PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Để đưa chăn nuôi trở thành ngành sản xuất hàng hoá đáp ứng nhu cầu
thịt, sữa, trứng, nhất là thịt lợn xuất khẩu.Trong những năm gần đây Nhà
Nước, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã cho nhập các giống gia
súc, gia cầm có năng suất và chất lượng cao từ các nước có nền chăn nuôi
phát triển, chính vì thế các giống lợn lạc ở nước ta hiên nay đã có tỷ lệ nạc
tới 55-62% và cho năng suất cao.
Có thể khảng định rằng: Trong những năm qua, ngành chăn nuôi lợn
nước ta nói riêng đã đạt nhiều thành tựu mới, xu thế chuyên môn hoá sản
xuất, chăn nuôi trong trang trại tập trung ngày càng phổ biến.
Trong các vật nuôi thì nuôi lợn mang lại hiệu quả kinh tế khá cao, tuy
nhiên không phải cơ sở chăn nuôi nào cũng thắng lợi bởi ngoài các vấn đề
giống, công tác dinh dưỡng thì công tác thú y là vấn đề cấp bách, quyết định
đến thành công trong chăn nuôi.
Việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất đã giúp
chúng ta xử lý và khống chế bệnh dịch. Mặt khác khi mức sống của người
dân tăng lên thì nhu cầu về sử dụng thực phẩm sạch đang là vấn đề mà xã
hội quan tâm, do đó mà ngành chăn nuôi nói chung và nhất là chăn nuôi lợn
nói riêng làm sao phải tạo ra nhiều số lượng cũng như chất lượng sản phẩm,
việc đó đòi hỏi chúng ta phải có những biện pháp hợp lý để đáp ứng với nhu
cầu của xã hội.
Trong những bệnh truyên nhiễm ơt lợn thì bệnh suyễn lợn là bệnh gây
thiệt hại kinh tế lớn, tác động dai dẳng làm cho công tác phòng bệnh khó
khăn. Bệnh tồn tại rất lâu trong cơ thể lợn cũng như ngoài môi trường bên
ngoài làm công tác phòng bệnh rất khó khăn, khi bị nhiễm bệnh, chi phí điều
trị lớn, thời gian và liệu trình điều trị kéo dài.
Cho tới nay ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh
suyễn lợn, tuy nhiên mới chỉ tập chung vào tỷ lệ nhiễm, dịch tễ học, và phác
đồ phòng trị bệnh, còn các chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá máu của lợn bị bệnh thì
tiên tiến đạt kết quả tốt. Đưa ra những luận chứng sát thực về một số những
biến đổi của cơ thể lợn khi mắc bệnh, tạo nghiên cứu cơ bản cho các nghiên
cứu tiếp theo.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Biết được sự biến đổi lâm sàng của lợn bị bệnh: Triệu chứng bên ngoài,
nhiệt độ, tần số hô hấp, tần số mạch.
- Biết được sự biến đổi một số chỉ tiêu sinh lý của máu lợn bệnh.
- Biết được sự biến đổi một số chỉ tiêu sinh hoá của máu lợn bệnh.
- Theo dõi mức độ tổn thương của phổi lợn: Cả vi thể và đại thể.
- Xây dựng phác đồ phòng và trị bệnh có hiệu quả.
- Ứng dụng những kết quả đã nghiên cứu được vào thực tiễn sản xuất nhằm
hạn chế tác hại của bệnh, tạo sản phẩm an toàn về bệnh, nâng cao hiệu quả
trong nuôi lợn, làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo đối với bệnh này.
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1. Lịch sử nghiên cứu về nguyên nhân bệnh
2.1.1. Những nghiên cứu ngoài nước
Bệnh lần đầu tiên được phát hiện thấy ở nước Đức, sau đó thấy ở Anh,
Thụy Điển và gọi tên bệnh là Dịch viêm phổi địa phương. Trước khi tìm ra
nguyên nhân gây bệnh suyễn lợn, đã có rất nhiều quan điểm khác nhau của
các tác giả về nguyên nhân gây bệnh. Ngày đầu bệnh xuất hiện, một số tác
giả cho rằng: Bệnh suyễn lợn là do một loài virus nào đó không qua màng
lọc gây ra, và tất cả các hướng nghiên cứu khi đó tập trung vào nguyên nhân
do virus.
