DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
cs : Cộng sự
F. : Fasciola
g : Gam
L. : Lymnaea
mm : Milimet
n : Dung lượng mẫu
NXB : Nhà xuất bản
pp : Page
SLG : Sán lá gan
tr : Trang
TT : Thể trọng
% : Tỷ lệ phần trăm
i
DANH MỤC CÁC BẢNG
Ký chủ 39
Ký chủ 39
Vị trí ký sinh và 39
Vị trí ký sinh và 39
số sán định loại 39
số sán định loại 39
Loài sán 39
Loài sán 39
lá gan 39
lá gan 39
Phân bố 39
Phân bố 39
Tỷ lệ 39
Tỷ lệ 39
xuất hiện 39
Ký chủ 39
Ký chủ 39
Vị trí ký sinh và 39
Vị trí ký sinh và 39
số sán định loại 39
số sán định loại 39
Loài sán 39
Loài sán 39
lá gan 39
lá gan 39
Phân bố 39
Phân bố 39
Tỷ lệ 39
Tỷ lệ 39
xuất hiện 39
xuất hiện 39
(%) 39
(%) 39
Chợ Mới 39
Chợ Mới 39
Bạch Thông 39
Bạch Thông 39
Ngân Sơn 39
Ngân Sơn 39
+ 39
iv
+ 39
+ 39
+ 39
+ 39
một trong những bệnh ký sinh trùng nguy hiểm không những cho gia súc mà
cả cho con người. Ở nước ta, bệnh sán lá gan ở trâu, bò được phát hiện ở khắp
các tỉnh từ Bắc đến Nam. Tỷ lệ trâu, bò nhiễm sán lá gan thường cao và nhiều
con nhiễm ở cường độ nặng. Bệnh thường tiến triển chậm với biểu hiện
không rõ ràng, không gây chết hàng loạt nhưng làm giảm quá trình sinh
trưởng và sinh sản của trâu, bò, tác động xấu đến chất lượng và sản lượng
thịt, gan và sữa, làm giảm sức đề kháng của con vật, khiến cho một số bệnh
khác dễ bùng phát. Sán lá gan ký sinh ở ống dẫn mật hút máu ký chủ, làm ký
chủ thiếu máu nặng, đồng thời sán thường xuyên tiết độc tố, độc tố hấp thu vào
máu gây huỷ hoại máu. Khi trâu, bò nhiễm nặng có rất nhiều buồng gan không
1
sử dụng được do sán gây viêm, cứng gan (Phan Địch Lân, 1985) [14]. Nhiều tác
giả cho biết, tác hại của sán lá gan ở trâu, bò rất lớn, biểu hiện rõ nhất là
thiếu máu, viêm và xơ gan khi gia súc bị nhiễm sán lá gan ở mức độ nặng.
Trong những năm gần đây, bệnh sán lá gan lớn trên người đã được phát hiện
ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước. Thực trạng này càng làm cho vấn đề
phòng chống bệnh sán lá gan cho người và vật nuôi trở nên cấp thiết hơn.
Theo đánh giá của các nhà khoa học trong những năm qua, điều kiện tự
nhiên và xã hội ở Việt Nam nói chung và ở tỉnh Bắc Kạn nói riêng có nhiều
thay đổi. Sự thay đổi rõ nét về điều kiện thời tiết khí hậu và đời sống xã hội
đã dẫn đến hậu quả là sự phát sinh và phát triển của bệnh sán lá gan thay đổi.
Vì vậy, việc nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ, từ đó có biện pháp phòng chống
bệnh sán lá gan cho trâu, bò ở tỉnh Bắc Kạn là vấn đề cần thiết.
Từ yêu cầu cấp bách của thực tiễn chăn nuôi trâu bò ở tỉnh Bắc Kạn,
chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá
gan (Fasciolosis) ở trâu, bò tại tỉnh Bắc Kạn và đề xuất biện pháp phòng
chống hiệu quả”.
2. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
2.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học có giá trị về đặc điểm
Phân họ Fasciolinae Stiles et Hassall, 1898
Giống Fasciola Linnaeus, 1758
Loài Fasciola hepatica (Linnaeus, 1758)
Loài Fasciola gigantica (Cobbold, 1885)
1.1.2. Đặc điểm hình thái của sán lá Fasciola
Cũng như nhiều loài sán lá khác, sán lá gan lưỡng tính, có thể thụ tinh
chéo hoặc tự thụ tinh. Sán có giác miệng và giác bụng, giác bụng không nối
với cơ quan tiêu hoá. Sán không có hệ hô hấp, tuần hoàn và cơ quan thị giác
(ở giai đoạn mao ấu có dấu vết sắc tố mắt). Hệ sinh dục rất phát triển với cả
bộ phận sinh dục đực và cái trong cùng một sán. Tử cung sán chứa đầy trứng.
Có thể phân biệt hai loài sán lá gan thuộc giống Fasciola như sau:
* F. gigantica : Có chiều dài thân gấp 3 lần chiều rộng, “vai” không có
hoặc nhìn không rõ rệt, nhánh ruột chia toả ra nhiều nhánh ngang.
4
F. gigantica (nghĩa là sán lá “khổng lồ”) dài 25 - 75 mm, rộng 3 - 12 mm, u
lồi hình nón của đầu là phần tiếp theo của thân, vì vậy nó không có “vai” như loài
khác của giống Fasciola. Hai rìa bên thân sán song song với nhau, đầu cuối của
thân tù. Giác bụng tròn lồi ra. Ruột, tuyến noãn hoàng, buồng trứng và tinh hoàn
đều phân nhánh. Trứng hình bầu dục, màu vàng nâu, phôi bào to đều và xếp kín
vỏ. Kích thước trứng: 0,125 - 0,170 x 0,06 - 0,10 mm.
* F. hepatica: Trái với loài trên, loài này thân rộng, đầu lồi và nhô ra phía
trước làm cho sán có “vai”, nhánh ruột chia ít nhánh ngang hơn.
F. hepatica (nghĩa là sán lá ở gan) dài 18 - 51 mm, rộng 4 - 13 mm,
phần trước thân nhô ra, tạo cho sán có vai bè ra hai bên. Hai rìa bên thân sán
không song song với nhau mà phình ra ở chỗ vai rồi thót lại ở đoạn cuối thân.
Những ống dẫn tuyến noãn hoàng chạy ngang, chia vùng giữa của sán thành
phần trước và phần sau thân. Phần sau thân có tinh hoàn và bộ phận sinh dục
đực. Tinh hoàn phân nhiều nhánh xếp phía sau thân. Tử cung ở giữa phần
thân trước tạo nên một mạng lưới dày đặc. Buồng trứng phân nhánh nằm ở
sau tử cung.
giản, có hai hệ: Redia thế hệ I và Redia thế hệ II cùng phát triển trong ốc - vật
chủ trung gian. Ở nhiệt độ phù hợp (20 - 30
0
C), sau 29 - 35 ngày, lôi ấu biến
thành vĩ ấu (Cercaria). Một Redia có thể sinh ra 12 - 20 Cercaria.
Cercaria (vĩ ấu) là ấu trùng ở pha sống tự do của sán lá gan, có cấu tạo
thân hình tròn lệch, đuôi dài hơn thân giúp vĩ ấu vận chuyển được dễ dàng
trong nước. Cấu tạo của vĩ ấu gồm giác miệng, giác bụng, hầu, thực quản và
ruột phân thành hai nhánh.
Theo Ginyecisz - Kaija (1960), trong cơ thể Cercaria còn có những hạt
Glycogen cung cấp năng lượng cho hoạt động sống của ấu trùng, đặc biệt là
cho sự vận động không ngừng của đuôi. Đuôi là cơ quan vận động của vĩ ấu.
Theo một số tác giả, đuôi làm nhiệm vụ thay đổi vị trí của ấu trùng trong môi
trường nước. Nhờ sự hoạt động tích cực của đuôi mà vĩ ấu tiếp cận để bám
vào các cây thuỷ sinh, tạo thành kén (Adolescaria).
