Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan trâu, bò (fasciolois) ở tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống bệnh - Pdf 24


i ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PHẠM THỊ TRANG Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ
BỆNH SÁN LÁ GAN TRÂU, BÒ (FASCIOLOIS) Ở
TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP
PHÒNG CHỐNG BỆNH CHUYÊN NGÀNH: THÚ Y
MÃ SỐ: 60 62 50
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Sau quá trình học tập tại trường và sau 1 năm thực hiện đề tài tại cơ sở,
đến nay tôi đã hoàn thành bản luận văn tốt nghiệp này. Qua đây, tôi xin bày tỏ
lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Ban Giám hiệu trường đại học Nông
Lâm Thái Nguyên, Phòng Quản lý đào tạo Sau đại học, Ban Chủ nhiệm khoa
Chăn nuôi - Thú y, Bộ môn Dược lý và Vệ sinh an toàn thực phẩm, các thầy
cô giáo đã tận tình hướng dẫn, động viên tôi và tạo mọi điều kiện thuận lợi
cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại trường.
Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo PGS. TS
Nguyễn Thị Kim Lan, người đã trực tiếp hướng dẫn và NCS. Phạm Diệu thuỳ
đã giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo uỷ ban nhân dân, trạm thú y
và nhân dân các huyện Định Hoá, Võ Nhai, Đồng Hỷ, Đại Từ đã tạo điều kiện
giúp đỡ tôi trong thời gian tiến hành tại địa phương.
Tôi xin chân thành cảm ơn các sinh viên chính quy khoá 39, 40 chuyên
ngành Chăn nuôi thú y và Thú y đã tham gia và hỗ trợ tôi thực hiện thành
công đề tài này.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đồng
nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu.
Thái Nguyên, tháng 09 năm 2012
Học viên Phạm Thị Trang

iv
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii

2.2. Vật liệu nghiên cứu 31
2.2.1. Mẫu nghiên cứu 31
2.2.2. Dụng cụ và hoá chất 32
2.3. Nội dung nghiên cứu 32

v
2.3.1. Xác định loài sán lá gan lớn ký sinh ở trâu, bò tại một số huyện
thuộc tỉnh Thái Nguyên 32
2.3.2. Đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan lớn ở trâu, bò 32
2.3.2.1. Tình hình nhiễm sán lá gan lớn ở trâu và bò 32
2.3.2.2. Nghiên cứu về sự ô nhiễm trứng và ấu trùng sán lá gan ở ngoại
cảnh và trong ký chủ trung gian 32
2.3.2.3. Nghiên cứu về thời gian sống của trứng sán lá gan lớn ở ngoại
cảnh (khi chưa rơi vào môi trường nước) 33
2.3.2.4. Nghiên cứu về thời gian Miracidium thoát vỏ và thời gian tồn tại
của Miracidium trong nước 33
2.3.2.5. Nghiên cứu thời gian phát triển của ấu trùng sán lá gan trong ốc –
ký chủ trung gian 33
2.3.3. Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh sán lá gan cho trâu bò ở tỉnh
Thái Nguyên 33
2.4. Phương pháp nghiên cứu 33
2.4.1. Phương pháp xác định loài sán lá gan lớn ký sinh ở trâu, bò tại một số
huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên 33
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan trâu,
bò ở một số huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên 34
2.4.2.1. Quy định những yếu tố cần xác định liên quan đến tình hình
nhiễm sán lá gan trâu, bò 34
2.4.2.2. Bố trí thu thập mẫu 34
2.4.2.3. Phương pháp xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan 35
2.4.3. Phương pháp nghiên cứu trứng và ấu trùng sán lá gan ở ngoại cảnh