Những năm 50 của thế kỷ XX các nhà khoa học ở các nước Anh,
Canada, Mỹ, Thụy Điển đã đi xâu vào nghiên cứu đồng loạt nhưng theo
hướng là do virus gây nên bệnh, kết quả thu được không đồng nhất, trong
quá trình nghiên cứu họ đã tìm thấy Mycoplasma trong bệnh phẩm nhưng lại
cho rằng: Vi khuẩn này chỉ là vi khuẩn thứ phát, thường nhiễm vào các bệnh
tích của phổi khi lợn mắc bệnh và che lấp căn bệnh trong môi trường tế bào
điểm virus.
Cũng năm 1965, Gutvin cũng quan sát được sự hình thành khuẩn lọc
Mycoplasma trong môi trường đặc cấy Mycoplasma mà họ đã phân lập được.
Mặt khác họ còn thấy khuẩn lọc Mycoplasma tiêm cho lợn thấy lợn mắc
bệnh và họ kết luận rằng: “Vi khuẩn đã hình thành khuẩn lọc là nguyên
nhân gây ra bệnh Dịch viêm phổi địa phương và đặt tên la M.Suipneumonia
”
Năm 1986, Papageogia đã tiến hành nghiên cứu một mặt vi sinh vật
học của mầm bệnh, tác giả đã chứng minh được vai trò chủ yếu của
Mycoplasma. Canh khuẩn trong môi trường dịch thể đem tiêm cho lợn con
từ 10 -21 ngày tuổi đã gây ra bệnh được và đem quan sát cụ thể thấy được
bệnh tích viêm khí quản phổi hoặc viêm phổi thuỳ ở các thuỳ tim, thuỳ đỉnh,
viêm ngoại tâm mạc cấp tính, với sự hình thành u hạt ở màng cơ tim và bệnh
tích viêm ngoại tâm mạc.
Về sau đã có rất nhiều công trình nghiên cứu tiếp theo nhằm sáng tỏ thêm
vấn đề
Như vậy sau rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học
trên thế giới, cuối cùng đã xác định được chính xác nguyên nhân gây bệnh
Dịch viêm phổi địa phương (ngày nay gọi là suyễn) của lợn là Mycoplasma
hyopneumoniae.
2.1.2. Một số nghiên cứu trong nước
Bệnh đường hô hấp mãn tính của lợn ở Việt Nam được quen gọi với
tên bệnh suyễn lợn đã xảy ra từ năm 1958 tại các cơ sở giống lợn của Nhà
nước. Theo tác giả Trường Giang (1965). Dịch viêm phổi địa phương đã xảy
ra tại nông trường An Khánh năn 1958 và giết hại hàng trăm lợn mỗi năm,
tập trung nhất vào đàn lợn 2-7 tháng tuổi. Ngoài các trại Nhà nước, tại các
trại tập thể của hợp tác xã cũng đã xảy dịch Dịch viêm phổi địa phương.
Hoàng Hải (1963) đã theo dõi một ổ dịch tại Thuận Châu (Sơn La) cho thấy:
giống được chuyển từ Thái Bình lên vào năm 1961, sau 8-9 tháng nuôi trọng
lượng cơ thể chỉ tăng 5-6 kg. Một số lợn có trọng lượng khoảng 17-18 kg,
Câu hỏi đặt ra cho các nhà khoa học là: Làm sao loại trừ được dịch
bệnh này trên lợn, làm sao để tăng hiệu quả trong công tác chăn nuôi.
2.2. Mycoplasma
Mycoplasma đựoc phát hiện đầu tiên bởi Nocard và Roux vào năm 1898
ở bò bị viêm phổi và được đặt tên là M.nyeoides.
Sau 25 năm người ta phát hiện ra nhiều vi khuẩn giống Mycoplasma nên
đặt tên là PPLO ( Pleuropneumonia – Like Orgsnisms ).
Ở người, từ năm 1937, Edsarr Va Dienes đã phân lập được Mycoplasma
lần đầu tiên ở tuyến Bartholin và đặt tên là M.hominis.
Trong thú y, sau M.mycoides người ta đã phân lập được các Mycoplasma có
khả năng gây bệnh ở dê, gà, lợn chuột nhắt, chuột cống và chim.
2.2.1 Hình thái.
Mycoplasma là những thực thể hữu cơ nhỏ, không di động, không sinh
nha bào là vì cơ thể sống không có thành tế bào mà chỉ có màng nguyên sinh
chất. Nó là cơ thể sống có khả năng tự nhân đôi, có kích thước nhỏ hơn vi
khuẩn.
