nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, sự lưu hành của bệnh cúm gia cầm và hiệu quả sử dụng vaccine trong thực địa tỉnh bắc ninh - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––
NGUYỄN THỊ DÀNG NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ,
SỰ LƢU HÀNH CỦA BỆNH CÚM GIA CẦM VÀ HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG VACCINE TRONG THỰC ĐỊA TỈNH BẮC NINH

Chuyên ngành: THÚ Y
Mã số: 60.62.50

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. TÔ LONG THÀNH
TS. NGUYỄN VĂN QUANG

Chăn nuôi- Thú Y trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên.
Ban Lãnh đạo và toàn thể cán bộ Chi cục Thú y, đồng nghiệp đang làm
việc trong lĩnh vực Chăn nuôi - Thú y của tỉnh Bắc Ninh.
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được gửi lời cảm ơn sâu
sắc tới gia đình, người thân cùng bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi vượt qua
khó khăn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, thực hiện đề tài.
Một lần nữa tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn, cảm ơn chân thành tới
những tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình
học tập.
Thái Nguyên, tháng 09 năm 2010
Tác giả Nguyễn Thị Dàng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Ý nghĩa khoa học của đề tài 3
4. Địa điểm nghiên cứu 3
5. Thời gian 3
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Giới thiệu chung về bệnh cúm gia cầm 4
1.2. Dịch tễ học bệnh cúm gà 4
1.2.1. Lịch sử bệnh cúm gia cầm 4
1.2.2 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới và trong nước 6
1.2.3. Phân bố dịch bệnh 9
1.2.4. Động vật cảm nhiễm 9

2.1.5. Giám sát huyết thanh học trên đàn gia cầm sau tiêm vacxin 35
2.2. Vật liệu 35
2.2.1. Đối tượng kiểm tra 35
2.2.2. Vacxin 35
2.2.3. Các hoá chất dùng trong xét nghiệm 35
2.2.4. Các trang thiết bị và cơ sở vật chất 37
2.3. Phương pháp nghiên cứu 37
2.3.1. Phương pháp nghiên cứu dịch tễ 37
2.3.2. Thống kê một số chỉ tiêu liên quan đến chăn nuôi và dịch
cúm gia cầm của tỉnh Bắc Ninh 37
2.3.3. Giám sát một số chỉ tiêu của đàn gia cầm sau tiêm phòng
vacxin H5N1 của tỉnh Bắc Ninh 38
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2.3.3.1. Giám sát lâm sàng 38
2.3.3.2. Giám sát huyết thanh 38
2.3.3.3. Lấy mẫu 38
2.3.3.4. Phản ứng ngưng kết hồng cầu HA 39
2.3.3.5. Giám định virus phân lập bằng phản ứng ngăn trở ngưng
kết hồng cầu HI 40
2.3.3.6. Phương pháp xử lý số liệu 41
Chƣơng 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 42
3.1. Điều tra tình hình dịch bệnh và thống kê thiệt hại kinh tế do dịch
cúm gia cầm gây ra từ năm 2003 đến năm 2009 tại Bắc Ninh 42
3.1.1. Tình hình dịch bệnh trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 42
3.1.2. Thống kê thiệt hại do dịch cúm gia cầm gây ra trên địa bàn tỉnh 43
3.2. Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh cúm gia cầm 45
3.2.1. Ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ phát bệnh 45
3.2.2. Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi đến tỷ lệ mắc bệnh 46
3.3. Kết quả tiêm phòng cúm gia cầm của tỉnh Bắc Ninh năm 2009 47

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TN : Thí nghiệm
ARN : Acid ribonucleic
cADN : Complementary ADN
GMT : Geographic Mean Titre
HA : Hemagglutination test
HI : Hemagglutination inhibitory test
HPAI : High Pathogenicity Avian Influenza
KN : Antigene
KT : Antibody
LPAI : Low Pathogenicity Avian Influenza
OIE : Office Internationale des Epizooties
PBS : Phosphate- Buffered- Saline
RT - PCR : Reverse Transcription- Polymerase Chain Reaction
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1. Tình hình dịch bệnh cúm gia cầm trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
từ năm 2004 đến 2009 42
Bảng 3.2. Thống kê số gia cầm bị bệnh, chết và tiêu hủy do dịch cúm
gia cầm từ năm 2004 đến 2009 43
Bảng 3.3. Biến động về số lượng gia cầm và sản phẩm từ gia cầm của
tỉnh Bắc Ninh từ năm 2004 đến năm 2009 44
Bảng 3.4. Biến động tỷ lệ mắc bệnh theo mùa trong năm 45
Bảng 3.5. Biến động tỷ lệ mắc bệnh cúm gia cầm theo phương thức
chăn nuôi 46

phòng vaccine 76
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC HÌNH
Hình ảnh đầu tiên được công bố về cúm gia cầm (7/11/2005) 15
Virut H5N1 nhìn qua kính hiển vi điện tử 16

DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ

Biểu đồ 3.1: Phân bố hiệu giá kháng thể kháng virus cúm của gà tại thời
điểm 1 tháng sau tiêm vaccine 53
Biểu đồ 3.2. Phân bố hiệu giá kháng thể của gà tại thời điểm 3 tháng sau
khi tiêm vaccine 57
Biểu đồ 3.3. Phân bố hiệu giá kháng thể của gà tại thời điểm 5 tháng sau
tiêm vaccine cúm gia cầm 61
Biểu đồ 3.4. Phân bố hiệu giá kháng thể qua các thời điểm 1, 3 và 5
tháng sau tiêm phòng cúm gia cầm. 63
Biểu đồ 3.5. Phân bổ hiệu giá kháng thể của vịt tại thời điểm 1 tháng sau
khi tiêm vaccine mũi 2 67
Biểu đồ 3.6. Phân bố hiệu giá kháng thể của vịt tại thời điểm 3 tháng sau
khi tiêm vaccine mũi 2 71
Biểu đồ 3.7: Phân bố hiệu giá kháng thể qua các thời điểm 1, 3 tháng
sau tiêm vaccine mũi 2 ở vịt 72

Đồ thị 3.1. Diễn biến kháng thể trung bình của gà sau khi tiêm vaccine 65
Đồ thị 3.2. Diễn biến kháng thể trung bình của vịt sau khi tiêm vaccine 75
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2
tiêu huỷ khoảng 47 triệu con. Những năm sau dịch đã giảm về số lượng và qui
mô nhưng vẫn xảy ra rải rác và có diễn biến hết sức phức tạp.
Bệnh càng trở nên nguy hiểm hơn khi kháng nguyên gây bệnh luôn có
sự thay đổi. Sự xuất hiện đột ngột và bất ngờ với diễn biến bệnh phức tạp
khiến loài người luôn ở thế cảnh giác với bệnh.
Thực tế cho thấy, dù chúng ta đã áp dụng nhiều biện pháp tích cực như:
tiêu huỷ đàn gia cầm bị bệnh và các đàn xung quanh, vệ sinh tiêu độc, hạn chế
di chuyển, kiểm soát giết mổ… tuy nhiên do tập quán chăn nuôi nhỏ lẻ và ý
thức chấp hành pháp lệnh thú y của người dân thấp nên các biện pháp trên tỏ
ra kém hiệu quả dẫn đến bệnh vẫn tiếp tục tồn tại và lây lan. Theo khuyến cáo
của các tổ chức thú y quốc tế việc phối hợp các biện pháp an toàn sinh học
với tiêm phòng có thể làm tăng ngưỡng nhiễm mầm bệnh, giảm bệnh lâm
sàng và hạn chế sự bài thải của virus [20]. Để phòng chống dịch cúm gia cầm
H5N1 cuối năm 2005 Bộ nông nghiệp và PTNT đã cho phép nhập khẩu
vaccine vô hoạt cúm gia cầm của Hà Lan và Trung Quốc và tiến hành dự án
tiêm phòng vaccine phòng dịch cúm gia cầm. Đến nay đã thực hiện được 2
giai đoạn, giai đoạn 1 (2005 - 2006), giai đoạn 2 (2007 - 2008) và giai đoạn 3
(2009 - 2010).
Trong dự án tiêm phòng vaccine cúm gia cầm năm 2009 -2010 của Bộ
nông nghiệp và PTNT, Bắc Ninh thuộc tỉnh tiêm phòng bắt buộc trên toàn địa
bàn. Để có thể đưa ra những đánh giá về hiệu quả và tính khả thi của việc
tiêm phòng vaccine trên địa bàn tỉnh, chúng tôi tiến hành nghiêm cứu đề tài:
“Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, sự lưu hành của bệnh cúm gia cầm và
hiệu quả sử dụng vaccine trong thực địa tỉnh Bắc Ninh”.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Làm rõ hơn một số đặc điểm dịch tễ của bệnh cúm gia cầm.
- Đánh giá mức độ thiệt hại do dịch cúm gia cầm gây ra đối với tỉnh

