1. Mở Đầu
1.1. Đặt vấn đề
Để đa chăn nuôi trở thành ngành sản xuất hàng hoá đáp ứng nhu cầu
thịt, sữa, trứng, nhất là thịt lợn xuất khẩu. Trong những năm gần đây Nhà nớc,
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã cho nhập các giống gia súc, gia cầm
có năng suất và chất lợng cao từ các nớc có nền chăn nuôi phát triển nhằm
mục đích nâng cao sản lợng và chất lợng sản phẩm.
Trong các vật nuôi thì nuôi lợn mang lại hiệu quả kinh tế khá cao,
chính vì vậy trong những năm qua, ngành chăn nuôi lợn nớc ta nói riêng đã
đạt nhiều thành tựu mới, xu thế chuyên môn hoá sản xuất, chăn nuôi trong
trang trại tập trung ngày càng phổ biến.
Tuy nhiên trong chăn nuôi muốn thu đợc lợi nhuận cao thì ngoài các
vẫn đề về con giống, công tác dinh dỡng thì công tác thú y là vấn đề cấp
bách, quyết định đến thành công trong chăn nuôi
Việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất đã giúp
chúng ta xử lý và khống chế bệnh dịch. Mặt khác khi mức sống của ngời dân
tăng lên thì nhu cầu về sử dụng thực phẩm sạch đang là vấn đề mà xã hội quan
tâm, do đó mà ngành chăn nuôi nói chung và nhất là chăn nuôi lợn nói riêng làm
sao phải tạo ra nhiều số lợng nhng phải có chất lợng sản phẩm tốt, việc đó đòi
hỏi phải có những biện pháp hợp lý để đáp ứng với nhu cầu của xã hội.
Trong những bệnh truyền nhiễm ở lợn thì bệnh viêm phổi ở lợn do
Mycoplasma là bệnh gây thiệt hại kinh tế rất lớn cho ngành chăn nuôi lợn.
Bởi vì bệnh lây lan nhanh tác động kéo dài đối với cơ thể lợn. Mầm bệnh tồn
tại rất lâu trong cơ thể lợn cũng nh ngoài môi trờng bên ngoài làm việc
phòng trị rất khó khăn, khi lợn bị nhiễm bệnh, chi phí điều trị lớn, thời gian và
liệu trình điều trị kéo dài.
1
Cho tới nay ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh viêm
- Điều trị thử nghiệm, từ đó lựa chọn phác đồ điều trị có hiệu quả đối với
bệnh
3
2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
2.1. Vài nét về giải phẫu đại thể, vi thể của phổi lợn
2.1.1. Cấu trúc đại thể
Phổi lợn có một nhánh phế quản tách ở đoạn khí quản để phân vào cho
thùy đỉnh ở phía trên bên phải trớc khi phân hai phế quản gốc. Lá phổi trái
phân làm ba thùy: thùy đỉnh, thùy tim và thùy hoành. Lá phổi phải phân làm
bốn thùy: thùy đỉnh, thùy tim, thùy hoành và một thùy phụ.
* Vị trí: có hai lá phổi phải và trái nằm trong xoang ngực ngăn cách
nhau ở giữa bởi tung cách mạc (màng trung thất - mediastinum). Trong tung
cách mạc có tim, các mạch máu lớn và thực quản.
* Màu sắc: phổi nhẵn, bóng vì có màng phổi (pleura) bọc. Màu sắc
thay đổi tùy theo tuổi. Phổi bào thai có màu đỏ nâu, phổi súc vật non màu
hồng, phổi súc vật già có màu hơi xanh và trên mặt phổi có nhiều chấm đen
do sắc tố đọng lại làm cho phổi xạm lại và ranh giới của các tiểu thùy phổi
hình đa giác hiện lên rõ rệt hơn.
* Hình thái ngoài: mỗi lá phổi có ba mặt (mặt ngoài, mặt trong và mặt
sau hay đáy) và đỉnh ở trên.
- Mặt ngoài hay mặt sờn (facies costalis). Mặt ngoài của phổi lỗi áp sát
vào thành trong của lồng ngực. Giữa các lớp xơng cơ của lồng ngực và mặt
ngoài phổi chỉ có màng phổi. Mặt ngoài có các vết ấn lõm của các xơng sờn.