Hai đặc điểm khác của Mycoplasma so với các loại vi khuẩn khác là
kích thước genome và thành phần các bagơ nitơ của AND Mycoplasma có cả
AND và ARN, nó mang bộ gen nhỏ nhất trong tất cả cơ thể sống tự do
(khoảng 600 Kb) và có ít nhất hơn 300 gen. Tổng thành phần Guanine và
Cytosine trong AND thấp, ở một số loài tỷ lệ G+C thấp hơn 25 mol % và tỷ
lệ đó phân bố không đều trên bộ gene, có vùng rất cao lại có vùng rất thấp.
Hình thể của Mycoplasma rất đa dạng (hình thoi, hình gậy ngắn hoặc
hình cầu). Hình của Mycoplasma thay đổi tuỳ thuộc vào tuổi canh trung và lệ
thuộc rất nhiều vào các yếu tố môi trường.
Mycoplasma không bắt mầu Gram, rất khó nhuộm vì dễ biến dạng qua
các bước nhuộm, có thể quan sát Mycoplasma bằng kính hiển vi nền đen
hoặc kính hiển vi phải pha nhưng cho kết quả không chắc chắn và do đó rất
ít có ý nghĩa trong công tác chẩn đoán phòng thí nghiệm.
Phần lớn Mycoplasma có lối sống tự do, nó chỉ sống và phát triển
khan, khó thở và đau ngực. Xét nghiệm thấy số lượng bạch cầu tăng, tốc độ
lắng máu nhanh. Bệnh xảy ra ở mọi lứa ruổi của lợn nhưng chủ yếu ở lợn
con.
2.2.3. Nuôi cấy
Nuôi cấy phối hợp Mycoplasma rất khó vì nó đòi hỏi chất lượng môi
trường khá cao khuẩn lạc của nó có hình chứng ốp nếp. Mycoplasma có thể
nuôi cấy được trên những môi trường có hoặc không có tế bào sống, trên
phôi gà.
- Ở môi trường không có tế bào : Mycoplasma đòi hỏi những chất dinh
dưỡng đặc biệt như huyết thanh ngựa chửa, chiết xuất men …Nhiều loại
Mycoplasma kỵ khí hoặc hiếu khí tuyệt đối nhưng vẫn có loại kỵ khí tuỳ
tiện. Nhiệt độ tốt nhất để Mycoplasma phát triển từ 35-37
0
C với pH thử 7,0-
7,8.
-Trên môi trường thạch: Chúng có thể tạo nên những khuẩn lọc tròn, nhỏ
bé nuôi lâu khuẩn lọc sẽ lớn dần bề mặt có cấu tạo hạt, giữa có các màu
vàng xung quanh trong (giống hình trứng ốp nếp).
- Trên môi trường thạch máu: Mycoplasma gây bệnh cho người có thể
làm dung huyết thạch máu.
- Trên môi trường dịch thể : Mycoplasma làm vẩn đục môi trường và tạo
thành những kết tủa.
Hình dạng của khuẩn lạc tương đối giống nhau do đó không thể dựa vào
nó mà phân biệt các Mycoplasma khác.
2.2.4. Đặc điểm sinh hoá
- Hai đặc điểm khác của Mycoplasma so với các loại vi khuẩn khác là
kích thước genome và thành phần các bagơ nitơ của AND Mycoplasma có cả
AND và ARN, nó mang bộ gen nhỏ nhất trong tất cả cơ thể sống tự do
(Khoảng 600 Kb) và có ít nhất hơn 300 gene. Tổng thành phần Guanine và
Cytosine trong AND thấp, ở một số loài tỷ lệ G+C thấp hơn 25 mol % và tỷ
2.3.1. Căn bệnh
Là bệnh truyền nhiễm mãn tính, khi lợn nhiễm Mycoplasma hyopnemoniae,
cơ thể gây yếu, ho, khó thở, tiêu tốn thức ăn cao, hiệu quả sử dụng thức ăn
kém.
Tuy tỷ lệ mắc bệnh cao nhưng tỷ lệ chết lại thấp, khi mắc bệnh lợn dễ kế
mắc các bệnh khác.
Bệnh lây từ con này sang con khác, từ chuồng này sang chuồng khác, từ trại
này sang trại khác.