6
Từ khi Miracidium chui vào ốc đến khi phát triển thành Cercaria cần
khoảng 50 - 80 ngày. Sau khi thành thục, Cercaria thoát khỏi ốc, ra môi trường
ngoài, bơi tự do trong nước, có kích thước 0,28 - 0,30 mm chiều dài và 0,23 mm
chiều rộng. Sau vài giờ bơi trong nước, Cercaria rụng đuôi, tiết chất nhầy xung
quanh thân, chất nhầy gặp không khí khô rất nhanh. Lúc này Cercaria đã biến
thành Adolescaria.
Adolescaria hình khối tròn, bên trong chứa phôi hoạt động. Phôi có
giác miệng, giác bụng, ruột phân nhánh và túi bài tiết. Adolescaria thường ở
trong nước hoặc bám vào cây cỏ thuỷ sinh. Nếu trâu, bò, dê nuốt phải
Adolescaria, vào đến dạ dày và ruột, lớp vỏ ngoài bị phân huỷ, ấu trùng được
giải phóng và di chuyển đến ống mật bằng 3 con đường:
- Một số ấu trùng dùng tuyến xuyên chui qua niêm mạc ruột, vào tĩnh
mạch ruột, qua tĩnh mạch cửa vào gan, xuyên qua nhu mô vào ống mật.
- Một số ấu trùng khác cũng dùng tuyến xuyên chui qua thành ruột vào
đã có sán lá gan ký sinh lại tiếp tục nhiễm thêm mầm bệnh mới, gây tình trạng bội
nhiễm sán lá gan, vì vậy cường độ nhiễm tăng lên theo tuổi trâu, bò.
Tóm tắt sơ đồ vòng đời của sán lá Fasciola
Fasciola
(ống dẫn mật)
Phân Trứng As, t
o
, pH
Mao ấu
Ốc
nước
ngọt
Trâu
bò
nuốt
phải
nang
ấu
Môi trường nước
7 ngày
Bào ấu
8-21 ngày
Lôi ấu
Nang ấu
Rời KCTG
sau 2giờ
20-28 ngày
Vĩ ấu
(lơ lửng trong nước hoặc bám vào
9
những năm nắng ráo và khô hạn. Mùa vụ gắn liền với sự thay đổi thời tiết khí
hậu. Mùa Hè - Thu, số gia súc bị nhiễm sán lá gan tăng cao hơn các mùa khác
trong năm. Cuối mùa thu và mùa đông bệnh thường phát ra.
- Yếu tố vùng và địa hình:
Vùng và địa hình là hai khái niệm khác nhau, song có liên quan chặt
chẽ với nhau. Các vùng khác nhau có địa hình không giống nhau. Địa hình là
yếu tố quan trọng quyết định sự khác nhau giữa các vùng.
Các vùng khác nhau trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng
đều thuộc bốn loại địa hình: ven biển, đồng bằng, trung du và miền núi.
Hầu hết các nhà ký sinh trùng học thống nhất rằng, gia súc nhai lại ở
vùng đồng bằng nhiễm sán lá gan nhiều nhất, tỷ lệ và cường độ nhiễm giảm
dần đối với đàn gia súc nhai lại ở vùng ven biển, vùng trung du và vùng núi.
Về nguyên nhân dẫn đến quy luật này, các tác giả Trịnh Văn Thịnh (1963)
[27]; Phạm Văn Khuê và cs (1996) [4]; Kaufmann (1996) [45] ) đều giải
thích: vùng đồng bằng có nhiều hồ, ao, kênh, rạch, có điều kiện cho ốc - vật
chủ trung gian sống và sinh sản. Các kiểu địa hình khác thì vấn đề này hạn
chế hơn so với đồng bằng.
Phan Địch Lân (1994, 2004) [15] đã điều tra 7.359 trâu, bò ở 26 tỉnh
miền Bắc Việt Nam, kết quả thấy: Trâu, bò ở vùng đồng bằng nhiễm sán lá
gan cao nhất, sau đó đến vùng trung du, vùng ven biển và miền núi (bình
quân tỷ lệ nhiễm sán ở các vùng điều tra như sau: vùng đồng bằng từ 19,6%
đến 61,3%, vùng trung du từ 16,4% đến 50,2%, vùng ven biển từ 13,7% đến
39,6%, vùng núi từ 14,7% đến 44,0%). Theo Lương Tố Thu (2000), tỷ lệ
nhiễm sán lá gan ở trâu, bò vùng đồng bằng qua mổ khám là 88%, vùng trung
du là 77,6%.