- Mặt trung hay mặt trung thất (facies mediastinalis). Có rốn phổi nằm
ở gần phía trên hơn phía dới, có các thành phần của phế quản gốc đi vào
phổi. Trong rốn phổi có phế quản gốc, động mạch phổi và tĩnh mạch phổi.
2
của máu và O
2
của không khí. (Trần Cừ, Cù Xuân Dần (1976) [4]).
5
2.1.3. Hô hấp ở phổi
Phổi không có cấu tạo cơ nên tự nó không thể co giãn, mà co dãn một
cách thụ động nhờ các cơ hô hấp gồm cơ hoành và các cơ gian sờn. Các cơ
này đóng vai trò động lực chính cho quá trình hô hấp, làm cho lồng ngực mở
rộng hay thu hẹp, dẫn đến làm biến đổi áp lực xoang màng ngực, kéo theo vận
động của phổi. Khi lồng ngực mở rộng phổi nở ra theo, áp lực trong phổi giảm
do đó không khí đi vào phổi gây động tác hít vào; khi lồng ngực thu hẹp, phổi
xẹp xuống đẩy không khí thoát ra ngoài, gây động tác thở ra.
+ Động tác hít vào: hít vào là kết quả mở rộng dung tích của xoang
ngực theo chiều dài và chiều ngang, do tác dụng của cơ hoành và cơ ngang
sờn ngoài.
+ Động tác thở ra: làm cho lồng ngực bị thu hẹp theo cả ba chiều không
gian, phổi bị ép xẹp, áp lực trong phổi tăng, đẩy không khí thoát ra
ngoài gây động tác thở ra. (Tạ Thị Vịnh (1990) [27]).
* .Trao đổi khí trong hô hấp
Quá trình trao đổi khí trong hô hấp gồm 3 bớc.
- Trao đổi khí giữa phế bào và máu mao mạch xung quanh nó. Chất khí
khuyếch tán từ nơi có áp suất riêng phần cao đến nơi có áp suất riêng phần
thấp. Do sự chênh lệch về phân áp O
2
trong phế bào sẽ khuếch tán qua màng
phế bào và thành mao mạch và máu, còn CO
- Rối loạn quá trình thông khí do các bệnh ở bộ máy hô hấp
Do tổn thơng lồng ngực, bệnh liệt cơ hô hấp
Trở ngại đờng hô hấp trên do đờng hô hấp bị viêm phù, u sẹo, dị vật
bị chèn ép ở đờng hô hấp trên. Khí quản, phế quản bị viêm, gây sng phù
niêm mạc lòng khí quản phế quản, làm cho tiết diện lòng khí quản, phế quản
bị hẹp lại. Hoặc trong trờng hợp hen suyễn viêm mãn tính khí quản dày xuất
tiết dịch rỉ viêm làm hẹp, đặc bít các khí quản, các nguyên nhân cản trở không
khí gây khó thở.
Trở ngại đờng hô hấp dới: chủ yếu là viêm phổi, phế nang và các vi
phế quản bị tổn thơng dịch rỉ viêm và dịch phù xuất làm đông đặc các phế
nang và vi phế quản, không khí không lọt vào dợc phế nang, không tiếp xúc
đợc với mao mạch. Trong bệnh suyễn lợn, rối loạn hô hấp gây khó thở chủ
yếu là do các cơ trơn ở phế quản và vi phế quản bị co thắt, kết hợp với xuất tiết
dịch làm cản trở thông khí gây thiếu O
2
trờng diễn. Mặt khác rối loạn đờng
hô hấp dới còn ảnh hởng đến quá trình khuếch tán O
2
và CO
2
. (Tạ Thị Vịnh
(1990) [30]).
2.2. Lịch sử nghiên cứu về bệnh viêm phổi ở lợn do
mycoplasma.
