Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM THỊ HƢƠNG TRANG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, BỆNH LÝ,
LÂM SÀNG BỆNH CẦU TRÙNG BÊ, NGHÉ TẠI TỈNH
THÁI NGUYÊN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
Chuyên ngành: Thú y
Mã số: 60 64 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Lê Minh
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận
tình của:
Cô giáo hƣớng dẫn khoa học: TS. Lê Minh
Ban Giám hiệu trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa sau đại
học, Khoa Chăn nuôi – Thú y, Các thầy, cô giáo đã tận tình giúp đỡ, tạo điều
kiện để tôi học tập, tiếp thu kiến thức của chƣơng trình học.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Trạm Thú y, nhân dân địa phƣơng của các
huyện Phú Lƣơng, Phú Bình, Phổ Yên (tỉnh Thái Nguyên) đã tạo điều kiện
giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Đƣợc sự động viên, giúp đỡ của gia đình, bạn bè, tôi đã vƣợt qua mọi
khó khăn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài.
Tôi xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn, cảm ơn chân thành tới những tập thể
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
3.1. Ý nghĩa khoa học 3
3.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Cầu trùng ký sinh ở bê, nghé 4
1.1.1. Thành phần loài cầu trùng bê, nghé 4
1.1.2. Đặc điểm hình thái, kích thƣớc các loài cầu trùng 5
1.1.3. Cấu trúc của Oocyst cầu trùng 8
1.1.4. Chu kỳ sinh học của cầu trùng bê, nghé 9
1.1.5. Tính chuyên biệt của cầu trùng 12
1.1.6.3. Ảnh hƣởng của các yếu tố vật lý, hoá học đến sự phát triển của
Oocyst ở ngoại cảnh 20
1.2. Bệnh cầu trùng bê, nghé 22
1.2.1. Những thiệt hại về kinh tế do bệnh cầu trùng gây ra 22
1.2.4. Bệnh tích của bê, nghé bị bệnh cầu trùng 27
1.2.5. Miễn dịch trong bệnh cầu trùng 28
1.2.6.1. Nghiên cứu về miễn dịch cầu trùng ở vật nuôi 29
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ iv
1.3.2. Tình hình nghiên cứu bệnh cầu trùng bê, nghé trong nƣớc 42
Chƣơng 2: NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45
2.1. Đối tƣợng và vật liệu nghiên cứu 45
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 46
2.3. Nội dung nghiên cứu 46
2.3.1. Nghiên cứu thành phần loài cầu trùng ký sinh ở bê, nghé 46
2.3.2. Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh cầu trùng bê, nghé ở 3
huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên 46
2.4.4. Phƣơng pháp nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh cầu
trùng bê, nghé 56
2.4.4.1. Phƣơng pháp theo dõi biểu hiện lâm sàng chủ yếu của bê, nghé bị
bệnh cầu trùng 56
2.4.4.2. Phƣơng pháp xét nghiệm máu của nghé bị bệnh cầu trùng và nghé
khỏe 56
2.4.5. Nghiên cứu biện pháp phòng, trị cầu trùng cho bê, nghé 57
2.4.5.1. Bố trí thí nghiệm xác định công thức ủ phân có khả năng sinh nhiệt
tốt để diệt Oocyst cầu trùng 57
2.4.5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu lựa chọn thuốc điều trị cầu trùng cho bê
nghé 58
2.4.5.3. Thử nghiệm thuốc điều trị bệnh cầu trùng có hiệu lực cao cho nghé
59
2.4.5.4. Phƣơng pháp xác định khối lƣợng nghé để tính liều lƣợng thuốc . 59
2.4.5.5. Phƣơng pháp đánh giá hiệu lực của thuốc trị cầu trùng bê, nghé 59
2.4.5.6. Phƣơng pháp xác định độ an toàn của thuốc 60
2.4.5.7. Đề xuất quy trình phòng trừ tổng hợp bệnh cầu trùng bê, nghé 60
2.5. Phƣơng pháp xử lý số liệu 60
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 61
3.1. Các loài cầu trùng ký sinh ở bê, nghé tại tỉnh Thái Nguyên 61
3.2. Tỷ lệ và cƣờng độ nhiễm cầu trùng tại một số địa phƣơng 63
3.3. Tỷ lệ và cƣờng độ nhiễm cầu trùng theo tuổi bê, nghé 66
3.4. Tỷ lệ và cƣờng độ nhiễm cầu trùng bê, nghé theo mùa vụ 68
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ vi
3.5. Vai trò của cầu trùng trong hội chứng tiêu chảy bê, nghé tỉnh Thái
vii
DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
cs
:
cộng sự
E.
