Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn oesophagostomum spp trên lợn tại huyện phú lương, tỉnh thái nguyên và dùng thuốc điều trị - Pdf 24

PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài.
Nước ta có hơn 75% dân số làm nông nghiệp, trong đó ngành chăn
nuôi chiếm một vị trí quan trọng. Chăn nuôi lợn là nghề truyền thống của
người nông dân. Từ việc chỉ chăn nuôi nhỏ, lẻ để tận dụng các phế phụ
phẩm nông nghiệp, hiện nay đã có nhiều phương thức chăn nuôi đa dạng,
góp phần nâng cao thu nhập cho người dân.
Chăn nuôi lợn có một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi gia súc
ở các nước trên thế giới cũng như ở nước ta. Nghề nuôi lợn luôn được chú ý
phát triển, ngày càng chiếm ưu thế và có tầm quan trọng đặc biệt trong đời
sống nhân dân. Con lợn đã cung cấp 70 - 80% nhu cầu về thịt cho thị trường
trong nước và xuất khẩu, đồng thời cung cấp nguyên liệu cho ngành công
nghiệp chế biến và phân bón cho ngành trồng trọt. Để đáp ứng được nhu cầu
thị trường, trong những năm gần đây chăn nuôi lợn đã có những bước phát
triển vượt bậc, tăng nhanh cả về chất lượng và số lượng. Ngoài những điều
kiện thuận lợi, chúng ta còn có nhiều khó khăn, hạn chế trong việc phát triển
chăn nuôi lợn, nhất là các tổn thất do dịch bệnh gây ra.
Thực tiễn ngành chăn nuôi lợn cho thấy, có nhiều loại dịch bệnh gây
tổn thất đáng kể cho người chăn nuôi. Ngoài những bệnh truyền nhiễm
thường gặp như: dịch tả, tụ huyết trùng, phó thương hàn… còn phải kể đến
các bệnh ký sinh trùng. Trong đó, có một số loài ký sinh trùng phổ biến mà
lợn nhiễm với tỷ lệ và cường độ cao như: bệnh sán lá, bệnh giun tròn, bệnh
ghẻ. Những bệnh trên đã gây ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của lợn,
đặc biệt là tiêu tốn thức ăn tăng, giảm tăng trọng từ 15 - 20% so với lợn
không bị bệnh.
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam có nghề chăn
nuôi lợn khá phát triển. Tuy nhiên, các bệnh do giun tròn gây nên vẫn chưa
được chú ý và nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện. Trong những bệnh
giun tròn ở lợn, bệnh Oesophagostomosis rất phổ biến, tuy không gây ra thể
bệnh cấp tính làm chết lợn hàng loạt, nhưng bệnh Oesophagostomosis làm

Oesophagostomum ở lợn có vị trí trong hệ thống phân loại động vật như sau:
Ngành: Nemathelminthes Shneider, 1873
Phân ngành: Nemathelmintha Shneider và Schulz, 1940
Lớp: Nematoda Rudolphi, 1808
Phân lớp: Secerentea Chitwood, 1933
Bộ: Rhabditida Chitwood, 1933
Phân bộ: Strogylata Railliet, 1916
Họ: Trichonematidae Cram, 1927
Phân họ: Oesophagostomatinae Railliet et Henr, 1913
Giống: Oesophagostomum Molin, 1861
Loài: Oesophagostomum dentatum Rudolphi, 1803
Loài: Oesophagostomum longicaudum Goodey, 1925
Nghiên cứu của Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12] về vị trí của giun
Oesophagostomum trong hệ thống phân loại động vật như sau :
Lớp giun tròn : Nematoda
Phân lớp: Secerentea
Bộ: Rhabditida
Phân bộ: Strogylata
Họ: Trichonematida
Giống: Oesophagostomum
Loài: Oesophagostomum dentatum
2.1.1.2. Đặc điểm hình thái và cấu tạo của Oesophagostomum
S.krjabin, Petrov A.M (1977) [30] cho biết:
Loài Oesophagostomum dentatum: Dài từ 7 - 14 mm, đầu được giới
hạn với thân rõ rệt bởi ngăn bụng sâu. Bao miệng dài tới thực quản hình
đinh ghim. Con đưc có túi đuôi, 2 gai giao hợp bằng nhau dài 0,90 – 0,94
mm. Con cái âm hộ nằm gần hậu môn, hậu môn ở cách mút đuôi 0,255 –
0,265 mm.
Loài Oesophagostomum logicaudum: Con đực dài 8,8 – 9,5 mm; con
cái dài 8 - 11 mm, đuôi rất dài và thon, nhọn. Hậu môn nằm cách mút đuôi