Có rất nhiều nghiên cứu về sinh lý, sinh hóa máu của lợn bình thờng, và
các quy trình phòng trị bệnh viêm phổi ở lợn do Mycoplasma cũng đã đợc đề
cập, nhng việc nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và sự biến đổi các chỉ tiêu sinh
7
lý, sinh hóa máu lợn bệnh, những tổn thơng bệnh lý của phổi bệnh còn rất ít
không mắc bệnh viêm phổi. Đối với môi trờng không có tế bào gồm: 10%
dung dich đệm Hanks, 20% huyết thanh lợn vô hoạt (lấy từ lợn không mắc
Dịch viêm phổi địa phơng) và 0,5% latbunin thuỷ phân, 0,01% chiết xuất
Mendifco, 200 đơn vị Penicillin trong 1ml môi trờng, kết quả là vẫn có thể
nuôi cấy đợc, từ đó họ cho rằng: Vi khuẩn mà họ phân lập đợc có hớng
thuộc nhóm Mycoplasma là nguyên nhân gây nên viêm phổi, nhng họ cha
chứng minh đợc vi khuẩn Mycoplasma này có phát triển đợc trong môi
trờng đặc hay không nên họ cha có kết quả chính xác.
Năm 1965, đã phân lập đợc vi khuẩn gây bệnh tơng tự ở Mĩ trong
môi trờng không có tế bào, năm 1964 đã quan sát đợc sự hình thành khuẩn
lạc Mycoplasma trên môi trờng đặc mà họ nuôi cấy.Trong môi trờng dịch
thể không có tế bào đã đợc kiểm tra là tinh khiết họ thấy trên môi trờng
hình thành những khuẩn lạc hình cầu nh Mycoplasma. Khi tiêm canh khuẩn
trong môi trờng dịch thể ở lần cấy lần thứ 7 cho lợn, họ đã tìm thấy bệnh tích
điển hình ở phổi, giống nh bệnh tích theo quan điểm virus.
Cũng thời gian này, họ đã quan sát đợc sự hình thành khuẩn lạc
Mycoplasma trong môi trờng đặc cấy Mycoplasma mà họ đã phân lập đợc.
Mặt khác họ còn lấy khuẩn lạc Mycoplasma tiêm cho lợn thấy lợn mắc bệnh
và họ kết luận rằng: Vi khuẩn đã hình thành khuẩn lạc là nguyên nhân gây
ra bệnh Dịch viêm phổi địa phơng và đặt tên la M. suipneumoniae
Năm 1986, Papageogia đã tiến hành nghiên cứu về mặt vi sinh vật học
của mầm bệnh, tác giả đã chứng minh đợc vai trò chủ yếu của Mycoplasma.
Canh khuẩn trên môi trờng dịch thể đem tiêm cho lợn con từ 10 -21 ngày
tuổi đã gây đợc bệnh, khi mổ khám thấy đợc bệnh tích viêm khí quản phổi
9
hoặc viêm phổi thuỳ ở các thuỳ tim, thuỳ đỉnh, viêm ngoại tâm mạc cấp tính,
với sự hình thành u hạt ở màng cơ tim và bệnh tích viêm ngoại tâm mạc. Từ đó
về sau đã có rất nhiều công trình nghiên cứu tiếp theo nhằm sáng tỏ thêm về
bệnh này.
có thể chết. Bệnh tích của hội chứng ho thở truyền nhiễm nhiều khi không
biểu hiện ra ngoài, lúc này tăng trọng kém và tiêu tốn thức ăn cao là biểu hiện
duy nhất của trạng thái nhiễm M. hyopneumoniae.
ở Việt Nam, bệnh đợc phát hiện đầu tiên năm 1953 ở một vài trại
giống (Phan Đình Đỗ, Trịnh Văn Thịnh, 1958 [7]), đến năm 1962, bệnh đã lan
khắp các tỉnh, cho đến nay bệnh phát triển rất rộng. Tỷ lệ ốm cao, có trại lợn
chiếm 80% lợn mắc bệnh (trại Máy Trai - Hải Phòng). Có trại do nhập lợn đã
bị suyễn nên cả đàn bị lây đã phải diệt hết (trại Cầu Nguyễn,Thái Bình). Nhiều
trại chăn nuôi quốc doanh đàn lợn cũng bị nhiễm nặng: trại Thành Tô - Hải
Phòng, trại An Khánh - Hà Đông.