:
Eimeria
g phân
:
gam phân
PABA
:
Paraaminobenzoic acid
kg TT
:
kg thể trọng
KL
:
khối lƣợng
của Oocyst cầu trùng có sức gây bệnh 77
Bảng 3.10. Ảnh hƣởng của các chất sát trùng đến khả năng sống 79
của Oocyst cầu trùng mới theo phân ra ngoại cảnh 79
Bảng 3.11. Ảnh hƣởng của các chất sát trùng đến khả năng sống 80
của Oocyst có sức gây bệnh 80
Bảng 3.12. Tỷ lệ, những biểu hiện lâm sàng của bê, nghé 81
bị bệnh cầu trùng 81
Bảng 3.13. Số lƣợng hồng cầu, bạch cầu và hàm lƣợng huyết sắc tố 83
của nghé khỏe và nghé bị bệnh cầu trùng 83
Bảng 3.14. So sánh công thức bạch cầu của nghé khoẻ 84
và nghé bị bệnh cầu trùng 84
Bảng 3.15. Khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt Oocyst cầu trùng 86
của công thức ủ I 86
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ ix
Bảng 3.16. Khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt Oocyst cầu trùng 87
của công thức ủ II 87
Bảng 3.17: Khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt Oocyst cầu trùng 88
của công thức ủ III 88
Bảng 3.18: Đánh giá khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt Oocyst 89
của 3 công thức ủ 89
Bảng 3.19. Kết quả thử nghiệm 4 loại thuốc điều trị cầu trùng cho nghé 90
Bảng 3.20. Một số chỉ tiêu sinh lý của nghé trƣớc và sau khi dùng thuốc 91
Bảng 3.21. Hiệu lực của 2 thuốc điều trị bệnh cầu trùng cho nghé 92
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi trâu, bò ở nƣớc ta trƣớc đây chủ yếu để cung cấp sức kéo
cho nông nghiệp và lâm nghiệp. Những năm gần đây, ngành chăn nuôi của
nƣớc ta phát triển khá mạnh, góp phần ổn định đời sống nhân dân và sự phát
triển kinh tế - xã hội. Do đó, chăn nuôi trâu bò có điều kiện phát triển.
Ngành chăn nuôi trâu bò cung cấp cho con ngƣời hai loại thực phẩm có
giá trị cao và hoàn chỉnh về dinh dƣỡng là thịt và sữa. Thịt trâu, bò đƣợc xếp
vào loại thịt đỏ có giá trị dinh dƣỡng cao, hàng năm thế giới tiêu thụ khoảng
40 - 50 triệu tấn thịt, giá 1kg thịt dao động từ 6 - 7 USD/kg. Sữa bò đƣợc xếp
vào loại thực phẩm cao cấp vì đây là loại thực phẩm hoàn chỉnh về dinh
dƣỡng và giúp tiêu hóa tốt. Trâu bò là những gia súc nhai lại có khả năng biến
thức ăn rẻ tiền nhƣ cây cỏ, rơm rạ thành hàng trăm thành phần khác nhau của
thịt, sữa.
Nền kinh tế nƣớc ta đang trên đà phát triển, nhu cầu thực phẩm sạch,
an toàn là rất lớn. Trong khi đó thịt trâu, bò bày bán trên thị trƣờng chƣa
nhiều, hầu hết là thịt trâu bò cày kéo, già yếu, hoặc bị loại thải chất lƣợng
không cao, chƣa đáp ứng đƣợc thị hiếu ngƣời tiêu dùng.
Trâu, bò là động vật đơn thai, thời gian chửa và nuôi con dài nên việc
tăng số lƣợng đàn là rất chậm. Số bê, nghé con sinh ra nếu không đƣợc chăm
sóc nuôi dƣỡng tốt thì dễ mắc bệnh, sinh trƣởng, phát triển kém.
Hiện nay, ngành chăn nuôi trâu bò nƣớc ta vẫn đang phải đối mặt với
không ít khó khăn, trong đó có vấn đề dịch bệnh. Ngoài các bệnh truyền
nhiễm thì bệnh ký sinh trùng cũng là một trong những nguyên nhân làm giảm
năng suất chăn nuôi. Ký sinh trùng ký sinh trên cơ thể gia súc, chiếm đoạt
chất dinh dƣỡng làm cho vật nuôi gày gò, ốm yếu. Một trong những bệnh ký
sinh trùng thƣờng xảy ra đối với đàn bê, nghé là bệnh cầu trùng (Coccidiosis).