mm, dài 0,1 – 1,15, hơi xuyên vào cơ quan thải trứng. Trứng có hình ovan,
kích thước (0,036 – 0,071) x (0,032 – 0,045) mm.
Hình 1.1. Loài O. dentatum
1, 2. Phần đầu cơ thể, 3. Phần đuôi cá
thể, 4. Mút và gốc gai giao phối, 5. Cơ
quan điều chỉnh, 6. Túi đuôi cá thể đực,
7. Nón sinh dục
Hình 1.2. Loài O. longicaudum
1. Đầu, 2. Đuôi của con cái, 3. Đuôi
của con đực, 4. Phần cuối gai giao
hợp, 5. Lái, 6. Nón sinh dục của con
đực
2.1.1.3. Vòng đời giun kết hạt lợn.
Những nghiên cứu của Trương Lăng, Xuân Giao (2002) [10], Phạm
Sỹ Lăng và cs (2005) [11], Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12] cho biết:
Vòng đời của giun kết hạt không cần vật chủ trung gian.
Trứng 70 – 74 μ x 40 – 42 μ. Gồm 8 – 16 hạt trong vỏ trứng khi mới
nở nhiệt độ 25 – 27ºC sau 10 – 17 giờ trứng nở thành ấu trùng (theo
Shoulsby cần 24 giờ). Ấu trùng I đo được 304 – 307 μ, lúc mới nở, sau phát
triển đo được 425 – 433 μ. Ấu trùng I sau 24h ở nhiệt độ 22 - 24ºC phát dục
thành ấu trung II dài 440 - 645 μ. Ấu trùng II phát triển được 2 ngày thì ấu
trùng gây nhiễm III, dài 515 – 532 μ kể cả vỏ dài 660 – 720 μ.
Hình 1.3.Sơ đồ vòng đời giun kết hạt.
Thời gian hoàn thành vòng đời là 24 – 43 ngày.
Trứng theo phân ra ngoài, gặp nhiệt độ 25 – 27ºC, sau 10 – 17 giờ nở
thành ấu trùng, qua hai lần lột xác, sau 7 – 8 ngày thành ấu trùng gây nhiễm.
Khi ký chủ nuốt phải, ấu trùng này tới ruột thì chui vào niêm mạc ruột tạo
thành những u kén, lột xác lần thứ 3 tới 6 – 8 ngày thì thành ấu trùng kỳ IV,
sau đó rời khỏi niêm mạc ruột vào xoang ruột và lột xác lần nữa tạo thành
giun trưởng thành (Phạm Sỹ Lăng, 1997) [9].

