Nghiên cứu bệnh giun đũa ở gà (ascaridiosis) nuôi tại huyện mê linh, thành phố hà nội và biện pháp phòng trị - Pdf 48

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN HỮU ĐẠT

NGHIÊN CỨU BỆNH GIUN ĐŨA (ASCARIDIOSIS)
Ở GÀ NUÔI TẠI HUYỆN MÊ LINH , THÀNH PHỐ
HÀ NỘI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y

Thái Nguyên, 2016


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN HỮU ĐẠT

NGHIÊN CỨU BỆNH GIUN ĐŨA (ASCARIDIOSIS)
Ở GÀ NUÔI TẠI HUYỆN MÊ LINH , THÀNH PHỐ
HÀ NỘI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
Chuyên ngành: Thú y
Mã số ngành: 60 64 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y

Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Minh


tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn.
Xin chân thành cảm ơn những nông hộ chăn nuôi gà tại địa phương đã hết lòng
hợp tác, giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập mẫu và nghiên cứu đề tài.
Tôi vô cùng biết ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn ở bên động viên,
khích lệ, giúp đỡ tôi cả về vật chất và tinh thần để tôi có thể yên tâm nghiên cứu và
thực hiện Luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 9 năm 2016
Học viên

Nguyễn Hữu Đạt


iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .....................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN .........................................................................................................ii
MỤC LỤC ............................................................................................................ iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT......................................................................... vi
DANH MỤC CÁC BẢNG ....................................................................................vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ....................................................................................viii
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI ................................................................... 1
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU............................................................................ 2
3. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI ................................................................................. 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................... 3
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI .............................................................. 3
1.1.1. Giun đũa ký sinh ở gia cầm .................................................................... 3

trong phân gà ................................................................................................. 27
2.4.8. Phương pháp nghiên cứu bệnh giun đũa ở gà do gây nhiễm giun đũa ... 27
2.4.9. Phương pháp nghiên cứu xác định biểu hiện lâm sàng, bệnh tích đại thể
của gà mắc bệnh giun đũa tự nhiên ................................................................ 30
2.4.10. Phương pháp thử nghiệm thuốc tẩy giun đũa cho gà ........................... 31
2.5. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU ........................................................... 31
2.5.1. Đối với các tính trạng định tính như: tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm giun
đũa,… được tính theo công thức: ................................................................... 31
2.5.2. Đối với các tính trạng định lượng như số lượng trứng giun đũa/gam phân
được tính theo công thức:............................................................................... 32
2.5.3. So sánh mức độ sai khác giữa hai số trung bình.................................... 33
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ........................................................... 35
3.1. NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH GIUN ĐŨA Ở GÀ
NUÔI TẠI HUYỆN MÊ LINH, TP HÀ NỘI .................................................... 35
3.1.1. Mô tả hình thái, cấu tạo giun đũa ký sinh ở gà nuôi tại 6 xã của huyện
Mê Linh, TP Hà Nội. ..................................................................................... 35
3.1.2. Tình hình nhiễm giun đũa ở gà tại các xã của huyện Mê Linh, TP. Hà Nội . 36


v

3.1.3. Nghiên cứu sự tồn tại và phát triển của trứng giun đũa gà trong phân......... 50
3.2. NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ VÀ LÂM SÀNG BỆNH GIUN
ĐŨA Ở GIA CẦM ............................................................................................ 52
3.2.1. Nghiên cứu bệnh lý, lâm sàng ở gà bị bệnh do gây nhiễm giun tròn A. galli ..... 52
3.2.2. Biểu hiện lâm sàng và bệnh tích của gà mắc bệnh giun đũa ở các địa phương...... 60
3.3. THỬ NGHIỆM THUỐC TẨY GIUN ĐŨA CHO GÀ VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN
PHÁP PHÒNG BỆNH ...................................................................................... 63
3.3.1. Thử nghiệm thuốc tẩy giun đũa cho gà trên diện hẹp ............................ 63
3.3.3. Bước đầu đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun đũa cho gà ................ 66