Bệnh cầu trùng ở bê, nghé là bệnh ký sinh trùng với các biểu hiện đa
Nguyên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ,
bệnh lý, lâm sàng bệnh cầu trùng bê, nghé tại tỉnh Thái Nguyên và biện
pháp phòng trị”.
2. Mục đích của đề tài
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 3
Xác định đƣợc biện pháp phòng chống bệnh cầu trùng bê, nghé hiệu
quả và phù hợp với điều kiện chăn nuôi trâu bò ở Thái Nguyên, xây dựng
đƣợc quy trình phòng chống bệnh đạt hiệu quả cao.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ,
bệnh lý, lâm sàng và quy trình phòng chống bệnh cầu trùng bê, nghé, đồng
thời có thêm một số đóng góp mới cho khoa học.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo ngƣời chăn nuôi áp
dụng quy trình phòng, trị bệnh cầu trùng, nhằm hạn chế tỷ lệ và cƣờng độ
nhiễm cầu trùng ở bê nghé, hạn chế thiệt hại do cầu trùng gây ra, góp phần
nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi trâu, bò phát triển.
bê, nghé có vị trí trong hệ thống phân loại nhƣ sau:
Ngành nguyên sinh động vật Protozoa Goldfuss, 1818
Phân ngành Apicomplexa Levine, 1970
Lớp Sporozoasida
Phân lớp Coccidiasina Leukart, 1879
Bộ Eucoccidiorida Léger & Duboscq, 1910
Phân bộ Eimeriorina Léger, 1911
Họ Eimeriidae Minchin, 1903
Giống Eimeria Schneider, 1875
Loài Eimeria alabamemsis Christiensen, 1941
Loài Eimeria auburnensis Christiensen and Porter, 1939
Loài Eimeria bovis Christiensen, 1941
Loài Eimeria brasisliensis Torres and Ramos, 1939
Loài Eimeria bukidnonensis Tubangui, 1931
Loài Eimeria canadensis Bruce, 1921
Loài Eimeria cylindrica Wilson, 1931
Loài Eimeria ellipsoidalis Becker and Frye, 1929
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 5
Loài Eimeria illinoisensis Levine and Ivens, 1967
Loài Eimeria pellita Supperer, 1952
Loài Eimeria subspherica Christiensen, 1941
Loài Eimeria wyomingensis Huizinga and Winger, 1942
Loài Eimeria zuernii Rivolta, 1978, Martin, 1909
Ở các vùng trung tâm đất đen thuộc nƣớc Cộng hòa Liên bang Nga, bê
nghé trƣởng thành thƣờng nhiễm 9 loài cầu trùng sau: E. alabamemsis, E.
auburnensis, E. bovis, E. canadensis, E. cylindrica ,E. ellipsoidalis, E smithi, E.
elip hoặc hình trứng, có 2 lớp vỏ mỏng, lớp bên ngoài nhẵn, đôi khi xù xì,
màu vàng - nâu, kích thƣớc 32 - 46 x 20 - 25 µm, trung bình là 38,4 x 27,1.
Kích thƣớc của Sporocyst 15 - 23 x 6 - 11 µm. Có Micropyle. Thời gian sinh
bào tử là 2 - 3 ngày. Cầu trùng phát triển nội sinh trong các tế bào mô liên kết
lớp nhung mao, đoạn dƣới của ruột non.
- Eimeria bovis (Christiensen, 1941): Oocyst hình trứng hoặc không đối
xứng, vỏ có 2 lớp, trơn nhẵn, kích thƣớc 23 - 34 x 17 - 23 µm, màu nâu hay
hơi vàng. Không có hạt cực, lỗ noãn có ở đầu nhỏ của nang trứng. Sporocyst
có kích thƣớc 13 - 18 x 5 - 8 µm. Thời gian sinh bào tử 2 - 3 ngày. Phát triển
nội sinh ở phần dƣới ruột non, các thể phân lập đời 2 và các giao tử ở trong
niêm mạc ruột già của ký chủ.