(2000) [18], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [7]: Trứng giun kết hạt theo
phân ra ngoài, gặp điều kiện nhiệt độ 25 - 27ºC, sau 10 – 17 giờ nở thành ấu
trùng.
2.1.1.5. Khả năng sống của ấu trùng cảm nhiễm ở ngoại cảnh.
Alicata (1935) cho biết ấu trùng Oesophagostomum dentatum có sức
đề kháng tốt với nhiệt độ để ở -19ºC đến -29ºC qua 10 ngày vẫn sống và
chết cũng để ở -19ºC đến -29ºC đến 31 ngày, để ở nhiệt độ phòng bình
thường ấu trùng có thể sống 1 năm. Ấu trùng rất nhạy cảm với khô ráo. Ấu
trùng này lẫn vào thức ăn nước uống mà vào ký chủ. Khi tới mật chui vào
niêm mạc ruột tạo thành những u kén (trích theo Phạm Sỹ Lăng và cs, 2005)
[11] .
S.krjabin, Petrov A.M (1977) [30] cho biết: Ấu trùng cảm nhiễm
Oesophagostomum sống lâu hơn ở môi trường ẩm thấp, súc vật nhiễm bệnh
này chủ yếu trên đồng cỏ ẩm ướt và khi uống nước ở những ao, đầm nhỏ
cũng như máng nước lâu ngày không cọ rửa. Những ấu trùng cảm nhiễm có
sức đề kháng với nhiệt độ cao và nhiệt độ thấp, với sự làm khô và với tác
động của các nhân tố hóa học tốt hơn so với ấu trùng các giai đoạn trước.
Nhiệt độ cao sẽ tác động bất lợi đến sự phát triển của ấu trùng và ấu
trùng có thể bị chết. Mưa có ảnh hưởng quan trọng đến sự phân tán của ấu
trùng, làm ấu trùng cảm nhiễm di chuyển xa 90 cm so với vị trí ban đầu và
di chuyển vào trong đất ở độ sâu 15 cm. Có lẽ khả năng này giúp cho ấu
trùng sống sót được trong những điều kiện bất lợi và tránh được sức nóng
môi trường (Strom berg B.E, 1997 [36]).
Nghiên cứu về ấu trùng cảm nhiễm của giun kết hạt, người ta thấy sức
đề kháng của nó với nhiệt độ khá cao: Ở - 15ºC, 93% ấu trùng cảm nhiễm
sau 24 giờ có khả năng hoạt động trở lại khi đưa về nhiệt độ môi trường
xung quanh. Các ấu trùng này cũng có thể sống sót trong môi trường axit
được tổng hợp nhân tạo tương tự như môi trường axit trong dạ dày (Pit
D.S.S. và cs, 2000) [35].
Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12] cho biết: Ấu trùng có sức đề kháng

ra những u kén ở ruột, ngược lại đối với lợn lớn sau khi ấu trùng gây nhiễm
vào thì gây ra bệnh rất nặng và trên ruột có rất nhiều u kén. Ngoài ra do thời
gian sống của Oesophagostomum dentatum ở cơ thể lợn tương đối dài từ 8 –
10 tháng.
Nghiên cứu của Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12] cho biết: Tỷ lệ
nhiễm đối với lợn < 2 tháng tuổi, 3 – 7 tháng tuổi và >8 tháng tuổi lần lượt
là: 46,9%, 72,4% và 73,3%.
- Tỷ lệ nhiễm theo mùa vụ:
Theo Phan Địch Lân và cs (2002) [14]: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun
kết hạt phụ thuộc vào phương thức chăn nuôi. Tỷ lệ nhiễm giun kết hạt lợn
cao ở vụ hè – thu và giảm đi ở vụ đông – xuân.
- Tỷ lệ nhiễm theo phương thức chăn nuôi:
Lợn nuôi theo phương pháp truyền thống (tận dụng) có tỷ lệ và cường
độ nhiễm cao hơn nhiều so với lợn nuôi theo phương thức công nghiệp
(Nguyễn Thị Bích Ngà và cs, 2011 [21]).
2.1.3. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh.
2.1.3.1. Đặc điểm bệnh lý:
Ngoài tác động chiếm đoạt chất dinh dưỡng của lợn, giun tóc còn gây
những tác hại khác cho lợn.
- Tác động cơ giới: Phần đầu cắm vào thành ruột để chiếm đoạt chất
dinh dưỡng, gây tổn thương, tạo điều kiện cho vi khuẩn gây viêm ruột già.
Các tổn thương cũng có thể gây xuất huyết ruột già, làm cho lợn có hội
chứng lỵ.
- Tác động mang trùng: Giun kết hạt ký sinh gây tổn thương, tạo điều
kiện cho các nhân tố khác xâm nhập, là nhân tố gây kế phát các bệnh ký sinh
trùng khác.
- Tác động độc tố: Giun kết hạt ký sinh, các độc tố do giun bài tiết ra
làm cho ký chủ trúng độc, gầy còm, thiếu máu, gây rối loạn tiêu hóa.
2.1.3.2. Triệu chứng lâm sàng
Bệnh lý do Oesophagostomum phụ thuộc vào giai đoạn phát triển của

