư
TTL, mặt khác với mong muốn năng cao khả năng chẩn đoán s
ớm ung thư
2
TTL, đề tài "Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học, chỉ số hoá sinh và
mức độ biểu hiện gen HIP trong u tuyến tiền liệt" đã được lựa chọn.
Mục tiêu của luận án
1. Mô tả một số đặc điểm dịch tễ học về u tuyến tiền liệt của nam giới
từ 50 tuổi trở lên ở một s
ố vùng của Hải Phòng.
2. Đánh giá một số chỉ số hóa sinh (nồng độ PSA và Zn trong huyết
thanh, tỷ lệ fPSA/PSA, PSAd) của các đối tượng nghiên cứu nói trên.
3. Nghiên cứu biểu hiện của Heparan sulfate Interacting Protein ở mức
độ phiên mã và dịch mã trong mô u tuyến tiền liệt.
Những đóng góp mới của luận án
1. Một số đặc điểm dịch tễ học (tỷ lệ bệnh, tình trạng RLTT, thể tích TTL)
và chỉ s
ố hóa sinh (PSA, fPSA/PSA, PSAd và Zn trong huyết thanh) về u
TTL đã được khảo sát lần đầu tại 3 vùng sinh thái khác nhau của thành phố
Hải Phòng với quy mô tương đối rộng đã góp phần :
- Cung cấp một số thông tin hữu ích, làm cở sở hoạch định chiến lược dự
phòng, quản lý và theo dõi bệnh u PĐLT cũng như ung thư TTL.
- Năng cao chất lượng chẩn đoán bệnh trong cộng đồng.
2. Biểu hiện của HIP ở mứ
trung bình 0,4 gam mỗi năm ở nam giới từ 31 tuổi đến 90 tuổi. Từ 40 tuổi
trở đi, TTL phát triển theo hai hướng, phần lớn theo hướ
ng phì đại và phần
nhỏ thì teo đi.
1.1.4. Vai trò điều hòa của hormon và các yếu tố tăng trưởng đối với
sự phát triển TTL:
* Vai trò của androgen: Testosteron là Androgen chủ yếu trong huyết
thanh có vai trò kích thích sự phát triển của TTL. Trên 95% testosteron do
tế bào Leydig của tinh hoàn sản xuất, dưới 5% testosteron là do sự biến đổi
của những androgen khác như androstenedion, dehydroepiandrosteron
(DHEA) của tuyến vỏ thượng thận.
* Vai trò của estrogen: Nam giới trên 50 tuổi, có sự tăng estradiol và có
xu h
ướng giảm testosteron [42]. Estrogen không những không cản trở sự
tăng trưởng TTL phụ thuộc androgen mà còn hợp lực làm tăng tác dụng
của androgen lên sự phát triển của TTL. Estrogen liều cao có tác dụng ức
chế sinh trưởng TTL.
* Vai trò của các yếu tố tăng trưởng: Các yếu tố tăng trưởng là chất
trung gian liên quan đến sự tăng sinh, biệt hóa và chết tế bào. Dưới tác
dụng kích thích của androgen, các tế bào mô đệm của TTL sản sinh ra một
số yếu tố tăng trưởng quan trọng EGF, FGF, TGF-ß, IGF-I, PDGF.
1.1.5. Chức năng sinh lý TTL
TTL là tuyến sinh dục phụ, đảm nhiệm các chức năng bài tiết, vận
chuyển và bài niệu.
1.2
. U TUYẾN TIỀN LIỆT
Sự tăng sinh không kiểm soát được của cả tế bào biểu mô và mô đệm
của TTL gây ra u TTL bao gồm u PĐLT và ung thư TTL
1.2.1. U phì đại lành tính tuyến tiền liệt
U PĐLT TTL là bệnh thường gặp ở nam giới từ 50 tuổi trở lên, bao
ệ thống
Quốc tế (TNM) (T: khối u; N:hạch; M: dicăn xa).
1.2.2.2. Dấu hiệu cận lâm sàng
* Xét nghiệm hoá sinh máu: Prostate Specific Antigen (PSA) là kháng nguyên đặc
hiệu của TTL, thường tăng cao trong ung thư TTL.