Bệnh cúm ở gia cầm thường gọi là bệnh cúm gia cầm hay bệnh cúm gà
(avian influenza) là một bệnh truyền nhiễm gây ra bởi virus cúm typ A thuộc
họ Orthomyxoviridae với nhiều subtyp khác nhau [29].
Trước đây bệnh còn được gọi là bệnh dịch tả gà (Fowl plague), sau Hội
nghị Quốc tế lần thứ nhất về bệnh cúm gia cầm tại Beltsville, Mỹ, năm 1981
đã thống nhất gọi tên bệnh là bệnh cúm truyền nhiễm cao ở gia cầm (Highly
pathogenic avian influenza viết tắt là HPAI) để chỉ một bệnh do virus cúm typ
A có độc lực mạnh gây ra[2].
Bệnh cúm gia cầm HPAI là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, có tốc độ
lây lan rất nhanh với tỉ lệ chết cao trong đàn gia cầm nhiễm bệnh. Virus gây
bệnh chủ yếu thuộc loại H5, H7 và H9, gây bệnh cho gà, vịt, ngan, ngỗng, đà
điểu, các loại chim. Bệnh xảy ra ở đường hô hấp, đường tiêu hoá và hệ thống
thần kinh. Tuỳ theo độc lực của chủng virus gây bệnh và điều kiện ngoại cảnh
mà biểu hiện bệnh lý ở gia cầm mắc bệnh có sự thay đổi khác nhau. Các
chủng virus có độc lực cao thường có biểu hiện bệnh lý trầm trọng với tỷ lệ
chết cao, có thể lên tới 100% số gia cầm nhiễm bệnh chỉ trong vài giờ đến vài
ngày nhiễm bệnh. Virus còn gây bệnh cho cả con người và có thể thành đại
dịch, vì thế bệnh cúm gia cầm đang ngày càng trở nên nguy hiểm hơn bao giờ
hết [3], [17].
1.2. DỊCH TỄ HỌC BỆNH CÚM GÀ
1.2.1. Lịch sử bệnh cúm gia cầm
Bệnh cúm gia cầm lần đầu tiên được phát hiện ở Italy vào năm 1878, lúc
này bệnh được gọi là bệnh “dịch tả gia cầm” (Fowl plague), năm 1901 Centanni
và Sarunozzi đã tìm ra căn nguyên siêu nhỏ qua lọc. Năm 1955, Achafer đã

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

5
khẳng định căn nguyên gây bệnh là loại virus thuộc nhóm virus cúm typ A thông
qua kháng nguyên bề mặt là H7N1 và H7N7. Từ đó các nhà khoa học đã khẳng

giới. Bệnh xảy ra nghiêm trọng nhất với gia cầm thuộc phân typ H5 và H7
như ở Scotland năm 1959 là H5N1, ở Mỹ năm 1983 - 1984 là H5N2 [2].
Năm 1997 ở Hồng Kông lần đầu tiên virus cúm gia cầm đã vượt “rào
cản về loài” để lây nhiễm và gây tử vong cho người [19]. Sự phát hiện này đã
nâng mức độ nguy hiểm của bệnh lên tầm quan trọng mới.
Đến nay, dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở khắp các châu lục với mức độ
ngày càng phức tạp và nguy hiểm hơn. Trước thực trạng này Hiệp hội các nhà
chăn nuôi gia cầm tổ chức hội thảo chuyên đề về bệnh cúm gà. Hội thảo lần
đầu tiên tổ chức tại Ailen vào năm 1981, lần thứ 2 năm 1987 và lần thứ 3 cũng
tại Ailen năm 1992. Từ đó đến nay trong các hội nghị về dịch tễ trên thế giới,
bệnh cúm gia cầm luôn là một trong những nội dung được coi trọng [17].
1.2.2 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới và trong nƣớc
* Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới
Bệnh đã xuất hiện ở hầu khắp các nước trên thế giới. Trong đó, những
nước xảy ra dịch mang tính chất điển hình như:
Mỹ: năm 1963 do chủng H1N1 từ thuỷ cầm gây bệnh cho gà, gà tây.
Năm 1983 -1984 dịch cúm gà đã quay trở lại với chủng virus gây bệnh là
H5N2, xảy ra ở 3 bang Pensylvania, Virginia, Newtersey làm chết và tiêu huỷ
hơn 19 triệu gà [16].
Ở Australia: bệnh được phát hiện năm 1975, đến năm 1986 dịch tái
phát tại bang Victoria do chủng H5N2.
Ireland: trong 2 năm xuất hiện dịch (1983 -1984) người ta đã phải tiêu
huỷ 270 nghìn con vịt tuy không có triệu chứng lâm sàng nhưng đã phân lập
được virus cúm chủng độc lực cao (HPAI).
Hồng Kông: năm 1997, dịch cúm gà xảy ra do virus cúm typ A subtyp
H5N1 gây bệnh. Lần đầu tiên virus cúm gia cầm đã vượt “rào cản về loài” để

