S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn
1
T
T
ê
ê
n
nđ
đ
ề
ềt
t
à
à
i
i
:
:
N
N
G
C
C
I
I
M
MS
S
I
I
N
N
H
H
B
I
I
N
NP
P
H
H
P
PK
K
T
T
H
H
U
C
C
ễ
ễ
N
N
G
G
I
IV
V
I
I
L
L
O
O
N
N
G
G
T
T
I
I
N
N
G
G
ấ
N
N
,
,V
V
I
I
T
TN
N
A
A
M
M
C
C
h
h
u
u
n
n
g
gt
t
r
r
ọ
ọ
t
t
M
M
ã
ãs
s
ố
ố
L
L
u
u
ậ
ậ
n
n
o
o
a
ah
h
ọ
ọ
c
cn
n
ô
ô
n
n
g
gn
n
g
g
h
h
t
h
h
c
ch
h
i
i
n
n
:
:
A
T
T
S
S
A
A
M
M
Y
Y N
N
g
g
i
ih
h
c
c
:
:
1
1
.
.T
T
S
S
.
.N
N
g
g
u
u
.N
N
g
g
ụ
ụX
X
u
u
õ
õ
n
nB
B
ỡ
ỡ
n
n
h
h
i
iN
N
g
g
u
u
y
y
ờ
ờ
n
n2
2
0
0
0
0
9
9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
các biện pháp kỹ thuật nhằm khống chế lộc đông giúp cây ra hoa ổn định. Xuất
phát từ thực tiễn của nhu cầu sản xuất trên địa bàn chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng lộc và biện pháp kỹ thuật
khống chế lộc đông đối với giống vải Hùng Long tại Đồng Hỷ - Thái nguyên,
Việt Nam”.
Mục đích của đề tài
1. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng lộc của giống vải Hùng
Long tại Đồng Hỷ - Thái nguyên, Việt Nam.
2. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật khống chế lộc
đông đến năng suất vải Hùng Long tại Đồng Hỷ - Thái nguyên, Việt Nam
Yêu cầu của đề tài
+ Theo dõi thời gian xuất hiện và sinh trưởng của các đợt lộc giống vải
Hùng Long tại Đồng Hỷ - Thái Nguyên, Việt Nam.
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp cắt tỉa đến khả năng sinh
trưởng lộc và năng suất vải
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp khống chế lộc đông đến
năng suất vải.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
của hoa, hơn nữa có tác dụng làm giảm năng lượng cung cấp cho bộ rễ, giảm
cơ năng hoạt động của bộ rễ, giảm hấp thu nước nâng cao nồng độ dịch tế
bào, từ đó kích thích việc hóa mầm hoa [5] [59].
+ Cắt tỉa: Sự sinh trưởng tự nhiên của cây ăn quả thường không đáp
ứng yêu cầu về cấu trúc tối ưu và thuận lợi cho việc chăm sóc tán cây. Người
làm vườn cần phải tác động tích cực để tạo dựng hệ thống cành khung, nửa
khung và cành nhánh của cây cho phù hợp với cấu trúc của vườn. Cắt tỉa
nhằm mục đích điều hòa sinh trưởng, ra hoa kết quả của cây. Cắt tỉa làm giảm
đi chiều dài cành, tỉa bớt cành nhánh, hướng cành ra phía ngoài khiến cho
trong tán cây giảm số lượng mầm sinh trưởng dẫn tới việc phân phối lại các
chất giữa các cơ quan còn lại làm cho quả phát triển to hơn [5], [58].
Cắt tỉa nâng cao tính hoạt động sinh lý của mô tế bào và hiệu suất thoát
hơi nước, trong điều kiện khô hạn. Đây là một trong những biện pháp cải
thiện chế độ ẩm cho cây. Trong kỹ thuật làm vườn hiện đại, cắt tỉa là khâu kỹ
thuật then chốt, cần có kiến thức, kinh nghiệm và tay nghề [1].