ở niêm mạc ruột già lợn thấy những u kén nhỏ. Ở giữa kén này có điểm màu
vàng, bên trong có ấu trùng giun. Tới ngày thứ 7 – 8 thì kết tràng bị viêm có
mủ. Có khi có tới vài nghìn u kén ở trong một đoạn ruột, u kén to bằng hạt
đậu, có khi chỉ dài 0,1 cm.
2.1.4. Chẩn đoán bệnh:
* Với gia súc sống:
Để chẩn đoán bệnh có thể áp dụng hai phương pháp là chẩn đoán lâm
sàng kết hợp với đặc điểm dịch tễ và chẩn đoán trong phòng thí nghiệm. Chẩn
đoán trong phòng thí nghiệm lại gồm: Nghiên cứu định tính và nghiên cứu định
lượng. Nghiên cứu định tính nhằm xác định có hoặc không có giun
Oesophagostomum ký sinh. Đây là phương pháp thông dụng để đánh giá tình
hình nhiễm giun Oesophagostomum ở lợn. Nghiên cứu định lượng nhằm xác
định số lượng trứng trong phân để đánh giá mức độ nhiễm và hiệu quả của một
số thuốc tẩy giun.
Phương pháp chẩn đoán lâm sàng kết hợp với đặc điểm dịch tễ: Những
triệu chứng lâm sàng cần chú ý là lợn ăn kém, gầy yếu, da khô, lông xù, ỉa
chảy…
Về đặc điểm dịch tễ học, cần căn cứ vào lứa tuổi mắc bệnh, mùa vụ, tình
trạng vệ sinh thú y… Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào những đặc điểm nói trên để
chẩn đoán thì sẽ không chính xác. Bởi vì các bệnh ký sinh trùng thường có những
triệu chứng lâm sàng tương tự nhau (rối loạn tiêu hóa, thể trạng gầy, da khô, lông
xù…). Vì vậy, để chẩn đoán chính xác bệnh phải tiến hành xét nghiệm phân tìm
trứng giun Oesophagostomum (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999) [5].
Phương pháp xét nghiệm phân:
- Phương pháp phù nổi (Fulleborn):
Nguyên lý: Dựa trên sự chênh lệch về tỷ trọng của dung dịch muối
NaCl bão hòa lớn hơn tỷ trọng của trứng giun. Trứng sẽ nổi lên trên, ta có
thể tìm thấy trứng giun dưới kính hiển vi, độ phóng đại 100 hoặc 400.
Cách pha dung dịch muối bão hòa: Cho 380 g muối NaCl vào 1 lít
nước sôi, khuấy đều đến khi muối không tan được nữa, khi để nguội trên bề

Phạm Hữu Doanh và cs (1995) [2] cho biết: Lợn rất mẫn cảm với
bệnh ký sinh trùng, vì vậy chỉ cho lợn ăn rau bèo khi đã rửa sạch sẽ và định
kỳ tẩy giun sán bằng các thuốc đặc hiệu. Thức ăn, nước uống phải luôn luôn
sạch.
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [16] cho biết: Biện pháp hữu hiệu để
phòng chống bệnh giụn sán ở gia súc là biện pháp phòng trừ bệnh tổng hợp.
Nghĩa là ở những vùng sinh thái nhất định, đồng thời sử dụng nhiều biện
pháp có hiệu quả đối với các giai đoạn phát triển của giun sán, ở môi trường
cũng như trong cơ thể vật chủ.
Thực chất của bất kỳ chương trình khống chế giun sán nào thì việc
phá vỡ vòng đời của chúng là cần thiết. Và điều này phụ thuộc trước hết vào
sự ô nhiễm nơi đó. Mức độ ô nhiễm cao là những nơi nuôi lợn trong tình
trạng vệ sinh thú y kém, ít sử dụng các thuốc phòng và trị bệnh cho lợn
(Hagsten Dr., 2000) [29].
Công tác phòng bệnh có ý nghĩa quan trọng trong quá trình tiêu diệt
bệnh giun sán nói chung và bệnh giun kết hạt nói riêng. Theo Phan Địch Lân
và cs (2005) [15] việc phòng bệnh giun kết hạt cũng như phòng các bệnh ở
giun tròn, gồm các bước sau:
* Diệt trùng ở động vật:
- Chẩn đoán bệnh chính xác để dùng thuốc điều trị.
- Xác định quy mô diệt trùng: Nơi nào nhiễm thấp, diệt trùng hẹp, nơi
nào tỷ lệ nhiễm cao diệt trùng toàn đàn.
- Định kỳ diệt trùng: Căn cứ vào vòng đời của giun, căn cứ vào vụ mùa
để có thể chăm sóc, chăn thả gia súc phù hợp.
- Dự tính hiệu quả diệt trùng: Tính tỷ lệ tẩy giun toàn đàn và tỷ lệ tẩy
sạch trùng (nếu có điều kiện mổ) để dự đoán hiệu quả của biện pháp kỹ
thuật.
* Diệt trùng phân bằng ủ nóng sinh vật học:
Hàng năm số lượng phân chuồng rất lớn và là loại phân bón quý
nhưng trong quá trình thải phân trứng giun được mang theo rất nhiều, do đó