2.3.2. Nguyên nhân gây bệnh
+ Mycoplasma hyopneumoniae
Là nguyên nhân số 1 gây bệnh suyễn lợn, vi khuẩn này cư trú ở phổi lợn
bình thường, khi thời tiết thay đổi hoặc khi điều kiện vệ sinh kém, khi sức đề
kháng giảm thì M. hyopneumoniae tăng độc lực gây bệnh cho lợn mặc dù chỉ
một mình Mycoplasma hyopneumoniae cũng gây được bệnh nhưng nhiều
bệnh khác cũng duy trì và phát triển: Pastcurella, Ttreptococcus,
Staphynococcus, E.Coli, Salmolella.
Ngày nay, người ta cho rằng bệnh do M. hyopneumoniae sẽ trầm trọng
hơn khi kết hợp với một Adenovius ( Kasa,1969 ).M.hyopneumoniae được
tìm thấy chủ yếu ở trong ống khí quản, phế quản lợn. Chúng gây nhiễm ống
hô hấp trên, dính chặt vào lông nhung đường hô hấp làm ngăn chặn chức
năng thu dọn chất nhầy giúp vi khuẩn kế phát xâm nhập dẫn đến làm suy
giảm miễn dịch (Ross và cộng sự).
M.hyopneumoniae gây ức chế sản sinh đại thực bào, làm kiệt quệ đại thực
bào (Clark,Purduc). Khi nhiễm M. hpopneumonia các đại thực bào bị thay
đổi vì thế làm thúc đẩy quá trình nhiễm Pasteurella, PRRS và ngược lại ;
Một số nghiên cứu các nhà khoa học Mỹ chỉ cho rằng: Ở lợn nhiễm
Mycoplasma trước thì cũng làm tăng độ mẫn cảm với PRRS. Theo Ross
(1986), nếu chỉ có Mycoplasma thì triệu chứng lâm sàng không xuất hiện.
Chỉ khi có sự tham gia của Pasteurelia và Bordetella bronchiseptica thì triệu
chứng mới biểu hiện rõ ràng.
nghiệm mẫn cảm nhất với Staphylococcus. Staphylococcus aureus thường
phân lập được từ các bệnh phẩm của lợn và trong phổi lợn bệnh cũng thường
gặp các áp se do chúng gây ra.
Klesielle pneumoniae:
Nguyễn Vĩnh Phước (1970), Klesielle do Friedlanda phân lập lần đầu tiên
vào năm 1882 từ phổi của gia súc mắc bệnh viêm phổi. Vi khuẩn là một trực
khuẩn hoặc cầu trực khuẩn có kích thước 0,5-3x0,3-0,5μ, hai đầu tròn, có
khi có hình gậy đứng riêng rẽ hoặc tập hợp thành đôi, có một giáp mô không
di động, không có lông, hình thành nha bào và vi khuẩn bắt màu Gram âm.
Trên môi trường thạch hình thành những khuẩn lạc dạng niêm dịch
(mucoid) lầy nhầy trắng dầy. Trong nước thịt chúng phát triển thành canh
trùng có màng lầy nhầy, thành vòng dính từ đáy ống trở lên. Trong môi
trường gelatin có khuẩn lạc dạng hình đinh, không làm tan gelatin, sinh axit
và làm đông sữa quỳ. Không sinh indol và H
2
S. Hoàn nguyên nitrate thành
nitrite, methyl red âm tính và Vogesproskauer dương tính. Urease âm tính và
Ornithine dương decacgoxylase âm tính.
Trong dịch viêm phổi địa phương do Mycoplasma hyopneumoniae khởi
phát, Klesielle và các vi khuẩn cộng phát khác như: Streptococcus
Staphylococcus, Pasteurelle, Bordetella bromchiseptica có ảnh hưởng lớn
đến việc phát bệnh ở từng cá thể lợn (Blood và cộng sự, 1979) {48} phổi bị
bệnh có màu đỏ thẫm, tụ huyết và cứng khi cắt có dịch xuất hiện ở mặt cắt.
Theo Buddle (1985) thì bệnh tích xuất hiện ở bất kỳ thùy nào của phổi
nhưng ở thùy tim thường gặp nhiều nhất.
Salmonella:
Salmonella gây bệnh cho lợn, ngoài các bệnh tích thấy ở các hệ tiêu hóa
người ta còn gặp bệnh tích ở phổi, phổi trở nên cứng, có tụ huyết lan rộng,
phù huyết ở giữa các thùy phổi và kèm theo hiện tượng xuất huyết. Ngoài ra
còn thấy hiện tượng tăng sinh ở phổi có thể gọi là viêm phổi (Diffuse
ra hội chứng hô hấp
2.3.4. Sự lây lan và dịch tễ học
- Mycoplasma lây qua tiếp xúc trực tiếp: Nhốt chung heo khoẻ với heo bị
nhiễm bệnh, từ heo mẹ sang heo con.