2.2. NGUỒN GỐC VÀ PHÂN LOẠI CÂY VẢI
2.2.1. Nguồn gốc cây vải
Cây vải có tên khoa học là Litchi Chinenis Sonn (Nephelium Litchi
Cambess) thuộc họ Bồ hòn có nguồn gốc ở miền nam Trung Quốc. Hiện nay
ở Trung Quốc có những cánh rừng vải dại xanh tốt ở núi Kim Cổ Lĩnh, tỉnh
Phúc Kiến có cây vải đã 1200 tuổi và vẫn cho quả (Trần Thế Tục, 2004) [36].
Mặc dù lịch sử trồng vải lâu đời như vậy nhưng cho đến cuối thế kỷ 17 vải
mới được mang sang Burma, 100 năm sau mới được đưa sang ấn Độ vào năm
1775. Cây vải được đưa sang trồng ở Hawai năm 1873 bởi một thương gia
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
người Trung Quốc, Florida năm 1883, Califonia năm 1897 và đến Israen năm
Tại Nam Phi giống vải được trồng chủ yếu là Kwaimi nhưng thường
được gọi là "Mauritius" vì giống có nguồn gốc từ hòn đảo này, giống có kích
thước quả trung bình, tán cây thấp, chất lượng tốt. (Morton,1987) [61].
Các giống vải được trồng ở Ấn Độ hiện nay là: Shadi, Bombai, Rose,
China, Seented và Mazaffarpur (Ghosh và cộng sự, 2000) [48].
Có hơn 40 giống được trồng ở Australia, các giống trồng phổ biến ở
đảo Queesland bao gồm Kwai May Pink, FayZee Siu và Souey Tung, giống
Kwai May Pink được trồng ở miền Trung, miền Nam trồng chủ yếu giống
Waichee (Mitra -2005) [60].
Các giống vải trồng chủ yếu ở Thái Lan là các giống Hap Ip, Tai So và
Waichee ngoài ra còn có khoảng hơn 30 giống vải khác nhau. Các giống vải ở
Thái Lan được chia ra làm hai nhóm, nhóm cần có nhiệt độ lạnh trong mùa
đông và nhóm yêu cầu nhiệt độ lạnh trong mùa đông ít hơn, nhóm này trồng ở
khu vực trung tâm của Thái Lan, còn nhóm kia thì trồng ở các tỉnh phía Bắc
(Yapwattanaphun và cộng sự, 2000) [67].
Ở Nam Mỹ có nhiều giống vải đã được nhập về từ ấn Độ và Trung
Quốc nhưng trong 43 giống được nhập nội chỉ có hai giống hiện nay còn tồn
tại và được trồng phổ biến đó là Hap Ip và Kwaimi (Morton, 1987) [61].
Ở Hawai có 3 giống trồng phổ biến đó là giống Hap Ip, Kwaimi và
Brewster. Vào năm 1942, Groff tiến hành lai tạo giữa 3 giống vải trên nhằm
tìm ra một giống vải tốt nhất và đến năm 1953 đã chọn ra được một giống
mang tên Groff. Giống này có tính di truyền ổn định, chín muộn, quả có kích
cỡ trung bình, thịt quả trắng và ráo, hương vị thơm ngon, hầu hết các hạt đều
bị teo nên rất nhỏ (Groff, 1954) [49].
Ở Florida giống vải được trồng chủ yếu là giống Brewster [56].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Năm 1991, Việt Nam đã nhập nội một số giống vải từ Trung Quốc và
đang được trồng khảo nghiệm là các giống: Quế Vị, Nhu Mê Tu, Hoài Chi,
Hắc Diệp, Tâm Nguyệt Hồng, Phi Tử Tiếu, Đại Tào. Năm 1991, dự án VIE86-
003 đã nhập một số giống từ Úc về Lục Ngạn như: Waichee, Taiso, Salathit,
Kwai Pink nhưng qua theo dõi các giống này đều sinh trưởng kém hơn vải
thiều Thanh Hà. Năm 1998, Huyện Lục Ngạn nhập giống Bình Đường Anh,
năm 2001 tổng công ty rau qủa nhập giống Đại Bi Hồng và trồng tại Lục Ngạn
các giống này đang tiếp tục được theo dõi [41].