Phosphatase acid của TTL
(PAP) không phải là marker đặc hiệu trong chẩn đoán ung thư TTL, nhưng
khi hoạt độ PAP tăng lên trong máu cho biết ung thư đã ở giai đoạn di căn,
nhất là di căn hạch. Phosphatase kiềm: là marker đặc hiệu cho những di
căn xương đặc (khung chậu, xương đùi, cột sống)
* Siêu âm TTL: có thể phát hiện được khối ung thư TTL có kích thước tối
thiểu là 0,5cm. Siêu âm qua trực tràng giúp định vị để sinh thi
ết TTL và có
thể đánh giá di căn.
* Mô bệnh học: để chẩn đoán xác định ung thư TTL.
+ Tổn thương tiền ung thư TTL: thường gặp là tân sản nội biểu mô
TTL độ cao (PIN độ cao). Một số tác giả cho rằng tổn thương PIN là giai
đoạn đầu của quá trình phát triển ung thư, song tần số của sự chuyển biến
này cũng như khoảng cách giữa hai quá trình chưa được biết rõ.
+ Ung thư TTL: Trên 95% là ung thư biểu mô tuyến, những loại khác
chiếm khoảng 5%. Phân độ
mô học theo Gleason hay được sử dụng nhất
5
để phân loại mô bệnh học ung thư TTL, bao gồm 5 độ biệt hóa, từ cấu trúc
rất biệt hoá (độ 1), đến cấu trúc không biệt hoá (độ 5). Trong cùng một
khối u có nhiều cấu trúc khác nhau, vì vậy tổng độ Gleason được tính bằng
cách cộng độ biệt hoá của 2 mẫu bệnh phẩm đại diện nhất và độ Gleason
có giá trị từ 2 đến 10.
1.3.
chức năng làm loãng tinh dịch khi xuất tinh do biến đổi các protein của
tinh dịch thành các phân tử peptid nhỏ. Mặt khác, PSA có vai trò rất quan
trọng trong quá trình chống ung thư do có khả năng ức chế hiện tượng tăng
sinh mạch máu.
* PSA trong máu ngoại vi: PSA hoạt động vào hệ tuần hoàn được nhanh
chóng kết hợp v
ới các chất ức chế đặc hiệu serin protease. Khoảng 70-90%
lượng PSA hoạt động gắn với α1-antichymotrypsin (ACT-PSA). Một
6
lượng rất nhỏ PSA gắn với α1-antitrypsin (API-PSA), α2-macroglobulin
(αMG-PSA) và α1-protease (inter α-trypsin = ITI-PSA). Các dạng fPSA
không hoạt động (bPSA, pPSA) chiếm khoảng 10-30% PSA toàn phần
trong máu. Ở người bình thường, nồng độ trung bình của PSA huyết thanh
là 4 ng/mL (theo phương pháp miễn dịch phát quang).
* Giá trị của PSA đối với ung thư TTL:
- Giá trị của PSA đối với chẩn đoán ung thư TTL:
PSA không phải là kháng nguyên đặc hiệu của ung thư TTL bởi vậy
PSA tăng c
ả trong u lành tính (9-15%) và ác tính. Tuy nhiên, trong ung thư
TTL, PSA thường tăng gấp 10 lần so với u PĐLT. Vì thế, xét nghiệm PSA
vẫn được sử dụng trong sàng lọc chẩn đoán sớm ung thư TTL Để tăng độ
nhạy, độ đặc hiệu của PSA người ta đã sử dụng các chỉ số:
+ Tỷ lệ % PSA tự do /PSA toàn phần (fPSA/PSA). Tỷ lệ fPSA/PSA
càng thấp thì nguy cơ mắc ung thư TTL càng tăng lên. Giới hạn bình
thườ
ng của fPSA/PSA là ≥0,15. Tỷ lệ này được dùng để chẩn đoán phân
biệt u PĐLT và ung thư TTL khi PSA huyết thanh từ 4-10 ng/mL nhưng
thăm trực tràng lại không nghi ngờ ung thư.
+ Mật độ PSA (PSAd): là tỷ số giữa nồng độ PSA trên thể tích TTL
âm với mức độ sulfate hóa rất cao, có khả năng tương tác với nhiều loại
protein thông qua đó tham gia vào nhiều quá trình sinh học khác nhau
trong việc hình thành và duy trì cấu trúc, chức năng của khoảng gian bào,
nhờ đó điều hòa quá trình liên kết tế bào-tế bào, quá trình phát triển, phân
chia và biệt hóa của tế bào. Các protein thuộc nhóm này có tên gọi chung
là Heparan sulfate Binding Protein (HSBP). HIP là một loại HSBP có ái
lực cao với Heparin / Heparan sulfate được tìm ra vào những năm 1990.