Để phòng bệnh giun kết hạt phải thường xuyên vệ sinh chuồng trại, dụng cụ
chăn nuôi. Phân, rác ủ đúng kỹ thuật để giệt trứng giun. Định kỳ tẩy giun.
Tăng cường chăm sóc, nuôi dưỡng để gia súc có sức đề kháng cao với bệnh
tật.
* Dùng thuốc:
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [8] chữa bệnh ký sinh trùng phải
nhằm đạt ba yêu cầu sau:
Trước hết phải diệt ký sinh trùng, dùng thuốc tẩy trùng cho con vật
(diệt ký sinh trùng hay tẩy ký sinh trùng còn sống ra ngoài). Phải dùng thuốc
hướng ký sinh trùng, tức là phải độc với nó nhưng không độc với ký chủ. Hệ
số giữa liều lượng độc với con vật và liều lượng chữa bệnh cho nó phải trên
3. Nên chọn thuốc nào có hiệu lực nhất với ký sinh trùng, đồng thời ít nguy
hiểm nhất với ký chủ, rẻ tiền nhất và dễ dùng nhất (dễ dàng dùng cho toàn
dân). Hướng mới trong việc chữa bệnh ký sinh trùng là tìm những thuốc có
hiệu lực chống được nhiều loại ký sinh trùng.
Phải ngăn chặn không cho con vật ốm tái nhiễm: Đưa ngay con vật ra
khỏi nơi có bệnh, tiêu độc nơi đó trước khi đưa con vật vào lại.
Phải làm cho con vật hồi sức: Cho ăn nhiều, đủ dinh dưỡng, vitamin
và muối. Có thể dùng thuốc bổ, thuốc kích thích, tiếp máu. Giữ vệ sinh tốt,
chữa các triệu chứng.
Có rất nhiều loại thuốc có tác dụng phòng trị giun tròn đường tiêu
hóa. Thuốc có tác dụng làm giun bị tê liệt. Làm tăng co bóp ruột, làm ngừng
sự phát triển của trứng và ấu trùng, làm ký sinh trùng bị tê liệt, cộng với tác
động kích thích nhu động ruột của thuốc, từ đó tẩy giun ra ngoài.
Phạm Đức Chương và cs (2003) [1] cho biết, các thuốc thường được
dùng để điều trị bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá là:
Levamisole: Thuốc có tác dụng đối với cả ấu trùng và giun trưởng
thành. Hiệu lực tẩy giun kết hạt là 72 - 99%.
Ivermectin: tác dụng trên phổ rộng đối với nhiều loại giun tròn. Tiêm
dưới da liều 0,3 mg/kg TT cho lợn có tác dụng làm giảm 94 – 100% các giai