Hiện nay Viện thú y quốc gia đang nghiên cứu đề tài: Nghiên cứu chế tạo
vaccin phòng bệnh suyễn lợn do Mycoplasma gây ra và xây dựng một số mô
hình trại giống an toàn.
2.2.3 Mycoplasma
2.2.3.1 Hình thái
Mycoplasma là những thực thể hữu cơ nhỏ, không di động, không sinh
nha bào là vì cơ thể sống không có thành tế bào mà chỉ có màng nguyên sinh
chất. Nó là cơ thể sống có kích thớc nhỏ hơn vi khuẩn.
Hai đặc điểm khác biệt giữa Mycoplasma và các loại vi khuẩn khác là
kích thớc genome và thành phần các bazơ nitơ của AND. Mycoplasma có cả
AND và ARN, trong tất cả cơ thể sống tự do Mycoplasma mang bộ gen nhỏ
nhất (khoảng 600 Kb) và có ít nhất hơn 300 gen. Tổng thành phần Guanine và
Cytosine trong AND thấp, ở một số loài tỷ lệ G+C thấp hơn 25 mol % và tỷ lệ
đó phân bố không đều trên bộ gene, có vùng rất cao lại có vùng rất thấp.
11
Hình thái của Mycoplasma rất đa dạng (hình thoi, hình gậy ngắn hoặc
hình cầu), nó thay đổi tuỳ thuộc vào tuổi canh trùng và lệ thuộc rất nhiều vào
các yếu tố môi trờng.
Mycoplasma không bắt mầu Gram, rất khó nhuộm vì dễ biến dạng qua
Các loài gây bệnh cho động vật nh:
M. mycoides, M. agalactia, M. bovigienitalium, M. canis, M. caculosum, M.
hyorhinis. M.arthritidis.
- M.hysoynouniae: gây viêm khớp cấp ở lợn 10 tuần tuổi và ở lợn lớn.
- M.hyorhinis: gây viêm màng seraus, viêm khớp mãn tính ở lợn 3 đến 10
tuần tuổi.
M.hyopneumoniae: gây bệnh viêm phổi ở lợn .
Khả năng gây bệnh của M.hyopneumoniae : gây bệnh viêm phổi tiên phát
điển hình ở lợn (suyễn lợn). Các triệu chứng của bệnh là sốt nhẹ, ho khan, khó
thở và đau ngực. Xét nghiệm thấy số lợng bạch cầu tăng, tốc độ lắng máu
nhanh. Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi của lợn nhng chủ yếu ở lợn con.
2.2.3.3. Nuôi cấy
Nuôi cấy Mycoplasma rất khó vì nó đòi hỏi chất lợng môi trờng khá cao
, khuẩn lạc của nó có hình trứng ốp nếp. Mycoplasma có thể nuôi cấy đợc trên
những môi trờng có hoặc không có tế bào sống, trên phôi gà.
- ở môi trờng không có tế bào : Mycoplasma đòi hỏi những chất dinh
13
dỡng đặc biệt nh huyết thanh ngựa chửa, chiết xuất menNhiều loại
Mycoplasma kỵ khí hoặc hiếu khí tuyệt đối nhng vẫn có loại kỵ khí tuỳ tiện.
Nhiệt độ tốt nhất để Mycoplasma phát triển từ 35-37
0
C với pH từ 7,0-7,8.
- Trên môi trờng thạch: chúng có thể tạo nên những khuẩn lạc tròn,
nhỏ bé nuôi lâu khuẩn lạc sẽ lớn dần bề mặt có cấu tạo hạt, giữa có màu vàng
xung quanh trong (giống hình trứng ốp nếp).
- Trên môi trờng thạch máu: Mycoplasma gây bệnh cho ngời có thể
làm dung huyết thạch máu.
- Trong môi trờng dịch thể : Mycoplasma làm vẩn đục môi trờng và
tạo thành kết tủa.