* HIP có nhiều chứ
c năng sinh học như:1) Thúc đẩy quá trình liên kết
tế bào-tế bào; 2) Gắn đặc hiệu và chọn lọc với Heparin / Heparan sulfate
do đó điều hoà quá trình lưu giữ, giải phóng các yếu tố phát triển phụ
thuộc Heparin / Heparan sulfate ở khoảng gian bào. Điều này liên quan
chặt chẽ tới bệnh học ung thư; 3) Tham gia điều hoà quá trình đông máu;
4) Ức chế enzym Heparanase, thông qua đó làm tăng cường mối liên k
ết tế
bào-tế bào.
* Những nghiên cứu về HIP trong ung thư
- Nghiên cứu trên Thế giới
Năm 1997, Carson D và cộng sự đã đưa ra các bằng chứng khoa học
chứng minh sự tổng hợp HIP có liên quan đến các dòng tế bào ung thư vú
ở người (MCF-7, T-470, MDA-MB-468, BT-549). Bằng kỹ thuật hoá mô
miễn dịch sử dụng kháng thể kháng HIP, các tác giả cũng đã chứng minh
protein HIP được tăng cường tổng hợp trong mô ung thư vú tại t
ế bào biểu
mô có độ ác tính và di căn cao. Wang Y và cộng sự (1997) đã chứng minh
mRNA và protein HIP được tăng cường tổng hợp ở các dòng tế bào và mô
ung thư đại tràng. Các giai đoạn phát triển và biệt hoá của khối u có liên
quan đến sự tăng cường tổng hợp này. Đặc biệt với những bệnh nhân có
polyp kèm theo thì biểu hiện của HIP ở mô polyp cao hơn so với mô lành
nhưng thấp hơn so với mô ung thư. Nigris D.F, Fusco A. và cộng sự
Đối tượng nghiên cứu gồm 1270 nam giới, tuổi từ 50 trở lên, sinh
sống và làm việc tại 3 vùng của thành phố Hải Phòng (quận Ngô Quyền,
huyện Vĩnh Bảo và huyện đảo Cát Hải). Số liệu được thu thập từ tháng 6
năm 2005 đến tháng 6 năm 2006. Phân loại u TTL theo các tiêu chuẩn sau:
* Các ch
ỉ số của người bình thường: a) Thăm trực tràng: Bề mặt TTL
phải nhẵn, phải sờ thấy rãnh giữa, hai thuỳ ở hai bên rãnh phân biệt được
rõ ràng, mật độ bên trong không thay đổi. b) Siêu âm qua xương mu khi
bàng quang căng nước tiểu: thể tích TTL≤ 20 cm
3
. c) Nồng độ PSA trong
huyết thanh: ≤ 4 ng/ml.
* Các chỉ số để phát hiện u PĐLT tuyến tiền liệt: a) Thăm trực tràng:
TTL to đều có hình hơi tròn, mất rãnh giữa, ranh giới rõ rệt, mật độ hơi
chắc, đàn hồi và không đau, không có nhân rắn ở các thuỳ. Nếu phì đại ở
thuỳ giữa đơn thuần sẽ không phát hiện được qua thăm trực tràng. b) Siêu
âm qua xương mu khi bàng quang că
ng nước tiểu: thể tích TTL> 20 cm
3
.
c) Nồng độ PSA trong huyết thanh: PSA≤ 4 ng/mL hoặc 4 ng/mL< PSA
≤20 ng/mL với tỷ lệ fPSA/PSA≥0,15 và PSAd≤0,15.
* Các chỉ số để phát hiện ung thư TTL: a) Thăm trực tràng: TTL to có
nhân rắn nằm trên nền TTL bình thường hoặc phì đại. b) Nồng độ PSA
trong huyết thanh: > 4 ng/mL. c) Xét nghiệm mô bệnh học: cho kết quả là
ung thư biểu mô TTL.