Dichlorvos, Febendazole, Ivermectin có hiệu quả rất mạnh (++++) đối với
giun kết hạt; thuốc Piperazine có hiệu quả một phần (+) và thuốc
Thiabendazole không có hiệu quả trong điều trị bệnh giun kết hạt lợn (-).
Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2010) [26] cho biết: Tỷ lệ lợn nhiễm giun kết
hạt ở Cần Thơ là 53,33% với cường độ nhiễm nhẹ và trung bình. Thuốc
Albendazole với liều 5 mg/kg TT và thuốc Ivermectin 0,3 mg/kg TT cho
hiệu quả tẩy giun kết hạt lợn là 100% sau một lần tẩy duy nhất.
Theo Nguyễn Thị Bích Ngà và cs (2011) [21], lợn ở tỉnh Thái Nguyên
nhiễm giun kết hạt là 33,76%, cường độ nhiễm nặng chiếm 13,69% trong số
lợn nhiễm.
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài.
Klexov N.D và Xkulikoe N. (1931) đã chữa bệnh giun kết hạt và cho
rằng, phương pháp hiệu lực hơn cả là dùng dung dịch pha loãng 0,8 – 1g Iod
trong 100ml nước (dẫn theo K.I. Skrjabin, Petrov A.M, 1977) [30].
Theo Miax E.A – Nikova (1937) có thể tẩy giun kết hạt cho lợn bằng
cách thụt 0,5 formalin với liều 2000ml cho 1 lợn nặng 124 – 140kg chữa
bằng formalin nên tiến hành ở nền chuồng nghiêng 30 - 40ºC để đầu thấp
hơn phía sau, làm như vậy thì thuốc ngấm nhiều nhất trong ruột già tức là
ngấm nhiều ở chỗ giun sán ký sinh (dẫn theo K.I. Skrjabin, Petrov A.M,
1977) [30].
Johanes Kafuman (1996) [32] cho biết: Sự nhiễm giun tròn cho lợn
con có thể được ngăn chặn bằng cách điều trị cho lợn mẹ trước khi đẻ.
Bezimidazole, Febatel và Levamisol có tác dụng hữu hiệu để chống lại sự
lây nhiễm. Ivermectin (300μg/kg TT) dùng cho lợn trưởng thành, dùng trước
đẻ 1 – 2 tuần có thể kiểm soát được sự lây nhiễm cho lợn con sau khi sinh.
Lai M.và cs (2010) [34] cho biết: Trong tổng số 2971 mẫu phân lợn
lấy từ các trang trại lợn ở Trùng Khánh – Trung Quốc được xét nghiệm có:
362 mẫu (12,18%) nhiễm Ascaris suum, 301 mẫu (10,13%) nhiễm Trichuris
suis, 301 mẫu (10,13%) nhiễm Oesophagostomum spp., 491 mẫu (16,53%)
nhiễm Eimeria spp., 149 mẫu (5,02%) nhiễm Isopora suis, 677 mẫu

Từ ngày 9 tháng 12 năm 2013 đến ngày 31 tháng 5 năm 2014.
3.3. Nội dung nghiên cứu.
3.3.1. Nghiên cứu về tình hình nhiễm Oesophagostomum spp.
- Điều tra về thực trạng chăn nuôi và phòng chống bệnh ký sinh trùng
cho lợn tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm Oesophagostomum spp ở lợn tại một số xã
của huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm Oesophagostomum spp theo tuổi lợn.
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm Oesophagostomum spp theo giống lợn.
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm Oesophagostomum spp theo tháng trong
năm.
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm Oesophagostomum spp theo phương thức
chăn nuôi.
- Tỷ lệ lợn có triệu chứng lâm sàng của bệnh giun Oesophagostomum.
3.3.2. Nghiên cứu sự phát triển của trứng Oesophagostomum ở ngoại
cảnh.
- Sự ô nhiễm trứng Oesophagostomum spp ở ngoại cảnh.
- Khả năng tồn tại của trứng ở ngoại cảnh.
- Khả năng nở của trứng ở ngoại cảnh.
- Khả năng sống của ấu trùng cảm nhiễm ở ngoại cảnh.
3.3.3. Biện pháp phòng trị bệnh.
- Xác định hiệu lực của thuốc tẩy giun Oesophagostomum spp.
- Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh Oesophagostomum spp. cho lợn.
3.4. Phương pháp nghiên cứu.
3.4.1. Phương pháp điều tra công tác phòng chống bệnh ký sinh trùng nói
chung, bệnh Oesophagostomosis nói riêng cho lợn ở địa phương.
- Trực tiếp quan sát.
- Phát phiếu điều tra.
3.4.2. Phương pháp thu thập, xét nghiệm mẫu.
Bố trí thu thập mẫu: Bố trí thu thập mẫu theo phương pháp lấy mẫu