- Trong thiên nhiên chỉ có loài lợn mắc bệnh suyễn do M.hyopneumonia.
- Lợn mắc ở các lứa tuổi, nhất là lợn con từ 2-5 tháng tuổi.
- Khi thời tiết thay đổi lợn dễ mắc hơn, chuồng trại ẩm thấp, vệ sinh kém
bệnh dễ phát sinh.
- Mùa xuân và mùa đông tỷ lệ mắc bệnh cao hơn các mùa khác.
- Lợn là nguồn lây nhiễm chính bệnh này. Ở những trại chăn nuôi không
có bệnh, cách ly tốt vẫn có thể nhiễm ( theo Gooduvin ), đặc biệt là các trại
lân cận cách xa nhau dưới 3 km.
M. Kobosch,1999 đã kiểm tra trên 4000 phổi lợn thấy 67% phổi lợn bị viêm,
80% mắc bệnh M.pneumonia.
- Việc lây truyền M.pneumonia chủ yếu qua tiếp xúc trực tiếp lợn ốm ho,
thở, hắt hơi truyền mầm bệnh sang lợn khoẻ lợn mang trùng cũng làm gây
bệnh. Bệnh thường kéo dài khó dập tắt và tiêu diệt do lợn ốm khỏi nhưng
vẫn mang trùng.
- Bệnh lây lan mạnh ở các đàn nhập nội, nhữnh lợn chưa bị nhiễm thì tỷ
lệ chết cao hơn.
2.3.5. Triệu chứng
Sau khi nhiễm M.pneumonia từ 7 đến 20 ngày thì triệu chứng đầu tiên
là hắt hơi, ho khó thở. Ho và khó thở là triệu chứng điển hình và kéo dài.
Bệnh biểu hiện dưới 3 thể
* Thể cấp tính
Lợn ăn kém chậm chạp, da xanh hoặc nhợt nhạt, thân nhiệt bình thường
hoặc hơi cao một chút (39-39.5
0
C).
Hắt hơi ho từng hồi lâu do cố đẩy dịch bài tiết ở sâu đường hô hấp
* Thể ẩn tính.
Thường thấy ở lợn đực giống, lợn vỗ béo. Các triệu chứng ở thể này không
xuất hiện rõ, thỉnh thoảng ho, sinh trưởng giảm, thời gian nuôi heo kéo dài,
lợn mắc ở thể này ít bị chết.
2.3.6. Bệnh tích
- Bệnh tích tập trung ở bộ máy hô hâp và hạch phổi.
Sau khi nhiễm vài ngày, bệnh tích đầu tiên là viêm phổi thuỳ, từ thuỳ tim
sang thuỳ nhọn, từ thuỳ đỉnh sang thuỳ sau, thường viêm ở phần rìa thấp của
phổi. Phổi xuất hiện những chấm đỏ hoặc xám bằng hạt đậu xanh, to dần rồi
tập trung thành từng vùng rộng lớn.
- Khi chụp X Quang thấy bệnh lan từ trước ra sau, theo một quy định
nhất định: Bệnh tích đối xứng giữa hai bên lá phổi, ranh giới rõ giữa các
vùng viêm hoặc không viêm.
- Khi mổ khám thấy: Chỗ phổi viêm cứnglại, màu xám nhạt hay đỏ như
màu mận chín, mặt phổi bang láng, bên trong có chứa chất keo nên gọi là
viêm phổi kính.
Khi bị viêm nặng phổi cứng, đặc lại như bị gan hoá lúc này khi cắt phổi
chỉ còn một ít dịch trắng xám lẫn bọt. Phổi bị nhục hoá, đục màu tro, chắc
khi biểu hiện gan hoá, lúc này cắt miếng phổi thả xuống nước thấy phổi
chìm.
Khi có sự hội nhiễm các vi khuẩn khác, bệnh tích sẽ có đặc điểm riêng
- Về vi thể: Khi bị nhục hoá, thấy phế quản có nhiều bạch cầu đơn nhân
trung tính. Nếu viêm màng phổi thì màng phổi dày nên.
- Hạch lâm ha sưng to gấp 2-5 lần, chứa nhiều nước màu tro, tụ máu.