9
* Các chỉ tiêu loại trừ: Những người không muốn tham gia vào nghiên
cung cấp. Hóa chất định lượng kẽm: Chất chuẩn kẽm (Merck), chất nền
NaCl, CaCl
2
, KCl, Glycerin đều là hóa chất tinh khiết.Hóa chất dùng để
tách chiết RNA tổng số (Wako-Japan) gồm Isogen,Cloroform Isopropanol,
Ethanol 75%, DEPC. Hóa chất dùng để tổng hợp cDNA (Invitrogen-USA)
gồm: Random primer 5pmol/μL, dNTP 10mM, PCR buffer 5X (250mM
Tris-HCl pH 8,3; 375mM KCl; 15mM MgCl
2
), DTT 0,1M, HPRI 40
U/μL, MMLV- RT 200 U/μL. Hóa chất dùng cho PCR (Invitrogen-USA):
10X buffer (200mM trí-HCl pH 8,4; 500mM KCl), dNTP 10mM, Taq
polymerase 5U/μL, MgCl
2
50mM, mồi GAPDH 10pmol/μL (xuôi và
ngược), mồi HIP 10pmol/μL (xuôi và ngược). Hoá chất điện di acid
nucleic: đệm TBE (0,89M Tris; 0,89M Acid Boric; 0,02M EDTA), đệm
tra mẫu (loading buffer của Invitrogen-USA).
10
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1. Nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang
Sử dụng công thức sau để tính cỡ mẫu [23]:
p x (1 – p)
n = Z
2
1- α/2
d
2
RT-PCR, kỹ thuật Western Blot.
2.4. XỬ LÝ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Xử lý các số liệu bằng các phương pháp thống kê trong y sinh học trên
chương trình SPSS 14., Epi Info 6.0. Tỷ lệ u TTL được tính theo tuổi,
vùng, nghề nghiệp và nguy cơ OR. Các yếu tố ảnh hưởng sẽ được trình
bày theo tỷ suất chênh (OR) và ước lượng khoảng tin cậy của OR ở mức
95% (95%CI). Các chỉ số hóa sinh và kết quả HIP được tính trung bình
(
X
), khoảng tin cậy 95% của
X
(95%CI), độ lệch chuẩn (SD), trung vị,
phân vị (90% và 10), sử lý theo các thuật toán so sánh T test, Anova test.
Các mối tương quan được tính theo hệ số tương quan r.
11
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC CỦA U TTL
3.1.2. Tỷ lệ u TTL tại một số vùng của Hải phòng
* Tỷ lệ u TTL trên 1270 nam giới ≥ 50 tuổi, ở 3 vùng của Hải Phòng.
Bảng 3.2. Tỷ lệ u TTL ở các đối tượng nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu n %
Người bình thường 544 42,83
U PĐLT 722 56,85
Ung thư 4 0,32
Tổng số 1270 100
* Tỷ lệ u PĐLT TTL theo tuổi
1266 đối tượng nghiên cứu (loại trừ 4 người bị ung thư) được chia
thành ba nhóm tuổi.
Bảng 3.3. Tỷ lệ u PĐLT TTL trong các nhóm tuổi
Thể tích TTL (cm3)
Tỷ lệ %
Hình 3.9. Biểu đồ phân bố thể tích TTL đo bằng siêu âm
12
Bảng 3.7. Thể tích TTL trong các nhóm tuổi (cm
3
)
Tuổi n
X
± SD
p
50-59 521
21,23 ± 4,76
60-69 453
23,62 ± 8,07
≥70 292
27,66 ±11,61
< 0,001
Tổng số 1266
23,57
±
8,35 * Có tương quan tuyến tính thuận giữa thể tích TTL với tuổi tuân theo
phương trình : Thể tích TTL = 0,298 tuổi + 5,000 ; với r = 0,317; p < 0,01.
3.1.5. Tình trạng rối loạn tiểu tiện
60
70
50-59 60-69 ≥ 70 Chung
Nhóm tuổi
Mức độ RLTT (%)
Nhẹ Trung bình Nặng (p<0,001)
Hình 3.11. Biểu đồ mức độ RLTT trong các nhóm tuổi
của nhóm u PĐLT
Ở nhóm u PĐLT, tỷ lệ bị RLTT ở mức trung bình và nặng chiếm 45,2 %.
13
3.2. MỘT SỐ CHỈ SỐ HÓA SINH LIÊN QUAN ĐẾN U TTL
3.2.1. Nồng độ PSA trong huyết thanh
* 1270 đối tượng nghiên cứu được định lượng PSA toàn phần (PSA).