- Yếu tố loài và tuổi vật chủ cuối cùng:
Súc vật nhai lại đã được thuần hoá như trâu, bò, dê, cừu đều nhiễm sán
lá gan Fasciola. Ngoài ra, súc vật hoang dã cũng nhiễm sán lá này (hươu, nai,
10
tồn tại và phát triển.
- Vật chủ trung gian của Fasciola spp.
Sự phân bố các loài ốc - vật chủ trung gian của sán lá gan phụ thuộc
vào các vùng địa lý khác nhau. Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [4],
Kaufmann (1996) [45], vật chủ trung gian của sán lá Fasciola là các loài ốc
nước ngọt họ Lymnaea: L. auricularia, L. swinhoei, L. viridis, Galba
truncatula, Radix ovata
Phan Địch Lân (1985) [14], đã tổng hợp và cho biết: Loài ốc - vật chủ
trung gian của F. gigantica ở Ấn Độ là L. acuminata, ở châu Phi là L.
natalensis, ở Pakistan là L. permisca, ở Apganixtan là L. luteola, ở Malaixia là
L. auricularia, ở Nhật Bản là L . pervia, ở Indonexia và Philippine là L. viridis,
ở Hungari là G. truncatula
Theo Jorgen Hansen và cs (1994) [44], nhiệt độ thích hợp nhất cho sự
phát triển của ốc là 15 - 26
0
C, khi ở nhiệt độ này chúng đẻ số lượng trứng rất
lớn. Trứng nở trong vòng 2 tuần và sau 1 tháng thành ốc trưởng thành. Một
con ốc trong vòng 10 - 12 tuần có thể sinh sản ra hàng ngàn con ốc. Ở dưới
10
0
C, ốc không phát triển và ngừng hoạt động. Tuy nhiên, ốc có thể chui vào
bùn và sống trong điều kiện bất lợi nhiều tháng.
Phan Địch Lân và cs (1985) [14] đã khảo sát đặc điểm sinh học của ốc -
vật chủ trung gian của F. gigantica ở miền Bắc Việt Nam. Tác giả cho biết,
vật chủ trung gian của sán lá Fasciola là hai loài ốc nước ngọt thuộc giống
Lymnae với tên gọi là ốc vành tai (L. swinhoei) và ốc chanh (L. viridis). Loài
L. swinhoei có vỏ mỏng, dễ vỡ, không có nắp miệng, kích thước 20 mm, vòng
xoắn cuối cùng rất lớn, chiếm gần hết phần thân, vỏ loe ra như vành tai. Loài
L. viridis cũng có vỏ mỏng, không có nắp miệng, dài 10 mm, vỏ dễ vỡ, có 4 -
5 vòng xoắn, vòng xoắn cuối cùng lớn. Năm 2009,Viện sinh thái và Tài
13
- Sức đề kháng của trứng và ấu trùng sán lá gan:
Trứng sán lá gan được thải theo phân súc vật nhai lại ra môi trường
ngoại cảnh. Trứng sán rất nhậy cảm với điều kiện khô hạn và tác động trực tiếp
của ánh sáng mặt trời. Ở trong phân khô, phôi ngừng phát triển, trứng bị chết sau
8 - 9 ngày.
Trong điều kiện khô hạn, vỏ trứng bị nhăn nheo, biến đổi hình dạng,
Miracidium bị chết trong vỏ trứng sau 1 - 1,5 ngày. Ở môi trường ẩm ướt, trứng
có khả năng sống khá lâu (trong phân hơi ẩm, trứng tồn tại đến 8 tháng). Dưới ánh
nắng chiếu trực tiếp, trứng chết nhanh. Phôi bị chết sau 2 ngày ở nhiệt độ
thấp (-5
0
C → - 15
0
C). Nhiệt độ 10 - 20
0
C, trứng ngừng phát triển. Nhiệt độ
40 - 50
0
C, phôi chết sau vài phút (Phạm Văn Khuê và cs 1996 [4]).
Khi phát triển đến giai đoạn nang ấu (Adolescaria), sức đề kháng của
chúng tăng lên rõ rệt. Adolescaria có khả năng tồn tại ở nhiệt độ -4
0
C → -6
0
C.