- Eimeria brasisliensis (Torres and Ramos, 1939): Oocyst có hình elip,
màu nâu vàng, có 1 - 2 lớp vỏ, có lỗ noãn và nắp. Kích thƣớc 34 - 43 x 24 -
30 µm, trung bình là 35,5 x 27 µm. Kích thƣớc của Sporocyst 16 - 22 x 7 - 10
µm. Thời gian hình thành bào tử là 6 - 7 ngày, trong bào tử có thể cặn.
- Eimeria bukidnonensis (Tubangui, 1931): Nang trứng hình quả lê,
màu nâu sẫm hay nâu vàng. Vỏ Oocyst có hai lớp, lớp ngoài dày và lớp bên
trong mỏng, Lee R. P. (1954) [62] mô tả lớp vỏ mỏng này giống nhƣ những
vằn sọc. Lớp vỏ dày 2 - 4 µm. Kích thƣớc nang trứng 47 - 50 x 33 - 38 µm.
Kích thƣớc của Sporocyst 12 - 21 x 9 - 12 µm. Micropyle rộng từ 3,5 - 7 µm.
Thời gian hình thành bào tử 4 - 7 ngày, đôi khi đến 17 ngày. Loài này phát
triển nội sinh trong màng niêm mạc ruột non.
- Eimeria canadensis (Bruce, 1921): Oocyst hình elip, kích thƣớc 28 -
37 x 20 - 27 µm, màu vàng nâu. Micropyle là một khoảng kín, rất khó nhìn
thấy ở trên một đầu, đƣợc bao phủ bởi một đƣờng phản xạ tối. Sporocyst có
kích thƣớc 15 - 22 x 7 - 10 µm. Thời gian hình thành bào tử là 3 ngày.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 8
Sporocyst 7 -14 x 4 - 8 µm. Thời gian hình thành bào tử là 3 ngày ở 20
o
C, 9 -
10 ngày ở 12
o
C, 23 - 24 giờ ở 30 - 32,5
o
C.
1.1.3. Cấu trúc của Oocyst cầu trùng
Oocyst cầu trùng có nhiều hình dạng, kích thƣớc khác nhau tuỳ thuộc vào
từng loài. Tuy nhiên, phần lớn Oocyst cầu trùng có đặc điểm cấu tạo nhƣ sau:
Oocyst màu vàng nâu, vàng chanh hoặc nâu hạt, không màu. Vỏ thƣờng
có 2 lớp: lớp vỏ ngoài dày, vỏ trong mỏng. Hai lớp vỏ ngoài và vỏ trong có
thể tách rời nhau dƣới tác động của acid H
2
SO
4
đặc hoặc bằng cách làm nóng
Oocyst trong nƣớc (Monne và Honin, 1954).
Về cấu tạo hoá học: vỏ ngoài là lớp quinone protein, vỏ trong là lớp
lipit kết hợp với protein để tạo thành khúc xạ kép (lipoprotein). Nghiên cứu
về bản chất hoá học của thành phần Oocyst, Ryley J. F. (1976) [68] cho biết:
lớp ngoài của vỏ Oocyst chiếm 20%, có chứa carbohydrat và một protein đặc
trƣng. Scotish R. L., Wang C. C. và Mayenhofer (1978) nghiên cứu về bản
chất hoá học của thành Oocyst qua xử lý bằng sodium hypochlorid 5% cho
Trysin và mật thấm qua vỏ Oocyst. Nhƣ vậy, tuy vỏ Oocyst có sức đề kháng
với một số hoá chất nhƣng lại nhạy cảm với tác động cơ học. Đó là lý do tại
sao gần đây trong thí nghiệm ngƣời ta thƣờng phải dùng đến các hạt bi thuỷ
tinh và máy lắc để phá vỏ Oocyst giải phóng các Sporocyst. (Dẫn theo Hoàng
Thạch, 1999 [31]).
1.1.4. Chu kỳ sinh học của cầu trùng bê, nghé
Vòng đời của cầu trùng đƣợc tính từ khi gia súc nuốt phải Oocyst có
sức gây bệnh, qua quá trình sinh trƣởng, phát triển trong và ngoài cơ thể cho
đến khi chúng lại tạo ra những Oocyst có sức gây bệnh.
Theo Lê Văn Năm (2004) [26] sự lƣu truyền cầu trùng trên khắp hành
tinh chúng ta là nhờ vào cấu tạo và vòng đời phức tạp cũng nhƣ khả năng
thích nghi nhanh để tiếp tục phát triển, tồn tại lâu trong thiên nhiên.