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

7

8
* Từ ngày 11/2 đến 27/2/2004
Tính đến ngày 27/2/2004 dịch bệnh đã xảy ra ở 2.574 xã, phường, 381
huyện, thị thuộc 57 tỉnh thành phố. Gây thiệt hại kinh tế lớn.
* Trong năm 2005
Dịch xảy ra 3 đợt: Đợt 1 từ ngày 1/1 đến 29/4 dịch xảy ra ở 670 xã, tại
182 huyện thuộc 35 tỉnh, thành phố trong cả nước. Làm chết và tiêu huỷ
1.847.213 con gia cầm.
Đợt 2 từ ngày 29/6 đến 23/8 dịch xảy ra ở 14 xã, 12 huyện trong 8 tỉnh.
Làm chết và tiêu huỷ 12.164 con gia cầm.
Đợt 3 từ ngày 1/10 đến 15/12 dịch tái phát ở 305 xã, phường, 108 quận,
huyện thị xã của 24 tỉnh, thành phố. Làm chết và tiêu huỷ 3.972.943 con
Tổng số năm 2005 dịch đã làm chết và tiêu huỷ hơn 4,78 triệu con.
Năm 2006 cả 3 miền không xảy ra dịch. Đây là kết quả đạt được sau sự
chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Ban chỉ đạo quốc gia và hiệu quả của chiến
dịch tiêm phòng đợt năm 2005 và đợt 1 năm 2006.
* Tình hình dịch cuối năm 2006 - đầu năm 2007
Dịch xảy ra chủ yếu trên đàn vịt chăn nuôi nhỏ lẻ, dưới 3 tháng tuổi, ấp
nở trái phép và chưa được tiêm phòng vaccine. Có 2 đợt xảy ra.
Đợt 1: từ 6/12/2006 đến 7/3/2007 dịch xảy ra trên 83 xã, phường của
33 huyện quận thuộc 11 tỉnh, thành phố. Làm chết và tiêu huỷ 103.094 con
gia cầm.
Đợt 2: từ 1/5 đến 23/8/2007 dịch xảy ra ở 167 xã, phường của 70
huyện, thị của 23 tỉnh, thành phố. Làm chết và tiêu huỷ 294.849 con gia cầm.
So với những năm trước, dịch cúm gia cầm trong năm 2007 xảy ra với
mức độ và địa bàn ít hơn nhiều.
* Tình hình dịch từ đầu năm 2008 đến nay
Có 74 đàn gia cầm tại 57 xã, phường thị trấn của 40 huyện, thị xã thuộc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

10
Vịt nuôi bị nhiễm virus nhưng ít phát thành bệnh do vịt có sức đề
kháng với virus gây bệnh. Tuy nhiên năm 1961 ở Nam Phi đã phân lập được
virus cúm typ A (H5N1) gây bệnh cho cả gà và vịt [1,4].
1.2.5. Động vật mang virus
Virus cúm đã phân lập được ở hầu hết các loài chim hoang dã như vịt
trời, thiên nga, hải âu, mòng biển, vẹt, vẹt đuôi dài, vẹt mào, chim thuộc họ
sẻ, diều hâu.
Tần suất và số lượng virus phân lập được ở thủy cầm (đặc biệt vịt trời)
đều cao hơn các loài khác [1]. Kết quả điều tra thủy cầm di trú ở Bắc Mỹ cho
thấy trên 60% chim non bị nhiễm virus do tập hợp đàn trước khi di trú.
Những kết quả điều tra về sự phân bố rộng của virus cúm týp A ở chim
hoang dã đặc biệt là vịt trời đã cho thấy: sự kết hợp các kháng nguyên bề mặt
H và N của các phân týp virus cúm týp A diễn ra ở chim hoang dã. Ở những
loài này virus không gây độc đối với vật chủ, chúng được nhân lên ở đường
ruột và khu trú ở đấy tạo thành nguồn reo rắc virus qua phân, nước uống cho
các loài khác đặc biệt là gia cầm.
Cuối tháng 10/2004 FAO, OIE và WHO đưa ra khuyến cáo rằng vịt
nuôi có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc làm lây lan chủng virus
cúm gia cầm H5N1 thể độc lực cao cho các gia cầm khoẻ và rất có thể lây
truyền virus trực tiếp cho người. Vịt nuôi không thể hiện các triệu chứng lâm
sàng bệnh lý, vịt có thể là con vật tàng trữ đối với virus cúm H5N1. Hiện tại,
FAO và OIE đang phối hợp với nhau đánh giá vai trò của vịt nuôi, từ đó đưa
ra các chiến lược lâu dài với mục đích khống chế các ổ dịch cúm gia cầm ở
châu Á. Virus H5N1 lưu hành ở một số khu vực châu Á có độc lực đối với gà
và chuột đã được tăng lên và virus này đã mở rộng phổ gây bệnh của nó trên
cả loài mèo.