Ở điều kiện nhiệt độ bình thường, những Adolescaria có trong cỏ khô bị ẩm và
trong môi trường nước có thể tồn tại đến trên 5 tháng (Kaufmann (1996) [45]).
1.1.5. Bệnh lý và lâm sàng bệnh sán lá gan ở trâu, bò
* Bệnh lý của bệnh sán lá gan trâu, bò:
cho chức năng của gan bị phá huỷ. Từ đó dẫn đến hàng loạt rối loạn khác
như: rối loạn cơ năng dạ dày - ruột, thiếu máu, suy nhược, gầy dần, cổ
chướng, xoang phúc mạc tích nước.
Một tác động quan trọng của Fasciola khi ký sinh ở vật chủ là chiếm
đoạt dinh dưỡng. Dinh dưỡng của sán lá gan là máu súc vật mà nó ký sinh.
Bằng phương pháp phóng xạ người ta đã thấy mỗi sán ký sinh ở ống dẫn mật
lấy 0,2 ml máu mỗi ngày. Như vậy, nếu súc vật nhiễm ít sán thì vai trò chiếm
15
đoạt chất dinh dưỡng không rõ, nhưng nếu súc vật có hàng trăm, hàng nghìn
sán ký sinh thì lượng máu mất đi rất nhiều.
Ngoài các tác động gây bệnh trên, trong khi di hành, sán non còn mang
theo các loại vi trùng từ bên ngoài vào máu, gan và những cơ quan khác, gây
những bọc mủ hoặc gây bệnh truyền nhiễm khác.
Tất cả những tác động trên của sán lá Fasciola làm cho sức đề kháng
của cơ thể trâu, bò giảm sút nghiêm trọng, dễ mắc các bệnh khác, hoặc làm
cho các bệnh đang có trong cơ thể súc vật nặng thêm lên.
Daves (1958) nhận xét rằng, gia súc bị suy nhược và thiếu máu là do
độc tố của F. gigantica, độc tố của sán còn tác động gây hiện tượng protein
trong huyết thanh biến chất, lượng Albumin giảm và Globulin tăng. Quá trình
dị ứng của cơ thể súc vật là kết quả tác động của các kháng nguyên sinh ra từ
sán với kháng thể xuất hiện trong tổ chức gan, và các chất sinh ra từ tổ chức
khác bị huỷ hoại. Quá trình dị ứng dẫn đến những rối loạn đầu tiên, biểu hiện
bằng hiện tượng suy dinh dưỡng, thiếu vitamin A, bằng sự tăng quá nhiều
bạch cầu ái toan trong cơ thể.
* Triệu chứng bệnh sán lá gan ở trâu, bò:
Triệu chứng lâm sàng là biểu hiện ra bên ngoài bởi các tác động gây
bệnh của sán Fasciola. Triệu chứng ở trâu, bò biểu hiện nặng hay nhẹ còn phụ
thuộc vào cường độ nhiễm sán, tình trạng sức khoẻ và tuổi của súc vật, tình
trạng chăm sóc quản lý…
- Thể cấp tính thường gặp ở trâu, bò 1,5 - 2 năm tuổi (Phạm Văn Khuê
Đối với trâu bò nhiễm sán nặng, bệnh tích thấy rõ là viêm gan cấp tính,
gan sưng to, màu nâu sẫm, sung huyết. Trên mặt gan có thể thấy những đường
di hành của sán non tạo thành những vệt đỏ thẫm, dài 2 - 4 mm, trong có sán
non với số lượng nhiều. Lớp thanh mạc xuất huyết nhẹ, đôi khi có tơ huyết.
17
Khi nhiễm nặng thấy viêm phúc mạc, gan xuất huyết nhiều, niêm mạc mắt
nhợt nhạt.
Ở những súc vật nhiễm sán lá gan đã lâu, gan viêm mãn tính, những
chỗ mô gan bị phá huỷ có sẹo mầu vàng xám. Gan xơ cứng, niêm mạc ống
dẫn mật dầy, có hiện tượng canxi hoá mặt trong thành ống. Lòng ống dẫn mật
giãn rộng, chứa đầy dịch màu nâu và sán Fasciola. Khi ống mật bị canxi hoá
nhiều, sán ở chỗ đó thường bị chết hoặc chuyển đến chỗ ít biến đổi hơn.