Viện nghiên cứu rau quả đã tập trung tuyển chọn được một số giống vải
chín sớm trong đó nổi bật 5 giống có triển vọng là các giống Yên Hưng, Bình
Khê, Đường Phèn, Thạch Bình và giống Hùng Long. Các giống này đã qua
theo dõi, bình tuyển và đánh giá có khả năng chín sớm hơn vải thiều từ 20 -
30 ngày, giá bán gấp 2 - 3 lần, chất lượng gần tương đương vải Thanh Hà
(Nguyễn Văn Dũng, 2005) [11].
2.3. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ VẢI TRÊN THẾ GIỚI VÀ
VIỆT NAM
2.3.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải trên thế giới
* Tình hình sản xuất
Bảng 2.1: Diện tích và sản lƣợng vải của một số nƣớc trên thế giới
Tên quốc gia
Diện tích (ha)
Sản lƣợng (tấn)
Trung Quốc (cả Đài Loan)
592.000
1.270.000
1.270.000 tấn, Ấn Độ 430.000 tấn, Đài Loan 110.000 tấn, Thái Lan 85.000
tấn. Việt Nam 120.000 tấn (Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và PTNT ngày
24/4/2002). Hiện nay, nhu cầu thị trường thế giới còn rất lớn về vài lượt cũng
như sản phẩm được chế biến từ quả vải.
Theo Sauco [47] năng suất vải trên giới đạt trung bình khoảng 60-70
kgcây (2,5 - 5,4 tấn/ha), cây tốt có thể đạt tới 125 - 130 kg/cây (8-10 tấn/ha).
Năm 1993 Đài Loan đã xuất khẩu quả vải tươi với tổng số 6.989 tấn,
Hồng Kông là thị trường tiêu thụ vải lớn nhất của Đài Loan (1.925 tấn), tiếp
theo là Canada (1.248 tấn), Nhật Bản (1.227 tấn) Philippin (1.061 tấn),
Singapore (990 tấn). Trung Quốc xuất khẩu năm 1993 là 533 tấn vải tươi.
Hồng Kông là thị trường tiêu thụ vải lớn nhất của Trung Quốc với 476 tấn,
tiếp theo là Pháp (30 tấn) [21].
Thái Lan chủ yếu trồng các giống: HongHuay, O-Hia, Chakrapud,
Kom, Jean và Sam poaw Koew. Năm 1993 Thái Lan xuất khẩu 7.651 tấn về
đóng hộp (thu 256,1 triệu Bath) cho các nước Malaixia (2.514 tấn), Singapore
(1.133 tấn), Mỹ (1.085 tấn), Hà Lan (472 tấn) [21].
Vải ở Ấn Độ được sản xuất tập trung tại phía Bắc tỉnh Bihar với các
giống vải chính: Shahi, China, Longina và Madras. Hiện nay Ấn Độ xuất
khẩu vải tươi không nhiều, chủ yếu xuất khẩu ở dạng đóng gói 2kg/hộp, trong
khi sản phẩm nội tiêu thường là 15 - 18 kg hoặc 20kg/thùng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
Ở Úc, thời gian sản xuất vải từ tháng 11- 3 đỉnh cao từ tháng 12 - 2 với
giống vải chủ yếu là Taiso và Bengal. Năm 1993 Úc đã xuất khẩu 17 tấn vải
cho Liên minh châu Âu là 14 tấn cho Singapore.