Bảng 3.10. Nồng độ PSA trong huyết thanh của các nhóm nghiên cứu
Nồng độ PSA (ng/mL)
Nhóm
nghiên cứu
n
X
SD 95%CI Trung vị
Phân vị 90%
Người BT 544 0,78 0,64 0,72-0,83 0,62 1,38
U PĐLT 722 1,79 2,13 1,63-1,94 1,10 4,00
Ung thư 4 79,36 54,20 0-165,06 59,10 129,38
* Nồng độ PSA trong huyết thanh theo tuổi của 1266 đối tượng (loại
14
p>0,05
0,13
n=4
0,25
n=352
0,27
n=254
0
0.05
0.1
0.15
0.2
0.25
0.3
0.35
0.4
0.45
Người bình thường U PĐLT Ung thư
Nhóm nghiên cứu
Tỷ lệ fPSA/PS
A
Hình 3.14. Biểu đồ tỷ lệ fPSA/PSA của các nhóm nghiên cứu
* Phân bố tỷ lệ fPSA/PSA của 606 đối tượng nghiên cứu theo nhóm
tuổi (loại trừ 4 người bị ung thư).
Bảng 3.15. Tỷ lệ fPSA/PSA trong các nhóm tuổi
của người bình thường và u PĐLT
Tuổi n
Người BT 544 0,043 0,036 0,040-0,046 0,035 0,074
U PĐLT 722 0,062 0,059 0,057-0,066 0,043 0,125
Ung thư 4 1,593 0,809 0,306-2,881 1,460 2,382
15
Bảng 3.18. Mật độ PSA trong các nhóm tuổi của
người bình thường và u PĐLT
Tuổi n
X
SD 95%CI Trung vị Phân vị 90%
50-59 521 0,041 0,032 0,039–0,044 0.034 0,069
60-69 453 0,057 0,057 0,052-0,062 0,040 0,113
≥70 292 0,071 0,064 0,063-0,078 0,053 0,140
p < 0,001
* Xét về nguy cơ ung thư TTL, cho thấy nhóm có PSA≤4 ng/mL vẫn
có 22 người (1,7%) có PSAd >0,15, còn nhóm có PSA từ 4,1-10 ng/mL có
27 người (2,2%) và nhóm có PSA>10 ng/mL có 14 người (1,1%) đều đồng
thời có PSAd >0,15 là người có nguy cơ ung thư TTL cao cần sinh thiết.
3.2.4.Nồng độ Zn trong huyết thanh
* 845 đối tượng nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên để định lượng Zn.
p<0,001
15,56
n=368
12,98
n=473
8,77
n=4
0
5
11,63-13,17
p < 0,001
16
3.3 BIỂU HIỆN CỦA HIP TRONG MÔ U TTL
3.3.2. Kết quả biểu hiện của mRNA của HIP ở mô u TTL
3.3.2.1. Tách chiết RNA tổng số
Đã tách chiết được RNA của 86 mẫu mô u TTL gồm 30 mẫu mô u
PĐLT, 12 mẫu mô PIN độ cao và 44 mẫu mô ung thư biểu mô.
Xác định nồng độ và độ tinh sạch của RNA tổng số bằng phương pháp
đo quang phổ. Tất cả các mẫu RNA thu được đều có độ tinh sạch khá cao
dao động từ 1,8-2,0.
Bảng 3.28. Nồng độ RNA t
ổng số của các mẫu mô u TTL
Nồng độ RNA (ng/µL)
Nhóm bệnh n
X
Min Max
PĐLT 30 754 543 1012
PIN độ cao 12 706 544 841
Ung thư TTL 44 1073 509 3401
3.3.2.2. Bán định lượng mRNA của HIP trong mô u TTL bằng kỹ thuật
RT- PCR
Khuếch đại mRNA của HIP ở mô u TTL bằng kỹ thuật RT- PCR
Chỉ các mẫu mô đạt tiêu chuẩn về độ tinh sạch mới được tiến hành
tổng hợp cDNA bàng enzym phiên mà ngươc MMLV-RT. Để đánh giá
mức độ phiên mã của HIP trong mô ung thư TTL đối chiếu với mô PIN độ
cao và mô u PĐLT, phản ứng PCR được tiến hành ở các mẫu mô u TTL
với lượng cDNA đồ
SD
U PĐLT 30 91 20,1 202 10,3 0,45 0,09
PIN độ cao 12 151 43,1 203 13,9 0,75 0,25
Ung thư 44 215 26,0 207 11,3 1,04 0,14
p < 0,001 > 0,05 < 0,01
3.3.3. Xác định protein HIP ở các mô u PĐLT, PIN độ cao và ung thư
TTL bằng kỹ thuật Western blot
Hình 3.28. Mức độ biểu hiện protein HIP ở các mẫu mô u TTL
(A) Hình ảnh điện di protein tổng số trên SDS-PAGE
(B) Kết quả Western blot biểu hiện protein HIP: u PĐLT (1-4),
PIN độ cao(5-6), ung thư (7-10), M: Marker protein
Bảng 3.31. Bán định lượng protein HIP trong mô u TTL (OD)
U PĐLT (1) PIN (2) Ung thư (3)
Nhóm
n
X
SD n
X
SD n
X
SD
HIP 11 0,09 0,02 2 0,13 0,01 11 0,19 0,05
p (1-3) < 0,001
1
H
ải là 23.147 thì có thể dự đoán sẽ có khoảng 13.159 người bị u PĐLT và
khoảng 74 người bị ung thư TTL ở 3 vùng này. Những thông tin này sẽ có
ích cho Y tế dự phòng hoạch định các chính sách theo dõi và quản lý 2
bệnh này ở thành phố Hải Phòng.