Ngoài gan và ống mật, đôi khi còn thấy sán ở phổi trâu, bò. Trường hợp
này sán ở trong những bọc bằng quả trứng gà hoặc nhỏ hơn, trong chứa dịch
màu nâu.
Quan sát biến đổi vi thể dưới kính hiển vi thấy: Nhu mô gan mất màu,
liên bào ống mật thoái hoá, niêm mạc tăng sinh thành những u, trong u chứa
nhiều bạch cầu, lâm ba cầu, bạch cầu ái toan, đại thực bào chứa đầy sắc tố mật
và máu. Quá trình viêm tăng sinh lan xuống lớp sâu hơn của ống mật: Tổ chức
liên kết tăng sinh, lan vào các thuỳ gan làm tan biến tổ chức gan, Phạm Văn
Khuê và cs (1996) [4] .
Nghiên cứu bệnh sán lá gan ở trâu, bò, Phan Địch Lân (1994 - 2004)
[15], cho biết: Khi mổ khám trâu, bò bị bệnh sán lá gan thấy có bệnh tích đặc
biệt là gan to hơn nhiều so với bình thường (gấp 2 - 3 lần). Gan màu đỏ sẫm,
biểu hiện sung huyết. Dưới vỏ gan thấy ứa nước, trên mặt gan còn giữ lại
những đường ngoằn ngoèo do sán di hành. Tổ chức liên kết phát triển tạo nên
những sẹo đặc biệt. Trong gan còn thấy những sán non không đến được ống
dẫn mật, đóng kén và chết trong kén to bằng hạt đậu. Cắt tổ chức gan thấy lạo
xạo do biến chất thoái hoá. Do tăng sinh tổ chức liên kết nên gan cứng và xơ
gan. Trường hợp viêm phúc mạc xoang bụng chứa nhiều nước (cổ chướng).
ELISA, phương pháp miễn dịch huỳnh quang có thể áp dụng trong chẩn
19
đoán bệnh sán lá gan. Tuy nhiên, do khó khăn về nguyên liệu và việc chế
kháng nguyên chuẩn nên các phương pháp này còn ít được dùng để chẩn đoán
bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh sán lá gan nói riêng.
* Đối với súc vật chết:
Khi súc vật chết, mổ khám tìm sán Fasciola ở giai đoạn ấu trùng và
trưởng thành trong ống dẫn mật, gan, xoang bụng Phương pháp này chính
xác hơn cả, vì tìm thấy cả sán non ở giai đoạn di hành
1.1.7. Phòng và trị bệnh
* Điều trị bệnh:
Hiện nay, có thể tẩy sán lá gan cho gia súc nhai lại bằng một trong các
loại thuốc sau:
- Thuốc Dertil: Dertil là thuốc có tác dụng đặc hiệu với sán lá gan
Fasciola. Dertil được bào chế thành viên to, màu xanh lá cây đậm. Viên
Dertil “O” có chứa 100 mg hoạt chất, viên Dertil “B” chứa 300 mg hoạt chất.
Dertil có tác dụng diệt sán lá gan trưởng thành ở gia súc nhai lại, với
liều cao còn diệt được cả sán non đang di hành trong nhu mô gan. Thuốc chỉ
cần dùng một lần, không cần điều trị lặp lại. Thuốc Dertil được chỉ định điều
trị bệnh sán lá gan cấp tính và mãn tính cho gia súc nhai lại.
Liều lượng:
Bò: 5 - 6 mg/ kg TT.
Trâu: 8 - 9 mg/ kg TT
Cho từng cá thể uống thuốc, hoặc gói thuốc vào lá chuối non, đưa sâu
vào miệng cho con vật nuốt.
- Thuốc Fasciolid (tên khác: Fasciolidum):
Thuốc được bào chế dưới dạng dung dịch màu vàng nâu, chứa 25%
hoạt chất là Nitroxinil. Fasciolid có tác dụng tẩy sán lá gan Fasciola dạng
trưởng thành, được chỉ định tẩy sán lá gan cho gia súc nhai lại.
20