Ở Mỹ vải được trồng nhiều ở Florida. Sản lượng vải năm 1992 đạt
39.000 tấn tại Hawai. Các giống Brewtes và Mauritius được trồng ở đây với
trường xuất khẩu của Trung Quốc chủ yếu là Hồng Kông, Singapore và một số
nước Đông Nam Á. Giá vải của Trung Quốc giao động từ 0,5 đến 2,5 USD/kg
tùy thuộc vào chất lượng quả và thời vụ thu hoạch, cao nhất là giá của các
giống No Mai Chee và Kwai May hạt nhỏ với giá 10,0 USD/kg, giá trung bình
tại Singapore và Anh là 6 USD/kg, tại Nam Mỹ là 15 USD/kg [57], [66]. Đài
Loan hàng năm xuất khẩu khoảng 5.700 tấn vải cho các nước: Philppines:
2000 tấn; Nhật: 1000 tấn; Singapore: 500 tấn; Mỹ: 1.200 tấn và Canada:
1.000 tấn.
Australia là nước sản xuất vải với số lượng ít, nhưng lại tập trung chủ
yếu cho xuất khẩu. khoảng 30% sản lượng vải của Australia xuất khẩu cho
Hồng Kông, Singapore, Châu Âu và các nước Ả Rập nhưng Australia lại phải
nhập khẩu vải của Trung Quốc vào những tháng trái vụ.
Thị trường nội địa là thị trường mạnh tiêu thụ vải tươi của hầu hết các
quốc gia sản xuất vải trên thế giới. Các nước hàng năm chỉ xuất khẩu một
lượng vải rất nhỏ trong thị trường thế giới ( Menzel, 2002) [57].
2.3.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải tại Việt Nam
* Tình hình sản xuất
Cây vải được trồng ở các tỉnh phía Bắc, tập trung ở vùng Đông Bắc
Bắc Bộ (Thái nguyên, Việt Nam, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Bắc Giang, Quảng
Ninh, Hải Dương, dọc hai bờ sông Đáy trên địa bàn Hà Tây, hai bên bờ sông
Hồng từ Việt Trì ngược lên).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
Bảng 2.2. Tình hình sản xuất vải ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam Chỉ tiêu
5.174
3.847
45,1
17.349
Các tỉnh khác
20.250
20.080
51,3
103.010
Tổng
93.812
85.992
48,62
418.111
(Nguồn: Tổng cục thống kê 2007)
Số liệu bảng 2.2. cho thấy, đến năm 2007, diện tích trồng vải của Việt
nam đạt 85.992 ha với sản lượng 418.111 tấn (chiếm 32,9% diện tích và
24,8% tổng sản lượng cây ăn quả của miền Bắc)
Ở miền Nam các vùng cao như: Đà Lạt, Buôn Mê Thuật, Kon Tum
đang trồng thử và bước đầu đã có kết quả. Vùng đồng bằng Sông Cửu Long ở
huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long, có trồng vài chục cây vải 40 - 50 tuổi, cây
ra hoa, kết quả bình thường nhưng quả nhỏ (6g) chất lượng quả ngon.
Theo Vũ Công Hậu năm (1999) [16] Ưu thế lớn nhất của cây vải là: Dễ
trồng, chăm sóc đơn giản, chịu được đất chua, đất đồi dốc là loại đất rất phổ
biến ở vùng đồi núi phía Bắc, thêm vào đó công tác bảo vệ thực vật đơn giản
hơn các cây trồng khác.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
4
Vải lạnh đông Block
246
Tổng số
2.160
(Nguồn: Tổng Công ty Rau quả Việt Nam - 2007)
Thị trường vải tươi chủ yếu ở Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh, vải
sấy khô chủ yếu bán sang Trung Quốc và một phần sang Lào, Campuchia.