* Tỷ lệ u PĐLT chung của 3 vùng nghiên cứu ở thành phố Hải Phòng
tăng rõ rệt theo các nhóm tuổi: 48,9% (50-59 tuổi), 60,7% (60-69 tuổi) và
65,8%, (≥ 70 tuổi) với p<0,001) (bảng 3.3). So sánh nguy cơ mắc bệnh
trong các nhóm tuổi này cho thấ
y nhóm 60-69 tuổi có nguy cơ mắc bệnh
cao gấp 1,6 lần nhóm 50-59 tuổi (OR = 1,62; 95%CI= 1,24-2,12). Nguy cơ
mắc bệnh của nhóm tuổi từ 70 trở lên cao gấp hơn 2 lần so với nhóm 50-
59 tuổi (OR = 2,05; 95%CI= 1,50-2,80). Vấn đề u PĐLT TTL tăng theo
tuổi chủ yếu là vì tuổi càng cao càng làm nặng thêm tình trạng mất cân
bằng giữa androgen và estrogen. Sự tăng estrogen do quá trình chuyển hóa
ngoại vi của testosteron gây kích thích quá trình tăng sản mô đệm. Chính
sự tương tác giữa mô đệm và biểu mô TTL theo cơ chế
điều hòa tự tiết và
cận tiết của các yếu tố FGF và EGF gây kích thích sự phát triển của các tế
bào biểu mô TTL. Kết quả là sự tăng trưởng các tế bào mầm sẽ mạnh hơn
sự chết theo chương trình của các tế bào đã biệt hóa.
4.1.3. Đánh giá về thể tích tuyến tiền liệt
Khảo sát trên 1266 đối tượng nghiên cứu cho thấy nhóm có thể tích
TTL ≤20 cm
3
chiếm tỷ lệ cao nhất (43,0%) và nhóm có thể tích >50 cm
3
chỉ chiếm 1,7% (hình 3.9). Từ kết quả này có thể dự đoán các phương
pháp phẫu thuật cần thực hiện ở cộng đồng là mổ nội soi (thường với thể
độ RLTT chung của các đối tượng thì có 54,8% ở mức nhẹ, 45,2% ở mức
trung bình và nặng (hình 3.11). Tỷ lệ bị RLTT của 722 đối tượng có u
PĐLT TTL tăng rõ theo tuổi (p<0,05), bởi vì tuổi càng cao thì trương lực
cơ càng giảm, dẫn đến sự đàn hồi kém dần gây RLTT.
4.2. VỀ MỘT SỐ CHỈ SỐ HÓA SINH LIÊN QUAN ĐẾN U TTL
4.2.1. PSA
* Kết quả về nồng độ PSA trong huyết thanh ở 1270 nam giới từ 50 tuổi
trở lên (bảng 3.10) cho thấy PSA ở nhóm u PĐLT tăng rõ so với nhóm
người bình thường (p<0,001), còn PSA ở nhóm ung thư (79,36 ± 54,20
ng/ml) cao gấp khoảng 50 lần nhóm u PĐLT (1,79 ± 2,13 ng/mL) và gấp
khoảng 100 lần nhóm người bình thường TTL (0,78 ± 0,64 ng/mL). Kết
quả này phù hợp với lý thuyết cho rằng PSA là do tế bào biểu mô TTL sản
xuất, mà u PĐLT cũng do biểu mô TTL gây nên vì đều làm tăng PSA
trong máu. Trong ung thư
TTL PSA lại được sản xuất nhiều hơn được coi
là một phản ứng mạnh mẽ của cơ thể chống lại sự ác tính hoá của biểu mô
tuyến bằng hai cơ chế: trực tiếp kìm hãm sự phát triển của tế bào u và quan
trọng hơn nữa là phá huỷ các mao mạch tân sinh nuôi dưỡng khối u.