Bằng phơng pháp hoá học và sắc ký, ngời ta tách đợc ở Mycoplasma
những thành phần hoá học mang tính chất khác nhau. Mỗi thành phần hoá học
có khả năng tham gia vào một phản ứng huyết thanh nhất định. Do đó để chẩn
đoán chính xác bệnh bằng các huyết thanh học, ngời ta thờng dùng các yếu
tố chiết xuất đặc biệt, ví dụ: phản ứng kết hợp bổ thể ngời ta dùng các yếu tố
triết xuất là lipid; ở phản ứng kết tủa trong thạch dùng các yếu tố chiết xuất là
polysaccarid. (Vũ Thị Bình (2003)[3] Bộ môn vi sinh vật trờng Đại học y
Hà Nội).
2.2.4. Bệnh viêm phổi ở lợn do Mycoplasma
2.2.4.1 Nguyên nhân gây bệnh
+ Mycoplasma hyopneumoniae
Bình thờng M. hyopneumoniae c trú ở phổi lợn, khi thời tiết thay đổi
hoặc khi điều kiện vệ sinh kém, mật độ nuôi quá chật khi sức đề kháng giảm
thì M. hyopneumoniae tăng độc lực gây bệnh. Bệnh sẽ trầm trọng hơn khi có
mặt các vi khuẩn gây bệnh khác nh: Pasteurella, Streptococcus,
Staphylococcus, E.coli, Salmonella. (Trơng Văn Dung và cộng sự (2002)
[6]).
15
Ngày nay, ngời ta cho rằng bệnh do M. hyopneumoniae sẽ trầm trọng
hơn khi kết hợp với một Adenovius .M.hyopneumoniae đợc tìm thấy chủ yếu
ở trong ống khí quản, phế quản phổi của lợn. Chúng xâm nhập vào đờng hô
hấp trên, dính chặt vào hệ thống lông rung đờng hô hấp làm vi khuẩn kế
phát dễ xâm nhập.
Khi nhiễm M. hyopneumoniae sẽ làm thúc đẩy quá trình nhiễm
Pasteurella, PRRS và ngợc lại. Một số nghiên cứu các nhà khoa học Mỹ cho
rằng: ở lợn nhiễm Mycoplasma trớc thì cũng làm tăng độ mẫn cảm với PRRS.
Theo Ross C.W(1986) [48], nếu chỉ có Mycoplasma thì triệu chứng lâm sàng
không xuất hiện. Chỉ khi có sự tham gia của Pasteurella và Bordetella
bronchiseptica thì triệu chứng mới biểu hiện rõ ràng.
tan tơ huyết, nhân tố khuyếch tán. Thỏ là động vật thí nghiệm mẫn cảm nhất
với Staphylococcus. Staphylococcus aureus thờng phân lập đợc từ các bệnh
phẩm của lợn và trong phổi lợn bệnh cũng thờng gặp các áp se do chúng gây
ra. (Phạm Kim Anh (1991) [2]).
Klebsielle pneumoniae:
Nguyễn Vĩnh Phớc (1974)[20], Klebsielle do Friedlanda phân lập lần đầu
tiên vào năm 1882 từ phổi của gia súc mắc bệnh viêm phổi.
Vi khuẩn là một trực khuẩn hoặc cầu trực khuẩn có kích thớc 0,5-3x0,3-
0,5à, hai đầu tròn, có khi có hình gậy đứng riêng rẽ hoặc tập hợp thành đôi, có
giáp mô, không di động, không có lông, hình thành nha bào và vi khuẩn bắt
màu Gram âm. (Nguyễn Vĩnh Phớc (1976) [22]).
Trên môi trờng thạch hình thành những khuẩn lạc dạng niêm dịch
(mucoid) lầy nhầy có mầu trắng. Trong nớc thịt chúng phát triển thành canh
17
trùng có màng lầy nhầy. Trong môi trờng gelatin có khuẩn lạc dạng hình
đinh, không làm tan gelatin, sinh axit và làm đông vón sữa. Không sinh indol
và H
2
S, biến đổi nitrate thành nitrite, methyl red âm tính và Vogesproskauer
dơng tính. Urease âm tính và Ornithine dơng tính, decacgoxylase âm tính.