Hầu hết sản phẩm vải của tư thương tiêu thụ, có rất ít tổ chức đứng ra thu mua
vải cho người sản xuất.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
Bảng 2.4. Lƣợng xuất khẩu các mặt hàng từ quả vải 6 tháng năm 2007
TT
Mặt hàng
Nƣớc nhập khẩu
Sản lƣợng
(tấn)
Giá trị
(USD)
1
Vải tươi
Hàn Quốc
-
34.000
theo đánh giá của các nhà chuyên môn thì là một trong những khu vực có điều
kiện khí hậu và đất đai thích hợp cho cây vải phát triển (Vũ Văn Tùng, 2002)
[31]. Diện tích cây ăn quả chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng số diện tích đất
nông nghiệp của tỉnh, diện tích một số loại cây ăn quả của Thái nguyên, Việt
Nam được trình bày qua bảng 2.5
Bảng 2.5. Diện tích một số cây ăn quả của tỉnh Thái nguyên, Việt Nam
STT
Loại cây
ăn quả
2003
2004
2005
Diện
tích (ha)
Tỷ lệ
(%)
Diện tích
(ha)
Tỷ lệ
(%)
Diện tích
(ha)
Tỷ lệ
(%)
1
Nhãn, vải
8,93
71,76
100
12,344
100
12,44
100
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái nguyên, Việt Nam năm 2005-2006)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
Qua bảng 2.5 cho thấy diện tích nhóm cây ăn quả là vải nhãn chiếm tỷ lệ cao
nhất và có sự tăng dần qua các năm từ 71,76% năm 2003 đến 72,30% năm 2005.
Số liệu thống kê cho thấy, cơ cầu giống vải chủ yếu của Thái nguyên, Việt
Nam có 3 nhóm chính: Đó là vải chua (vải tu hú), vải nhỡ vải lai và vải thiều.
Trong nhóm vải thiều, vải thiều Thanh Hà có diện tích lớn nhất, chiếm hơn
70,99% diện tích, vải chua chiếm 5,53%, vải nhỡ khoảng 11,37%, còn lại là diện
tích vải thiều Phú Hộ (Trần Thế Tục, 2004) [36]. Có thể thấy giống vải chua, vải
nhỡ là giống chín sớm chiếm diện tích nhỏ so với diện tích trồng vải của toàn
tỉnh, có chất lượng kém, chua và hạt to, tuy nhiên giá bán trên thị trường thường
cao do giống này chín sớm hớn vải Thanh Hà khoảng 1 tháng. Hiện nay giống
vải chín sớm mới đang được ưu tiên đưa vào cơ cấu trồng vải, tạo thị trường vải
trước thời vụ thu hoạch rộ của vải Thanh hà đó là giống vải Hùng Long.
2.3.4. Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải tại huyện Đồng Hỷ
Diện tích và sản lượng một số cây ăn quả chính của huyện Đồng Hỷ
được trình bày qua bảng 2.6.
Bảng 2.6. Diện tích, sản lƣợng một số cây ăn quả chính ở huyện Đồng Hỷ
STT
Loại cây
ăn quả
45,3
67,9
5
Chanh
37
37
48,6
179,8
6
Dứa
28
28
78,6
220
7
Chuối
57
57
100,1
571
8
Bưởi
14
14
96,4
135
9
Na
159
159
khác trong toàn huyện thể hiện qua đồ thị 2.1.
Đồ thị 2.1. Tỷ lệ diện tích cây vải so với các loại cây ăn quả khác của
huyện Đồng Hỷ năm 2008
Qua đồ thị 2.1 cho thấy diện tích cây vải chiếm tỷ lệ tới 61,01% trong
tổng số diện tích cây ăn quả của toàn huyện, chứng tỏ vai trò quan trọng của
loại cây ăn quả này trong cơ cấu diện tich cây ăn quả của huyện Đồng Hỷ.
Tuy có diện tích lớn song thị trường tiêu thụ vải của huyện Đồng Hỷ đa số là
bán quả tươi cho khu vực trong tỉnh và một số địa bàn lân cận. Một số khu
vực trồng vải chín sớm của huyện đã cho thu hoạch nhưng diện tích còn ít,
năng suất thấp do nhiều nguyên nhân.