* Nồng độ PSA tăng có ý nghĩa theo sự tăng của các nhóm tuổi 0,89
ng/ml (50-59 tuổi); 1,40 ng/ml (60-69 tuổi) và 2,10 ng/ml (
≥70 tuổi) với
p<0,001 (bảng 3.11). Về vấn đề này còn có nhiều tranh luận, nhưng dù sao
trên thực tế lâm sàng khi biện luận kết quả xét nghiệm PSA hay khi so
sánh các kết quả xét nghiệm vẫn nên quan tâm đến tuổi của người bệnh.
* Có thể coi TTL to lên theo tuổi là một hiện tượng sinh lý tự nhiên. Nó
chỉ được gọi là bất thường khi phát triển với tốc độ cao, gây u phì đại. Kết
quả nghiên cứu trên nhóm có u PĐLT và người bình thường cho thấy có
mối tương quan thuận khá chặt giữa nồng độ PSA với thể tích TTL
(r=0,515; p<0,01).
* Trên thực tế lâm sàng cần phải lưu ý đặc biệt đến những người có mức
quả này phù hợp với nhiều nghiên cứu khác.
* Ở ngưỡng bình thường của PSA ≤4 ng/mL, vẫn phát hiện có 12,1%
(74/610) người có fPSA/PSA <0,15 cần được theo dõi để chẩn đoán sớm
ung thư TTL. Với PSA từ 4,1-10 ng/mL tỷ
lệ này chiếm 3,1% (19/610),
những người này cần sinh thiết để phát hiện sớm ung thư TTL. Trái lại,
với PSA>10ng/mL lại phát hiện thấy có 1% (6/610) người có fPSA/PSA ở
ngưỡng bình thường (≥0,15), những người này cần làm thêm các xét
nghiệm khác để quyết định sinh thiết để giảm âm tính. Như vậy tỷ lệ
fPSA/PSA làm tăng giá trị của PSA trong chẩn đóan ung thư TTL.
4.2.3. Mật độ PSA
* Mật độ PSA là tỷ s
ố giữa nồng độ PSA trong huyết thanh và thể tích
TTL, cho biết 1cm
3
mô TTL sản xuất ra nhiều hay ít PSA, nó có giá trị
làm tăng độ đặc hiệu của PSA trong chẩn đoán phân biệt u PĐLT và ung
thư. Mật độ PSA của các nhóm nghiên cứu được thể hiện ở bảng 3.17 cho
biết PSAd trung bình của nhóm u PĐLT tăng rõ so với nhóm người bình
21
thường với p<0,001, còn ở nhóm ung thư (1,59±0,80) tăng gấp trên 20 lần
nhóm u PĐLT (0,06±0,05) và gần 40 lần so với nhóm người bình thường
(0,04±0,03). Như vậy, ở nhóm u PĐLT PSAd cũng tăng so với nhóm
người bình thường nhưng tốc độ không cao như ở nhóm ung thư. Kết quả
này phù hợp với nhiều công bố khác. Vì trong ung thư biểu mô tuyến, tế
bào biểu mô sản xuất lượng PSA tăng gấp 10 lầ
n trong u PĐLT. Mặt khác,
sinh bệnh học của u PĐLT là do tăng sinh tế bào biểu mô và mô đệm của
TTL vì thế PSAd tăng so với người bình thường.
chính là khởi đầu của giai đoạn chuyển đổi từ trạng thái bình thường sang
ung thư. Nguyên nhân của sự biến đổi này là do ở tế bào ung thư TTL có
sự giảm điều hòa biểu thị gen hZIP1 dẫn đến thiếu protein vận chuyển kẽm
là hZIP1. Phải chăng cơ chế gây giảm kẽm ở tế bào UPĐLT cũng tượng tự
như vậy.