- Khi ghép với tụ huyết trùng thì phổi bị tụ máu, có nhiều vùng gan hoá
phía sau phổi, hoại tử bã đậu.
- Khi ghép với Streptcoccus thì phổi có mủ.
- Nếu ghép với Bactericou thì cuống phổi viêm có mủ, mủ từng cục hôi
và tanh, màu tro.
2.3.7. Phòng và trị bệnh
quản lý tốt kết hợp với chữa trị.
- Biện pháp chung:
+ Chuồng nuôi: quét dọn sạch sẽ, khô ráo, tránh ẩm ướt. Trời rét phải
có rơm lót, phải giữ cho chuồng ấm, kín gió. Chuồng phải đủ ánh sáng và có
sân vận động. Mỗi ngày cho lợn vận động ít nhất 5 giờ ngoài trời. Trong khi
thả không để lợn ốm, khỏe tiếp xúc với nhau.
+ Tiêu độc: hằng tuần tiêu độc một lần toàn trại. Tất cả dụng cụ, máng
ăn, sau khi dùng phải rửa sạch sẽ và phơi nắng. Thường xuyên quét vôi và
tiêu độc nền với những chất như xút (NaOH)5%, nước vôi 15%, lizôn 3%,
crezin 5%, nước tro 30%.
+ Nuôi dưỡng: cho lợn ăn no đủ, nhiều thức ăn tươi, tăng thức ăn tinh
bột, bột xương, muối và chất khoáng.
+ Dùng thuốc:
Dùng Tylosin: Tylosin dùng liều 20mg/kg thể trọng, tiêm bắp thịt, dùng
liên tục 6 ngày, nghỉ 5 ngày, lại tiếp tục dùng 5 ngày nữa. Kết quả cho thấy
lợn khỏi về lâm sàng; thở bình thường, hết ho, ăn khỏe. Cùng với Tylosin
cần sử dụng thêm các loại thuốc trợ sức: Vitamin B
2
, Vitamin C, cafein…và
chăm sóc nuôi dưỡng tốt.
Theo Nguyễn Ngọc Nhiên (1992) dùng Tylosin kết hợp với
Streptomicin hoặc Kanamicin với liều lượng 30mg/kg thể trọng, chăm sóc,
nuôi dưỡng tốt, cho biết; lợn khỏi bệnh 80 – 90%.
Dùng Tiamulin: Tiamulin là kháng sinh mới có tác dụng diệt
Mycoplasma và các vi khuẩn đường hô hấp khác, dùng với liều lượng 20
mg/kg thể trọng kết hợp dùng Kanamicin với liều lượng 20 mg/kg thể trọng,
Gentamicin với liều 4 đv/kg thể trọng dùng liên tục 6-7 ngày, kết quả khỏi
bệnh lâm sàng 85-90% (Nguyễn Hữu Vũ,1993).
Đối với các cơ sở đã có bệnh suyễn:
- Phân chia lợn thành 3 loại
- Kinh nghiệm phòng trừ tổng hợp tại trại chăn nuôi Lạc Vệ (Hà Bắc).
Tiến hành từ năm 1967 đến năm 1972 với những biện pháp đã sử dụng sau:
- Thải loại những lợn giống xấu, già, những lợn nhiễm bệnh nặng, xử
lý toàn bộ lợn choai, lợn thịt.
- Những lợn đực giống tốt thì theo dõi, cách ly, tăng cường bồi dưỡng,
không cho nhảy trực tiếp mà chỉ lấy tinh.
- Những lợn nái cơ bản thì phân loại, cách ly theo từng loại, từng khu
vực: loại A là tương đối an toàn, loại B là nghi ngờ, loại C đã nhiễm bệnh.
Cách ly từng con, mỗi con một ô chuồng, có dụng cụ chăm sóc riêng.
Thường xuyên theo dõi, phát hiện những lợn có triệu chứng ho, thở để kịp
thời thải loại.
Kiểm tra lợn con bằng cách mổ khám bệnh tích qua ba lứa: những lợn
có triệu chứng lâm sàng, còi cọc, mổ trước; thời gian lợn còn theo mẹ mổ
1/3 số con trong mỗi ổ; số còn lại đến tháng thứ tư và tháng thứ sáu mổ hết.
Nếu thấy lợn có bệnh tích điển hình và thấy lợn có triệu chứng lâm sàng ở
lợn mẹ thì thải loại lợn mẹ.
Qua ba lứa kiểm tra, nếu hai lứa liền lợn con không có bệnh tích và