2.4. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ CÂY VẢI Ở VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI
2.4.1. Nghiên cứu về đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái
2.4.1.1. Đặc điểm thực vật học
a. Đặc điểm rễ:
Cây vải có bộ rễ rất khoẻ gồm rễ ăn đứng và rễ ăn ngang, bộ rễ ăn
nông, sâu, rộng, hẹp phụ thuộc cách nhân giống, đất trồng, nước, phân bón và
38.99%
61.01%
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
19
d. Đặc điểm hoa
Vải có 3 loại hoa cơ bản: hoa đực, hoa cái và hoa lưỡng tính, hoa vải rất
bé, không có cánh, hoa đực có khả năng tung phấn để thụ tinh, hoa cái được thụ
tinh sẽ phát triển thành quả. Hoa lưỡng tính có thể kết quả được nhưng ít thấy,
hoa cái thường có 2 bầu, sau khi thụ tinh xong thì quả phát triển, thường chỉ có
một bầu phát triển thành quả (Trần Thế Tục và cs, 1997) [32].
- Hoa cái: hoa cái phát triển hoàn toàn, ba bộ phận bầu nhuỵ, vòi nhuỵ
và đầu nhuỵ phân hoá khá rõ. Bầu nhuỵ phát triển thường có 2 - 3 tâm bì. Bầu
nhuỵ có 3 tâm bì thì cả hai đều mọc sóng đôi hàng đều, bầu nhị có 3 tâm bì thì
sắp xếp theo hình chân đỉnh. Trong bầu nhị có phôi chân mọc ngược có thể
thụ tinh kết quả. Khi nhuỵ đã chín thì đầu nhuỵ tiết ra dịch dính là thời điểm
thụ phấn tốt nhất. Chỉ nhị của hoa này rất ngắn khoảng 0,5 cm chỉ cao bằng
bầu nhị bao phấn to, thông thường không nứt ra, cho dù có nứt cũng không có
phấn ra được (Nguyễn Văn Dũng và cs, 2005) [9].
Hoa cái sau khi thụ phấn, thụ tinh sẽ đậu quả. Với sản xuất, hoa cái có
ý nghĩa quan trọng, nó chiếm khoảng 30%. Với các giống khác nhau, tuổi cây
khác nhau, ra hoa sớm hoặc muộn, thì tỷ lệ hoa cái cũng khác nhau [9].
- Hoa đực: Thường gọi là “hoa giả” bao gồm hoa đực mà nhuỵ này hoàn
toàn thoái hoá và nhuỵ cái phát triển không hoàn toàn, nhuỵ thoái hoá chỉ còn
dấu vết nhị được mọc trên mầm hoa, phấn nhiều 6 - 8 nhị. Chỉ nhị dài, bao
phấn to, phấn hoa khi chín có màu vàng, nhị đực thường có hạt phấn tốt, hoa
đực tiêu hao dinh dưỡng nhiều, nên cần có biện pháp giảm tỷ lệ hoa đực [9].
- Hoa lưỡng tính: có nhị đực, nhuỵ cái cùng phát triển, nhị có thể tung
phấn bình thường, đầu nhuỵ có thể nứt ra để thụ phấn, thụ tinh. Đây là loại
hoa hoàn toàn có thể kết thành quả, nhưng số lượng hoa lưỡng tính không
nhiều (Anonymous, 2000) [44].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21
2.4.1.2. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của cây vải
a. Giai đoạn sinh trưởng
Trên cây đã cho quả một năm có 2-3 đợt lộc vào tháng 2, sau thu hoạch
tháng 6-7 và tháng 9-10. Khi cây đã già thì một năm chỉ có 2 đợt lộc vào
tháng 3 và tháng 9. Đợt lộc vụ xuân nếu không có hoa thì sẽ thành cành dinh
dưỡng, nếu cành mang hoa thì lá cành quả, loại cành này mọc trên cành vụ
thu năm trước, bởi vậy phải chăm sóc tốt cành vụ thu thì năm sau mới có
nhiều cành cho quả (Trần Thế Tục, Ngô Bình, 1997) [34].