gần đây đã có sự lây lan thứ cấp thông qua con người [1,4].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

12
* Sự lây lan
Mức độ virus thể độc lực thấp hoặc độc lực cao xuất hiện và lây lan ở
gia cầm có vẻ khá khác nhau và phụ thuộc vào mức an toàn sinh học và mật
độ gia cầm trong vùng phụ cận của các ổ dịch ban đầu hoặc sự trỗi dậy của
chủng virus thể độc lực cao.
Thông thường sự lây lan có thể là sự xâm nhập nguyên phát hoặc thứ
phát ở gia cầm.
- Sự xâm nhập nguyên phát
Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu con đường xâm nhập của virus vào
đàn gia cầm và đưa ra một số kết luận sau:
+ Gia cầm nằm trên đường thuỷ cầm di trú có tỷ lệ hiện mắc cao hơn
nhiều so với các vùng khác.
+ Gia cầm nuôi trong điều kiện phơi nhiễm (ví dụ như gà tây trên bãi
thả, vịt trong thời kỳ vỗ béo ) có tỷ lệ hiện mắc cao hơn.
+ Các nghiên cứu giám sát ở nhiều khu vực có vấn đề của bệnh LHAI ở
gia cầm đã cho thấy có cùng một sự biến thiên ở các phân týp của virus trong
các ổ dịch gà tây và thuỷ cầm đã được lấy mẫu (Senne, 2003).
+ Các ổ dịch cúm xảy ra theo mùa ở những vùng có nguy cơ cao, trùng
khớp với hoạt động của chim di trú (Halverson et al, 1987).
+ Ở hầu hết các ổ dịch đặc trưng có trong tư liệu, người ta đã thu được
chứng cứ về sự tiếp xúc với thuỷ cầm trước khi nhiễm bệnh.
Như vậy, có thể nói thuỷ cầm và các loài chim hoang khác có thể là
nguyên nhân gây ra bệnh cúm gia cầm cho gia cầm trực tiếp hoặc gián tiếp.
Tuy nhiên những khả năng khác không nên bác bỏ ví dụ: rất có khả năng là
virus H1N1 có thể truyền lây giữa lợn, người, gà tây và sự xâm nhập của

đổi đột ngột, làm giảm sức đề kháng tự nhiên của con vật. Mặt khác thời điểm
này có mật độ chăn nuôi cao nhất trong năm, các hoạt động vận chuyển, giết
mổ gia cầm diễn ra cao nhất cũng là điều kiện thuận lợi để dịch bệnh phát
sinh lây lan.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

14
Cũng theo phát hiện của các nhà khoa học từ viện sức khỏe quốc gia
(01/04/2008) cho biết vào mùa đông khi nhiệt độ giảm, lớp vỏ lipid của virus
đông cứng lại thành 1 dạng gel có khả năng bảo vệ virus trước các tác động
có hại cho chúng, khi xâm nhập vào cơ thể vật chủ mới, nhiệt độ ấm của cơ
thể (>60
o
F (19
0
C) lớp vỏ dần rã đông, tan chảy thành dạng lỏng bởi vậy mà
virus có thể gây nhiễm cho tế bào của vật chủ mới.
1.3. ĐẶC ĐIỂM CỦA VIRUS CÚM TYP A
1.3.1. Đặc điểm cấu trúc chung của virus thuộc họ Orthomyxoviridae
Họ orthomyxoviridae gồm có 4 nhóm virus là:
+ Nhóm virus cúm A: Gây bệnh cho mọi loài chim, một số động vật có
vú và cả con người.
+ Nhóm virus cúm B: Chỉ gây bệnh cho người.
+ Nhóm virus cúm C: Gây bệnh cho người, lợn.
+ Nhóm Thogotovirus.
* Đặc tính cấu trúc chung của họ Orthomyxoviridae
Họ orthomyxoviridae có hệ gen chứa axit Ribonucleic (ARN) một sợi,
có cấu trúc là sợi âm được ký hiệu là ss ( -)ARN (Negative Single Stranded
RNA), có độ dài từ 10.000 - 15.000 nucleotit (tùy loại virus), được chia thành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status