3.3.1. Sự ô nhiễm trứng sán lá gan ở chuồng trại, bãi chăn thả 59
3.3.2. Sự ô nhiễm trứng sán lá gan ở bãi chăn thả trâu, bò (ở đất bề mặt, ở
vũng nước trên bãi chăn) 62
3.3.3. Xác định loài ốc nước ngọt – ký chủ trung gian của sán lá gan và sự
phân bố của chúng 64
3.3.4. Tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan của ốc nước ngọt (nhiễm tự nhiên) 66
3.3.6. Nghiên cứu về thời gian sống của trứng sán lá gan ở ngoại cảnh
(khi chưa rơi vào môi trường nước) 68
3.3.7. Nghiên cứu về thời gian thoát vỏ của Miracidium và thời gian sống
của Miracidium trong nước 73
3.3.7.1. Thời gian Miracidium thoát vỏ vào trong nước (thí nghiệm trong
mùa thu và mùa đông) 73
3.3.7.2. Thời gian Miracidium sống trong nước (khi không gặp ký chủ
trung gian) 75
3.3.8. Nghiên cứu thời gian phát triển của ấu trùng sán lá gan trong ký
chủ trung gian 77
3.4. Xác định hiệu lực tẩy sán lá gan của 2 loại thuốc Han - Dertil B và
Bio - Alben 79
3.5. Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh sán lá gan cho trâu bò ở tỉnh
Thái Nguyên 80
CHƢƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 82
4.1. Kết luận 82
4.2. Đề nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

vii

CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
chủ trung gian của sán Fasciola 63
Bảng 3.14: Sự phân bố loài ốc – ký chủ trung gian của sán Fasciola ở
một số địa phương 64
Bảng 3.15: Tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan của ốc nước ngọt 65
Bảng 3.16: Thời gian sống của trứng sán lá gan trong phân trâu 67
Bảng 3.17: Thời gian sống của trứng sán lá gan trong phân bò 68
Bảng 3.18: Thời gian sống của trứng sán lá gan trong đất 71
Bảng 3.19: Thời gian Miracidium thoát vỏ trong nước 73
Bảng 3.20: Thời gian tồn tại của Miracidium trong nước vào mùa Thu và
mùa Đông 75
Bảng 3.21: Thời gian hoàn thành các giai đoạn ấu trùng của sán lá gan 76
Bảng 3.22: Thời gian từ khi trứng sán lá gan vào môi trường nước đến khi
hình thành Adolescaria 77
Bảng 3.23: Xác định hiệu lực tẩy sán lá gan của thuốc Han-Dertil B và Bio
- Alben trên trâu 78 ix
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 1.1: Sơ đồ vòng đời của sán lá gan 7
Hình 3.1: Ảnh điện di ba mẫu sán lá gan định loài 48

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi trâu, bò có một vị trí quan trọng trong ngành nông nghiệp.

hợp với điều kiện chăn nuôi ở miền núi thì việc nghiên cứu các đặc điểm dịch
tễ của bệnh là hết sức cần thiết.
Xuất phát từ yêu cầu cấp bách của thực tiễn chăn nuôi trâu, bò ở tỉnh
Thái Nguyên, chúng tôi tiến hành đề tài: "Nghiên cứu một số đặc điểm dịch
tễ bệnh sán lá gan trâu, bò (Fasciolosis) ở tỉnh Thái Nguyên và đề xuất
biện pháp phòng chống bệnh".
2. Mục đích của đề tài
Kết quả của đề tài góp phần bổ sung và hoàn thiện thêm đặc điểm dịch tễ
của bệnh sán lá gan trâu, bò trong điều kiện chăn nuôi ở miền núi, từ đó
góp phần xây dựng quy trình phòng trị bệnh sán lá gan cho trâu, bò có
hiệu quả cao.
3. Mục tiêu của đề tài
Xác định được tỷ lệ nhiễm sán lá gan trâu, bò ở tỉnh Thái Nguyên và sự
phát triển của trứng sán lá gan ở ngoại cảnh, sự phát triển các giai đoạn ấu
trùng sán lá gan ở ngoại cảnh và trong ký chủ trung gian.
4. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
4.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về sự phát triển của
trứng và ấu trùng sán lá gan trâu, bò ở ngoại cảnh và trong ký chủ trung gian,
có một số đóng góp mới cho khoa học.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học góp phần xây dựng quy trình
phòng chống bệnh có khả năng áp dụng trong thực tế chăn nuôi trâu, bò ở tỉnh