Trong bệnh viêm phổi do Mycoplasma hyopneumoniae thì Mycoplasma
hyopneumoniae chỉ là thứ phát, Klebsielle và các vi khuẩn cộng phát khác
nh: Streptococcus Staphylococcus, Pasteurella, Bordetella bronchiseptica có
ảnh hởng lớn đến việc phát bệnh ở từng cá thể lợn. Theo Blood , D C. Et. Al,
(1979) [34] phổi bị bệnh có màu đỏ thẫm, tụ huyết và cứng khi cắt có dịch
xuất hiện ở mặt cắt. Theo Buddle (1985)[35] thì bệnh tích xuất hiện ở bất kỳ
thùy nào của phổi nhng ở thùy tim thờng gặp nhiều nhất.
Salmonella:
Salmonella gây bệnh cho lợn, ngoài các bệnh tích thấy ở hệ tiêu hóa ngời
2.2.4.4. Sự lây lan và dịch tễ học
- Mycoplasma lây qua tiếp xúc trực tiếp: nhốt chung lợn khoẻ với lợn bị
nhiễm bệnh, từ lợn mẹ sang lợn con.
- Trong thiên nhiên chỉ có loài lợn mắc bệnh suyễn do
M.hyopneumonia.
- Mọi lứa tuổi lợn đều mắc, nhất là lợn con từ 2-5 tháng tuổi.
- Khi thời tiết thay đổi lợn dễ mắc bệnh hơn, chuồng trại ẩm thấp, vệ
sinh kém bệnh dễ phát sinh.
- Mùa xuân và mùa đông tỷ lệ mắc bệnh cao hơn các mùa khác.
- Bệnh lây chủ yếu từ lợn sang lợn, ở những trại chăn nuôi không có
bệnh, cách ly tốt vẫn có thể nhiễm. ( Nguyễn Vĩnh Phớc (1986) [21] ).
19
M. Kobosch,1999 đã kiểm tra trên 4000 phổi lợn thấy 67% phổi lợn bị
viêm, 80% mắc bệnh do M. hyopneumoniae.
- Việc lây truyền M. hyopneumoniae chủ yếu qua tiếp xúc trực tiếp lợn
ốm ho, thở, hắt hơi truyền mầm bệnh sang lợn khoẻ, lợn mang trùng cũng làm
gây bệnh. Bệnh thờng kéo dài khó dập tắt và tiêu diệt, do lợn ốm khỏi nhng
vẫn mang trùng.
- Bệnh lây lan mạnh ở các đàn nhập nội, những lợn cha bị nhiễm thì tỷ
lệ chết cao hơn.
2.2.4.5. Triệu chứng
Sau khi nhiễm M.hyopneumoniae từ 7 đến 20 ngày thì triệu chứng đầu
tiên là hắt hơi, ho, khó thở. Ho và khó thở là triệu chứng điển hình và kéo dài.
Bệnh biểu hiện dới 3 thể
* Thể cấp tính
Lợn ăn kém chậm chạp, da xanh hoặc nhợt nhạt, thân nhiệt bình thờng
hoặc hơi cao một chút (39-39.5
0
C).
- Bệnh tích tập trung ở bộ máy hô hấp và hạch phổi.
Sau khi nhiễm vài ngày, bệnh tích đầu tiên là viêm phổi thuỳ, từ thuỳ
tim sang thuỳ nhọn, thờng viêm ở phần rìa thấp của phổi. Phổi xuất hiện
những chấm đỏ hoặc xám bằng hạt đậu xanh, to dần rồi tập trung thành từng
vùng rộng lớn.
- Khi chụp X Quang thấy bệnh lan từ trớc ra sau, theo một quy luật
nhất định: Bệnh tích đối xứng giữa hai bên lá phổi, ranh giới rõ giữa các vùng
21
viêm hoặc không viêm.
- Khi mổ khám thấy: Chỗ phổi viêm cứng lại, màu xám nhạt hay đỏ nh
màu mận chín, mặt phổi bóng láng, bên trong có chứa chất keo nên gọi là
viêm phổi kính.
Khi bị viêm nặng phổi cứng, đặc lại nh bị gan hoá lúc này khi cắt phổi chỉ
còn một ít dịch lẫn bọt. Phổi bị nhục hoá, đục màu tro, phổi chắc lại, biểu
hiện gan hoá, lúc này cắt miếng phổi thả xuống nớc thấy phổi chìm.