Cầu trùng ký sinh ở bê nghé là những cầu trùng giống Eimeria. Đây là
những ký sinh trùng có giai đoạn sinh sản vô tính và hữu tính diễn ra trong
cùng một ký chủ, đƣợc đặc trƣng bằng hai chu kỳ: chu kỳ nội sinh gồm hai
giai đoạn phát triển: sinh sản vô tính (Schizogony), sinh sản giao tử
(Gametogony) và chu kỳ ngoại sinh: sinh sản bào tử (Sporogony) là giai đoạn
diễn ra ở ngoài môi trƣờng .
* Giai đoạn sinh sản vô tính (Schizogony)
Bê nghé nuốt phải Oocyst có sức gây bệnh có lẫn ở trong thức ăn và
nƣớc uống từ bên ngoài môi trƣờng, vào đến dạ dày, dƣới tác động của dịch
dạ dày, Oocyst vỡ ra, giải phóng 4 túi bào tử (Sporocyst). Đến ruột non, các
bào tử con (Sporozoit) bên trong túi bào tử đƣợc hoạt hóa bởi dịch mật và
men Tripsin, chúng trở nên hoạt động, phá vỡ lớp màng của túi bào tử và
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 10
đƣợc giải phóng ra. Lập tức, bào tử con xâm nhập tế bào biểu mô ruột và tiến
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 11
nang (Oocyst). Noãn nang có hình bầu dục, gần tròn, hình elip, hình thoi hay
quả lê (phụ thuộc vào từng loài). Đến đây, các Oocyst rơi vào lòng ruột và kết
thúc giai đoạn sinh sản hữu tính.
Màng vỏ bọc Oocyst gồm 2 lớp, nguyên sinh chất luôn ở dạng hạt. Ở
một số loài cầu trùng thấy ở một đầu Oocyst có nắp, lỗ noãn, điểm sáng hay
hạt cực. Nhƣ vậy, tuỳ từng chủng cầu trùng mà có hình dạng, kích thƣớc
Oocyst khác nhau, có hay không có nắp, lỗ noãn, điểm sáng hay hạt cực, cũng
nhƣ giai đoạn sinh sản bào tử hình thành bào tử hay túi bào tử, có hay không
có thể cặn trong giai đoạn noãn nang hay trong bào tử (Nguyễn Thị Kim Lan
và cs, 2008 [16]).
Về sau các nang trứng rơi ra khỏi cơ thể gia súc cùng với phân và phát
triển ở ngoài môi trƣờng. Quá trình này gọi là quá trình sinh sản bào tử.
* Giai đoạn sinh sản bào tử (Sporogony)
Sau khi Oocyst rơi vào lòng ruột, chúng cùng với phân đƣợc thải ra môi
trƣờng và bắt đầu giai đoạn phát triển mới ngoài cơ thể.
Theo Bhurtei J. E. (1995) có từ 70-80% Oocyst thải ra vào ban ngày,
tập trung khoảng 9 giờ sáng đến 13 giờ chiều, mặc dù lúc này chỉ có 25%
lƣợng phân trong ngày đƣợc thải ra. (Dẫn theo Lƣơng Tố Thu (1986) [41]).
Môi trƣờng thiên nhiên bên ngoài cơ thể hoàn toàn khác với môi trƣờng
bên trong cơ thể ký chủ, các noãn nang muốn tiếp tục duy trì sự sống buộc
phải thích nghi với điều kiện mới, trong điều kiện đó nhiệt độ, độ ẩm, ánh
sáng, không khí, luôn thay đổi. Noãn nang tự bảo vệ bằng cách nhanh chóng
tạo ra vỏ cứng, dày, gồm 1 - 2 lớp với màu sắc khác nhau tuỳ thuộc vào chủng
cầu trùng. Sau đó, trong mỗi noãn nang hình thành 4 túi bào tử có hình bầu
dục, xung quanh mỗi nguyên bào tử lại đƣợc bao bọc một lớp màng mỏng và
trở thành túi bào tử. Trong mỗi túi bào tử, nhân của tế bào lại chia đôi về hai
hiện không chỉ đối với ký chủ của chúng, mà mỗi loại cầu trùng chỉ khu trú
tại một vùng, một cơ quan nhất định nào đó trong cơ thể ký chủ. Ví dụ:
Eimeria tenella chỉ ký sinh và gây bệnh trong niêm mạc tá tràng gà. Ở lợn,
loài Eimeria debliecki cƣ trú ở tá tràng làm cho niêm mạc tá tràng bị viêm rồi
xuất huyết hoại tử (Phạm Khuê và cs, 1996 [11]).