3
Thái Nguyên nhằm hạn chế tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan, hạn chế thiệt
hại do sán lá gan gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy
ngành chăn nuôi trâu, bò phát triển.
5. Những đóng góp mới của đề tài
- Đề tài có một số đóng góp mới về tình hình nhiễm sán lá gan ở trâu,

Phân bộ Fasciolata Skrjabin và Schulz, 1937
Họ Fasciolidae Railliet, 1895
Phân họ Fasciolinae Stiles và Hassall, 1898
Giống Fasciola Linnaeus, 1758
Loài Fasciola hepatica (Linnaeus, 1758)
Loài Fasciola gigantica (Cobbold, 1885)

5
1.1.3. Đặc điểm hình thái của sán lá Fasciola
Cũng như nhiều loài sán lá khác, sán lá gan lưỡng tính, có thể thụ tinh
chéo hoặc tự thụ tinh. Sán có giác miệng và giác bụng, giác bụng không nối
với cơ quan tiêu hoá. Sán không có hệ hô hấp, tuần hoàn và cơ quan thị giác
(ở giai đoạn mao ấu có dấu vết sắc tố mắt). Hệ sinh dục rất phát triển với cả
bộ phận sinh dục đực và cái trong cùng một sán. Tử cung sán chứa đầy trứng.
Có thể phân biệt hai loài sán lá gan thuộc giống Fasciola như sau:
- F. gigantica (Linnaeus, 1758): có chiều dài thân gấp 3 lần chiều rộng, “vai”
không có hoặc nhìn không rõ rệt, nhánh ruột chia toả ra nhiều nhánh ngang.
F. gigantica (nghĩa là sán lá “khổng lồ”) dài 25 - 75 mm, rộng 3 - 12
mm, u lồi hình nón của đầu là phần tiếp theo của thân, vì vậy nó không có
“vai” như loài Fasciola hepatica. Hai rìa bên thân sán song song với nhau,
đầu cuối của thân tù. Giác bụng tròn lồi ra. Ruột, tuyến noãn hoàng, buồng
trứng và tinh hoàn đều phân nhánh. Trứng hình bầu dục, màu vàng nâu, phôi
bào to đều và xếp kín vỏ. Kích thước trứng: 0,125 - 0,170 x 0,06 - 0,10 mm.
- Fasciola hepatica (Linneaus,1758): trái với loài trên, loài này thân
rộng, đầu lồi và nhô ra phía trước làm cho sán có “vai”, nhánh ruột chia ít
nhánh ngang hơn.
Fasciola hepatica dài 18 - 51 mm, rộng 4 - 13 mm, phần thân trước nhô
ra, tạo cho sán có vai bè ra hai bên. Hai rìa bên thân sán không song song với
nhau mà phình ra ở chỗ vai rồi thót lại ở đoạn cuối thân. Những ống dẫn
tuyến noãn hoàng chạy ngang, chia vùng giữa của sán thành phần trước và

phát triển. Ở nhiệt độ phù hợp (20 - 30
o
C), sau 29 - 35 ngày, lôi ấu biến thành
vĩ ấu (Cercaria). Một Redia có thể sinh ra 12 - 20 Cercaria.
Cercaria là ấu trùng ở pha sống tự do của sán lá gan, có cấu tạo thân
hình tròn lệch, đuôi dài hơn thân giúp vĩ ấu vận chuyển được dễ dàng trong
nước. Cấu tạo của vĩ ấu gồm giác miệng, giác bụng, hầu, thực quản và ruột
phân thành hai nhánh.
Theo Ginyecisz - Kaija (1960), trong cơ thể Cercaria còn có những hạt
glycogen cung cấp năng lượng cho hoạt động sống của ấu trùng, đặc biệt là cho

7
sự vận động không ngừng của đuôi. Đuôi là cơ quan vận động của Cercaria.
Theo một số tác giả, đuôi làm nhiệm vụ thay đổi vị trí của ấu trùng trong môi
trường nước. Lizz (1922) cho biết, nhờ sự hoạt động tích cực của đuôi mà vĩ ấu
tiếp cận để bám vào các cây thuỷ sinh, tạo thành kén (Adolescaria).
Fasciola
(ống dẫn mật)
Phân