b. Giai đoạn phát triển
Theo Sauco [47]: thời gian từ khi trỗ hoa đến khi quả vải chín kéo dài
3-4,5 tháng ở vùng nhiệt đới và từ 4-6 tháng ở vùng bán nhiệt đới. Cây trồng
bằng hạt sau trồng từ 6 năm trở lên mới trổ hoa, cho quả. Cây trồng bằng cành
chiết thì sau 3 - 4 năm đã cho quả. Cây trồng bằng cành ghép có thể ra hoa và
cho quả trước cây trồng bằng cành chiết.
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc đậu hoa ở cây ăn quả tuỳ thuộc
vào 2 yếu tố: Tinh bột (Hydrat carbon) và chất kích thích sinh trưởng. Sự trỗ
hoa của cây vải, tuỳ thuộc bình quân giữa chất khởi điểm tăng trưởng (hay
chất ức chế, ngăn trỗ hoa) do các lá non đang lớn phát sinh và một chất ức chế
trổ hoa do đó là già phát sinh (Trần Thế Tục, 1997) [33].
Theo các tác giả Trung Quốc, quả vải phát triển qua 3 giai đoạn và
cùng xuất hiện 3 lần rụng quả [33].
- Giai đoạn 1: Tế bào tăng trưởng mạnh để phát triển phôi, vỏ hạt, vỏ
quả. Sau hoa cái nở 10 ngày, quả bằng hạt đậu thì rụng quả sinh lý đợt 1.
- Giai đoạn 2: Hạt lớn nhanh, vỏ quả cứng lại, cùi dần bao cứng hạt.
Khi cùi bao từ 1/3 - 2/3 hạt, do dinh dưỡng không đầy đủ hoặc nguyên tố kích
thích bên trong giảm nên xuất hiện rụng quả lần 2.
C sinh trưởng chậm, 21
o
C trở lên sinh trưởng tốt, ở 23 - 26
o
C
sinh trưởng mạnh nhất. Khi nhiệt độ giảm xuống 0
o
C chưa bị hại, -1,5
o
C lộc
thu bị hại nghiêm trọng (Nguyễn Văn Dũng và cs, 2005) [9].
Ở vùng nhiệt đới (Indonexia, Nam Trung Quốc, Philippin, Guatemala -
Cu ba), nhiệt độ tối thấp không bao giờ dưới 10
o
C, cây vải sinh trưởng khoẻ,
nhưng không bao giờ ra hoa. Một số tác giả cho rằng sự ra hoa thất thường ở
một số nước có nguyên nhân bởi nhiệt độ cao (Menzel, 1998) [54].
Những nghiên cứu của Vũ Mạnh Hải cho thấy độ các tháng 12 đến tháng
2 năm sau, lượng mưa tháng 11, 12 số giờ nắng tháng 11, 12 có tương quan
đến sản lượng (Vũ Mạnh Hải và CTV, 1986) [12].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
23
MenZel, S.V. Galan, U.G. Minnini [50],[53],[55] nhận thấy sự phân
hoá mầm hoa của vải có quan hệ với sự bất lợi của môi trường và đã đưa ra
các yếu tố lý tưởng của điều kiện khí hậu liên quan đến sinh trưởng và phát
triển của cây vải hàng năm như sau:
1. Không có sương giá
C, thời gian đầu có lợi cho phân hoá mầm hoa, những lá
nhỏ (ở cụm hoa gốc) bắt hình thành thì teo đi và cụm hoa không có lá, nhiệt
độ ừ 11 - 14
o
C lá nhỏ và cụm hoa dần dần phát dục thành cụm hoa có giá trị
kinh tế. Nhiệt độ trên 19
o
C không có lợi cho phân hoá mầm hoa, chỉ có lợi
cho sinh trưởng. Đồng thời tác giả nhận thấy đối với giống Hoài Chi và các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
24
giống chín muộn, chỉ cần sinh trưởng của cành cây khoẻ mạnh, cành mẹ mùa
thu thành thục, bình quân nhiệt độ tháng 1, 2 là 18
o
C thì rất tốt cho hình thành
hoa và đậu quả [16],[39].