Nhƣ vậy, tính chuyên biệt rất rõ rệt của cầu trùng giống Eimeria đã
hình thành trong quá trình thích ứng lâu dài của ký sinh trùng đối với một ký
chủ nhất định cũng nhƣ đối với từng cơ quan, từng mô bào riêng biệt. Đó là
điều kiện cơ bản cho nhiều loài cầu trùng có thể ký sinh đồng thời trên cùng
một ký chủ.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 13
* Đối với giống Isospora:
Các nhà nghiên cứu cho biết, dạng tăng trƣởng và phát triển trong quá
trình sinh sản của Isospora không có tính chuyên biệt, vì thế sản phẩm tăng
trƣởng của Isospora gondii hoặc của I. bigemina là Toxoplasma có thể gây
bệnh không chỉ cho chó, mèo mà còn có khả năng gây bệnh cho chuột, cu li,
thỏ, cừu, linh dƣơng, hoẵng, bồ câu, chim sẻ, vịt, rùa, rắn và kể cả con ngƣời.
Theo tài liệu của Lê Văn Năm (2004) [26], cầu trùng Eimeria có tính
chuyên biệt cao hơn Isospora. Đối với giống Eimeria tính chuyên biệt thể
hiện rõ hơn bởi chúng chỉ có thể nhiễm và gây bệnh cho ký chủ mà chúng
thích nghi trong quá trình phát triển. Còn với giống Isospora có thể nhiễm và
gây bệnh cho nhiều loài gia súc khác nhau và có thể ký sinh ở một số cơ quan
hay vị trí trong cơ thể. Trong khi mỗi loài của giống Eimeria chỉ ký sinh ở
một cơ quan hay vị trí nhất định nào đó trong cơ thể.
1.1.6. Dịch tễ học của bệnh cầu trùng bê nghé
Theo điều tra của nhiều tác giả, bệnh cầu trùng thƣờng gặp ở tất cả các
Phạm Văn Khuê và cs (1996) [11] cho biết, có nhiều yếu tố ảnh
hƣởng đến sự tồn tại và phát triển của Oocyst cầu trùng; trong đó, thời tiết,
khí hậu là yếu tố rất quan trọng, ảnh hƣởng lớn đến sức đề kháng của cầu
trùng. Có một số tác giả đã chứng minh bằng những nghiên cứu ở một số
loài vật nuôi nhƣ sau:
Theo Hoàng Thạch (1996) [29], (1997) [30], bệnh cầu trùng xảy ra quanh
năm, nhƣng thƣờng tập trung vào các tháng nóng ẩm của mùa xuân và mùa hè.
Thời kỳ này, điều kiện thời tiết, khí hậu rất thuận lợi cho Oocyst cầu trùng tồn tại
và phát triển ở ngoại cảnh và lây nhiễm cho đàn gà.
Dƣơng Công Thuận (2003) [42] cho biết, ở các vùng khí hậu khác nhau
thì tỷ lệ và cƣờng độ nhiễm cầu trùng có sự khác nhau.
Sự biến động về tỷ lệ và cƣờng độ nhiễm cầu trùng theo các mùa trong
năm cũng đƣợc nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở nhiều vùng khác nhau
trên thế giới và đƣa ra nhiều ý kiến khác nhau.
Nghiên cứu về mùa phát sinh bệnh cầu trùng, Joyner L. P. và cs (1966)
[60] cho biết, bệnh thƣờng lây lan và phát triển trong những tháng nóng ẩm,
mƣa nhiều từ mùa hè đến mùa thu. Thời kỳ này, thời tiết nóng ẩm làm cho
noãn nang cầu trùng dễ dàng phát triển đến giai đoạn cảm nhiễm ngay trên nền
chuồng và bãi chăn thả. Khi mƣa xuống, nƣớc mƣa sẽ mang noãn nang cảm
nhiễm ra các khu vực phụ cận, làm ô nhiễm môi trƣờng chăn nuôi.
Theo Gobzem V. R. (1972) (dẫn theo Kolapxki N. A. và cs, 1980 [48]),
khi theo dõi bệnh cầu trùng bê nghé ở thời kỳ nuôi chuồng, thấy tỷ lệ nhiễm
bệnh tới 25%. Bệnh thƣờng có nhiều hơn vào các năm có mùa hè nóng và độ
ẩm cao, mùa thu ẩm ƣớt, mƣa nhiều.