Trứng
ánh sáng, t
o
, pH

Mao ấu


8-21 ngày

Lôi ấu
Nang ấu
Rời KCTG sau
2giờ
20-28 ngày Vĩ ấu
(lơ lửng trong nước hoặc bám vào
cây cỏ thuỷ sinh)

Hình 1.1: Sơ đồ vòng đời của sán lá gan
Từ khi Miracidium chui vào ốc đến khi phát triển thành Cercaria cần
khoảng 50 - 80 ngày. Sau khi thành thục Cercaria thoát khỏi ốc, ra môi
trường ngoài, bơi tự do trong nước, có kích thước 0,28 - 0,30 mm chiều dài
và 0,23 mm chiều rộng. Sau vài giờ bơi trong nước, Cercaria rụng đuôi, tiết
chất nhầy xung quanh thân, chất nhầy gặp không khí khô rất nhanh. Lúc này
Cercaria đã biến thành Adolescaria.
Adolescaria hình khối tròn, bên trong chứa phôi hoạt động. Phôi có giác
miệng, giác bụng, ruột phân nhánh và túi bài tiết. Adolescaria thường ở trong
nước hoặc bám vào cây cỏ thuỷ sinh. Nếu trâu, bò, dê nuốt phải Adolescaria,

8
vào đến dạ dày và ruột, lớp vỏ ngoài bị phân huỷ, ấu trùng được giải phóng và
di chuyển đến ống mật bằng ba con đường sau:

sản thuận lợi.
Trịnh Văn Thịnh (1963) [27], Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [28], Phạm
Văn Khuê, Phan Lục (1996) [12], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [16]…
đều cho biết, trâu, bò nhiễm sán lá gan thường tăng lên vào mùa vật chủ trung
gian phát triển. Những năm mưa nhiều, tỷ lệ nhiễm sán lá gan tăng lên so với
những năm nắng ráo khô hạn. Mùa vụ gắn liền với sự thay đổi thời tiết khí
hậu. Mùa hè - thu, số gia súc bị nhiễm sán lá gan tăng cao hơn các mùa khác
trong năm. Cuối mùa thu và mùa đông bệnh thường phát ra.
- Yếu tố vùng và địa hình
Vùng và địa hình là hai khái niệm khác nhau, song có liên quan chặt chẽ
với nhau. Các vùng khác nhau có địa hình không giống nhau. Địa hình là yếu
tố quan trọng quyết định sự khác nhau giữa các vùng.
Các vùng khác nhau trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đều
thuộc bốn loại địa hình: ven biển, đồng bằng, trung du và miền núi.
Hầu hết các nhà ký sinh trùng học thống nhất rằng, gia súc nhai lại ở
vùng đồng bằng nhiễm sán lá gan nhiều nhất, tỷ lệ và cường độ nhiễm giảm
dần đối với đàn gia súc ở vùng ven biển, vùng trung du và vùng núi. Nguyên
nhân dẫn đến quy luật này, các tác giả (Trịnh Văn Thịnh, 1963 [28]; Phạm
Văn Khuê, Phan Lục, 1996 [12]; Soulsby, 1982 [55]; Kaufmann, 1996
[48]…) đều giải thích: vùng đồng bằng có nhiều hồ, ao, kênh rạch, có điều
kiện cho ốc - vật chủ trung gian sống và sinh sản, vì vậy sán lá gan dễ hoàn
thành vòng đời hơn và trâu, bò dễ nhiễm sán lá gan hơn so với vùng trung du
và vùng núi.
- Yếu tố loài và tuổi vật chủ cuối cùng

10
Súc vật nhai lại đã được thuần hoá như trâu, bò, dê, cừu đều nhiễm sán lá
gan Fasciola. Ngoài ra, súc vật hoang dã cũng nhiễm sán lá này (hươu, nai,
hoẵng…). Cũng có những trường hợp thỏ, ngựa, lợn nhiễm Fasciola, ngay cả
người cũng có thể nhiễm sán và bị bệnh.