- Về vi thể: Khi bị nhục hoá, thấy phế quản có nhiều bạch cầu đơn nhân
trung tính. Nếu viêm màng phổi thì màng phổi dày nên.
- Hạch lâm ba sng to gấp 2-5 lần, chứa nhiều nớc màu tro, tụ máu.
- Khi ghép với tụ huyết trùng thì phổi bị tụ máu, có nhiều vùng gan hoá
phía sau phổi, hoại tử bã đậu.
- Khi ghép với Streptococcus thì phổi viêm có lẫn mủ.
- Nếu ghép với Bacterium thì cuống phổi viêm có mủ, mủ từng cục hôi và
tanh, màu tro. (Trơng Văn Dung và cộng sự (2002) [6]).
2.2.4.. Phòng và trị bệnh
a. Phòng bệnh: Để phòng bệnh hiện nay ngời ta đã thực hiện quy
trình vệ sinh thú y và phòng bệnh bằng vaccine
- Vệ sinh thú y
* Đối với những vùng và trại cha có lợn bệnh
+ Thực hiện phơng châm không nhập lợn từ ngoài vào. Nếu cần thiết
công nhân không đủ điều kiện để chăn nuôi riêng, thì ngời chăm sóc lợn phải
cho lợn khỏe ăn trớc, lợn bệnh ăn sau, mỗi lần ra trại phải tẩy trùng thay
23
quần áo, giày dép.
+ Khu vực lợn khả nghi: cũng tiến hành nh khu vực ốm. Khi phát hiện
lợn có triệu chứng thì đa ngay sang khu vực lợn ốm. Những lợn còn lại, tích
cực điều dỡng và chữa trị.
+ Khu vực lợn khỏe: Điều kiện nuôi dỡng và quản lý nh trên. Thờng
xuyên quan sát để phát hiện con ốm và đa sang khu vực lợn ốm; lợn nghi thì
đa sang khu vực nghi bệnh. Lợn nái mỗi con để một chuồng riêng, không để
lợn con chạy lung tung và tiếp xúc với đàn lợn khác. Cần theo dõi đàn lợn con
có một hai con phát hiện bệnh thì tìm nguyên nhân lây bệnh. Nếu tiếp xúc
phát hiện nhiều con khác trong đàn bị bệnh thì phải đa cả mẹ lẫn con đi cách
ly vào khu vực ốm. (Nguyễn Thị Nội và cộng sự (1993) [15]).
* Kinh nghiệm giải quyết bệnh suyễn lợn ở một số cơ sở chăn nuôi
Kinh nghiệm phòng trừ tổng hợp tại trại chăn nuôi Lạc Vệ (Hà Bắc).
Tiến hành từ năm 1967 đến năm 1972 với những biện pháp đã sử dụng sau:
+ Thải loại những lợn giống xấu, già, những lợn nhiễm bệnh nặng, xử lý
toàn bộ lợn choai, lợn thịt.
+ Những lợn đực giống tốt thì theo dõi, cách ly, tăng cờng bồi dỡng,
không cho nhảy trực tiếp mà chỉ lấy tinh.
+ Những lợn nái cơ bản thì phân loại, cách ly theo từng loại, từng khu vực:
loại A là tơng đối an toàn, loại B là nghi ngờ, loại C đã nhiễm bệnh. Cách ly
từng con, mỗi con một ô chuồng, có dụng cụ chăm sóc riêng. Thờng xuyên theo
dõi, phát hiện những lợn có triệu chứng ho, thở để kịp thời thải loại.
+ Kiểm tra lợn con bằng cách mổ khám bệnh tích qua ba lứa: những lợn
có triệu chứng lâm sàng, còi cọc, mổ trớc; thời gian lợn còn theo mẹ mổ 1/3
số con trong mỗi ổ; số còn lại đến tháng thứ t và tháng thứ sáu mổ hết. Nếu
thấy lợn có bệnh tích điển hình và thấy lợn có triệu chứng lâm sàng ở lợn mẹ
chơi phải dọn sạch cỏ, rác. phân, cuốc trên mặt và rắc vôi bột theo định mức 0,2
kg/m
2
. Dụng cụ chăn nuôi, sau khi cọ rửa bằng nớc sạch, phơi nắng 2-3 giờ.
25