3.4.3. Tỷ lệ nhiễm Oesophagostomum theo lứa tuổi lợn.
Tuổi lợn được phân ra theo 4 lứa tuổi:
Lợn dưới 2 tháng tuổi.
Lợn > 2 – 4 tháng tuổi.
Lợn > 4 – 6 tháng tuổi.
Lợn trên 6 tháng tuổi.
3.4.4. Tỷ lệ nhiễm Oesophagostomum theo các tháng trong năm.
Các tháng được theo dõi gồm: Tháng 12/2013; tháng 1, 2, 3, 4, 5
(2014).
3.4.5. Tỷ lệ nhiễm Oesophagostomum theo giống lợn.
Xác định tỷ lệ nhiễm của các giống lợn: Lợn địa phương, lợn lai, lợn ngoại.
3.4.6.Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun Oesophagostomum theo phương thức
chăn nuôi.
Phương thức chăn nuôi: Chúng tôi quy định 3 hình thức chăn nuôi
như sau :
+ Nuôi theo phương thức truyền thống (tận dụng): Hộ gia đình chăn
nuôi lợn với số lượng ít, thức ăn cho lợn chủ yếu tận dụng phế phụ phẩm
ngành trồng trọt (cám xát, bột ngô, khoai, sắn, rau xanh).
+ Nuôi theo phương thức bán công nghiệp: Hộ gia đình chăn nuôi lợn,
cho lợn ăn rau, cám nấu và bổ sung thêm thức ăn tổng hợp hàng ngày.
+ Nuôi theo phương thức công nghiệp: Chăn nuôi với số lượng lớn,
thức ăn cho lợn hàng ngày là thức ăn tổng hợp.
3.4.7. Phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm giun tròn Oesophagostomum.
Mẫu phân được xét nghiệm tại phòng thí nghiệm bằng phương pháp
fulleborn dùng dung dịch muối NaCl bão hòa, tìm trứng giun
Oesophagostomum dưới kính hiển vi (độ phóng đại 100). Những mẫu có
trứng giun đánh giá là có nhiễm, ngược lại là không nhiễm.
3.4.8. Phương pháp xác định cường độ nhiễm giun Oesophagostomum.
Cường độ nhiễm được xác định bằng phương pháp Mc. Master: đếm
số trứng giun Oesophagostomum trong một gam phân bằng buồng đếm Mc.

trứng/ g phân. Sau khi dùng thuốc, xét nghiệm phân ở 15 ngày sau tẩy bằng
cách đếm số trứng/ g phân để xác định hiệu lực của thuốc. Nếu không tìm
thấy trứng giun Oesophagostomum trong phân thì xác định thuốc có hiệu lực
triệt để. Nếu vẫn thấy trứng giun Oesophagostomum nhưng số lượng trứng
giảm rõ rệt thì xác định thuốc có hiệu lực với giun Oesophagostomum nhưng
chưa triệt để.
- Xác định độ an toàn của thuốc trị Oesophagostomum: Độ an toàn
của thuốc được xác định thông qua theo dõi phản ứng của lợn sau khi dùng
thuốc (trạng thái cơ thể, sự vận động, ăn uống ).
3.4.11. Đề xuất quy trình phòng trừ tổng hợp bệnh do Oesophagostomum
gây ra cho lợn.
Từ đặc điểm dịch tễ đề xuất biện pháp phòng bệnh cho lợn.
3.5. Phương pháp xử lý số liệu.
3.5.1. Một số công thức tính tỷ lệ.
Tỷ lệ nhiễm (%) =
Số lợn kiểm tra
x 100
Cường độ nhiễm (%) =
Số lợn nhiễm ở mỗi cường độ
Số lợn nhiễm
Số lợn nhiễm
x 100
3.5.2. Một số tham số thống kê:
+ Số trung bình cộng (
X
):

X
=
x

m
x
= ±
1

n
s
(với n > 30)

Trong đó:

X
: Số trung bình
m
x
: Sai số trung bình cộng
S
x
: Độ lệch tiêu chuẩn
PHẦN 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1. Đặc điểm dịch tễ bệnh Oesophagostomois ở lợn.
Trong thời gian thực hiện đề tài, chúng tôi đã tiến hành điểu tra tình
hình thực hiện vệ sinh thú y phòng chống bệnh ký sinh trùng cho lợn ở địa
phương. Khảo sát được thực hiện trên 4 địa bàn là xã Phấn Mễ, Cổ Lũng,
Sơn Cẩm và Vô Tranh.
Hiệu lực tẩy của thuốc (%) =
Số lợn (-) sau khi tẩy
Số lợn được tẩy
x 100


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status