vùng địa lý khác nhau. Theo Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) [12], vật chủ trung
gian của sán lá Fasciola là các loài ốc nước ngọt Lymnaea: L. auricularia, L.
swinhoei, L. viridis, Agalba truncatula, Radix ovata.
Phan Địch Lân (1985) [17] đã nghiên cứu đặc điểm sinh học của ốc - vật
chủ trung gian của F.gigantica ở miền Bắc Việt Nam. Tác giả cho biết, vật
chủ trung gian của sán lá Fasciola là hai loài ốc nước ngọt thuộc giống
Lymnaea với tên gọi là ốc vành tai (L. swinhoei) và ốc chanh (L. viridis). Loài
L. swinhoei có vỏ mỏng, dễ vỡ, không có nắp miệng, kích thước 20 mm, vòng
xoắn cuối cùng rất lớn, chiếm gần hết phần thân, vỏ loe ra như vành tai. Loài
L. viridis cũng có vỏ mỏng, không có nắp miệng, kích thước 10 mm, vỏ dễ
vỡ, có 4 - 5 vòng xoắn, vòng xoắn cuối cùng lớn.
Ốc L. viridis thường sống ở những nơi nước xâm xấp, đẻ trứng thành ổ
7 - 10 trứng, sau 7 ngày nở thành ốc con. Ốc L. swinhoei thường sống trôi nổi
ở cống rãnh, ao, hồ, đẻ trứng quanh năm, mỗi ổ có 60 - 150 trứng. Trong điều
kiện nhiệt độ ở nước ta, ốc đẻ quanh năm và quanh năm có ốc con được nở ra.
Phan Địch Lân (2004) [18] cho biết: ốc L. swinhoei phân bố nhiều hơn ở
vùng đồng bằng, trong khi ốc L. viridis phân bố nhiều hơn ở vùng núi, trung
du và ven biển. Theo kết quả nghiên cứu của tác giả thì hai loài ốc này đều
xuất hiện trong cả 12 tháng của năm, nhưng mật độ (tính trên 1m
2
) khác nhau
theo vùng: vùng đồng bằng, mật độ ốc L. swinhoei cao hơn và phân bố đều
trong năm, còn ốc L. viridis thì xuất hiện với mật độ cao hơn ở các vùng núi,

12
trung du, ven biển. Từ đó, tác giả nhận xét rằng, ốc L. swinhoei chịu nước
hơn, còn ốc L. viridis chịu cạn hơn.
Theo Nguyễn Trọng Kim (1997) [14] giữa tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá
gan của ốc - vật chủ trung gian với tỷ lệ nhiễm sán lá gan của trâu, bò có mối
tương quan thuận, nghĩa là nếu tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan ở ốc nước ngọt

tác động cơ học, tác động của độc tố, sự chiếm đoạt chất dinh dưỡng và tác
động mang trùng. Khi súc vật mới bệnh, sán non di hành trong cơ thể làm tổn
thương ở ruột, thành mạch máu, nhu mô gan. Một số ấu trùng có thể theo máu
di chuyển “lạc chỗ” đến phổi, lách, cơ hoành, tuyến tuỵ… gây tổn thương và