b. Yêu cầu về ánh sáng
Tục ngữ Trung Quốc có câu: “Đương nhật lệ chi. Bội nhật long nhãn”
(nghĩa là: vải trồng ở nơi có nhiều ánh mặt trời, còn nhạn có thể trồng nơi ánh
sáng ít hơn). Tổng số giờ chiếu sáng trong năm là 1800 giờ trở lên khá thích
hợp cho vải, ánh sáng đầy đủ giúp cho tác động đồng hoá tăng tích lũy hữu
cơ, thuận lợi cho phân hoá mầm hoa, làm cho mã quả đẹp, nâng cao chất
lượng. Cành lá quá dầy bị thiếu ánh sáng, dinh dưỡng tích luỹ ít, khó hình
thành hoa bởi vậy thời kỳ ra hoa cần có số giờ nắng chiếu sáng nhiều nhưng
không thích ánh sáng mạnh, bởi ánh sáng mạnh làm không khí khô, lượng bốc
hơi lớn, bao phần rễ bị khô, nồng độ mật hoa lớn ảnh hưởng đến thụ phấn thụ
tinh. Mùa hoa, mưa râm triền miên, hiệu quả quang hợp thấp, dinh dưỡng mất
chịu ảnh hưởng không lớn [23].
Mưa nhiều ảnh hưởng đến thụ phấn, thụ tinh. Thời kỳ quả non mà gặp trời
mưa và râm nhiều ngày hiệu quả quang hợp thấp dễ rụng quả. Thời kỳ ra hoa
cần lượng mưa thích hợp, cách mấy ngày có một trận mưa, nếu khô hạn sẽ trở
ngại cho quả sinh trưởng phát triển, dẫn đến rụng quả hàng loạt. Thời kỳ quả
chín hạn lâu, gặp mưa đột ngột, nước quá nhiều thì phần lớn quả bị nứt. Mưa
nhiều nước trong đất nhiều, kém thông thoáng ảnh hưởng đến hoạt động của rễ.
Ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam, có chế độ mưa và ẩm tương đối thích
hợp cho sinh trưởng, phát triển của cây vải. Mùa khô bắt đầu vào tháng 11, 12
và cũng là lúc vải cần điều kiện khô và lạnh để phân hoá mầm hoa, ra hoa.
Mùa mưa bắt đầu vào tháng 4, 5 là lúc vải cần nhiều nước để nuôi quả đang
lớn (Phạm Văn Côn, 2004) [5].
d. Yêu cầu gió:
Gió có tác động điều hoà không khí. Mùa hoa ngày nắng, ẩm độ thấp
gió có tác dụng hỗ trợ hoa thụ phấn, thụ tinh. Trong điều kiện bình thường
cây tung phấn ở độ cao 2,5 - 3,5 m thì phấn hoa chủ yếu là rơi xuống dưới tán
và trong phạm vi 10 m xung quanh tán. Mùa hoa nở, vải sợ gió Tây Bắc và
Đông Nam qua đêm. Gió Tây Bắc khô, rễ làm cho đầu nhuỵ khô ảnh hưởng
thụ phấn, gió Nam qua đêm độ nóng ẩm ướt rễ làm cho hoa héo dần đến rụng
hoa. Thời gian quả phát triển, dông bão làm quả rụng, nếu đông bão mạnh