13
xuất huyết nặng hoặc nhẹ. Sán non xuyên qua các nhu mô gan, làm tổ chức
gan bị phá hoại, tạo ra những đường di hành đầy máu và mảnh tổ chức gan bị
phá huỷ. Gan bị viêm từ nhẹ đến nặng tuỳ theo số lượng ấu trùng nhiễm vào
cơ thể. Súc vật bị thiếu máu do xuất huyết, có thể chết do mất máu.
Tác động cơ giới của sán còn tiếp tục khi sán đã vào ống dẫn mật, tiếp
tục tăng lên về kích thước và phát triển thành sán trưởng thành. Sán trưởng
thành thường xuyên kích thích niêm mạc ống dẫn mật bằng các gai cutin trên
cơ thể, gây viêm ống mật. Số lượng sán nhiều có thể làm tắc ống mật, mật ứ
lại không xuống ruột được sẽ tràn vào máu, gây hiện tượng hoàng đản.
Trong quá trình ký sinh, sán thường xuyên tiết độc tố. Độc tố tác động
vào thành ống dẫn mật và mô gan, gây biến đổi đại thể và vi thể, làm tăng quá
trình viêm. Đồng thời, độc tố của sán còn hấp thu vào máu, gây hiện tượng
trúng độc toàn thân, gây huỷ hoại máu, làm biến chất protein trong máu, làm
Albumin giảm, globulin tăng. Độc tố của sán còn làm tăng nhiệt độ cơ thể,
tăng bạch cầu (đặc biệt là bạch cầu ái toan). Độc tố của sán còn tác động vào
thần kinh, làm cho con vật có triệu chứng thần kinh (run rẩy, đi xiêu vẹo…).
Độc tố của sán lá gan tác động vào thành mạch máu, làm tăng tính thấm của
thành mạch, gây hiện tượng thuỷ thũng, làm cho máu đặc lại. Cũng do tác
động của độc tố nên giữa những tiểu thuỳ gan có hiện tượng thâm nhiễm tế
bào, hình thành nên các mô liên kết mới dọc theo các vách ngăn của tiểu thuỳ
gan và quanh ống mật, vì vậy những ống mật này cũng dày lên. Quá trình
viêm kéo dài làm cho các tế bào tổ chức tăng sinh, thay thế những tế bào nhu
mô gan, gây hiện tượng xơ gan và teo gan. Khi súc vật nhiễm sán lá gan nặng,
hiện tượng xơ gan chiếm diện tích lớn của gan, làm cho chức năng của gan bị

với số lượng ít. Thể mãn tính thường xuất hiện sau thể cấp tính 1 - 2 tháng.

15
Trâu, bò có biểu hiện ăn uống kém, suy nhược, niêm mạc nhợt nhạt, lông
xù và dễ rụng (nhất là lông ở vùng dọc hai bên sườn và dọc xương ức). Xuất
hiện thuỷ thũng ở mí mắt, yếm, ngực, bộ phận sinh dục. Thuỷ thũng ban đầu
lúc thấy, lúc không, về sau thấy liên tục. Con vật nhai lại yếu, khát nước, ỉa
chảy xen kẽ táo bón, gầy yếu dần. Giai đoạn sau đi tháo nhiều hơn và gầy rất
nhanh. Kiểm tra lâm sàng thấy gan sưng to và đau. Có thể thấy hiện tượng
xảy thai ở bò cái bị bệnh, lượng sữa có thể giảm 30 - 50%. Triệu chứng thần
kinh cũng có thể gặp, song rất hiếm. Bệnh kéo dài nhiều tháng, con vật có thể
chết do suy nhược toàn thân.
Nhìn chung, khi súc vật bị bệnh sán lá gan kéo dài, cơ thể suy nhược
nặng, nếu không được điều trị kịp thời thì súc vật thường chết.
1.1.6.3. Bệnh tích của trâu, bò mắc bệnh sán lá gan
Tuỳ theo mức độ nhiễm sán mà bệnh tích có sự khác nhau.
Đối với trâu, bò nhiễm nặng, bệnh tích thấy rõ là viêm gan cấp tính, gan
sưng to, màu vàng sẫm, sung huyết. Trên mặt gan có thể thấy những đường di
hành của sán non tạo thành những vệt đỏ thẫm, dài 2 - 4 mm, trong đó sán
non với số lượng nhiều. Lớp thanh mạc xuất huyết nhẹ, đôi khi có tơ huyết.
Khi nhiễm nặng thấy viêm phúc mạc, gan xuất huyết nhiều, niêm mạc mắt
nhợt nhạt.
Ở những trâu, bò nhiễm sán lá gan đã lâu, gan viêm mãn tính, những chỗ
nhu mô gan bị phá huỷ có sẹo mầu vàng xám. Gan xơ cứng, niêm mạc ống dẫn
mật dày, có hiện tượng canxi hoá mặt trong thành ống. Lòng ống dẫn mật dãn
rộng, chứa đầy dịch mật màu nâu và sán Fasciola. Khi ống dẫn mật bị canxi hoá
nhiều, sán ở chỗ đó thường bị chết hoặc chuyển đến chỗ ít biến đổi hơn.

16
Quan sát biến đổi vi thể dưới kính hiển vi thấy: nhu mô gan mất màu, liên bào


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status