TN

: Thí Nghiệm

TP

: Thành Phố

TS

: Tiến sĩ

kgTT

: kg thể trọng


vii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở gà tại các xã của huyện Mê
Linh, TP. Hà Nội .................................................................................... 37
Bảng 3.2. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo tuổi gà...................................... 40
Bảng 3.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở gà theo mùa vụ ............................. 42
Bảng 3.4. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở gà theo phương thức chăn nuôi .......... 45
Bảng 3.5. Tỷ lệ và cường độ nhiễm đũa ở gà qua mổ khám ................................... 48
Bảng 3.6. Thời gian phát triển của trứng giun đũa gà mới thải thành trứng có
sức gây bệnh trong phân gà..................................................................... 50
Bảng 3.7. Khả năng tồn tại của trứng giun A. galli có sức gây bệnh trong phân gà. ........ 51
Bảng 3.8. Sự phát triển của trứng giun A. galli trong môi trường nước ........................ 52


1

MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hiện nay, ngành chăn nuôi nước ta đang trên đà phát triển, chiếm một vị trí vô
cùng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nói riêng và trong cơ cấu nền kinh tế
nói chung. Chăn nuôi với nhiều phương thức phong phú, đa dạng đã góp phần giải
quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, tạo ra các sản phẩm có giá trị cao,
phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Bên cạnh chăn nuôi gia súc, chăn nuôi gia
cầm cũng phát triển rất mạnh, đặc biệt là chăn nuôi gà.
Nghề nuôi gà ở nước ta đang ngày càng được mở rộng và cải tiến theo xu thế
tiếp cận với các thành tựu khoa học kỹ thuật của thế giới. Trong đó nuôi gà ở gia
đình chiếm một vị trí quan trọng, phát triển ở cả nông thôn, thành thị, trung du,
miền núi với quy mô số lượng ngày càng tăng nhằm mục tiêu sản xuất nhiều sản
phẩm như thịt, trứng phục vụ cho xã hội. Song song với sự phát triển của ngành
chăn nuôi gà thì dịch bệnh trên đàn gà cũng ngày càng diễn biến phức tạp. Bên cạnh
những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm gây tổn thất lớn cho ngành chăn nuôi gà thì
cũng phải kể đến bệnh ký sinh trùng, đặc biệt là ký sinh trùng đường tiêu hóa.
Chính phương thức sống ký sinh trong đường tiêu hoá của chúng đã làm tổn thương
niêm mạc đường tiêu hoá, nhờ đó các loại mầm bệnh dễ xâm nhập gây viêm ruột,
gây rối loạn quá trình tiêu hoá, hấp thu, kích thích nhu động ruột, gây tiêu chảy và
hiện tượng nhiễm trùng. Nhưng điều quan trọng hơn cả là phần lớn ký sinh trùng
gây bệnh cho súc vật nuôi ở thể mạn tính, các bệnh ký sinh trùng ít biểu lộ những
dấu hiệu đặc trưng, gây khó khăn cho việc chẩn đoán và xử lý. Bởi vậy, cho đến nay
bệnh ký sinh trùng ở vật nuôi vẫn là một bệnh khá phổ biến gây nhiều thiệt hại. Việt
Nam là nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm và có khu hệ ký
sinh trùng phong phú với nhiều giống loài ký sinh gây bệnh cho gia súc, gia cầm;
trong đó có giun đũa gà Ascaridia galli.
Giun đũa ký sinh chiếm đoạt chất dinh dưỡng của gà, gây tổn thương và làm

1.1.1. Giun đũa ký sinh ở gia cầm
1.1.1.1. Căn bệnh, ký chủ và vị trí ký sinh
Giun đũa gà còn được gọi là giun đũa nhỏ ký sinh trên gia cầm và một số
loài chim hoang dã. Giun đũa nói chung sống ký sinh trong ống tiêu hóa của động
vật nhưng chủ yếu là ở ruột non.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (1999)[8], Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12] cho biết:
bệnh giun đũa gà do loài giun Ascaridia galli, thuộc họ Ascaridiidae gây ra. Giun trưởng
thành ký sinh ở ruột non gà, gà tây, gà rừng, đôi khi ký sinh ở manh tràng.
Ấu trùng non khi xâm nhập vào cơ thể sẽ ký sinh bên trong các tuyến ruột,
đến giai đoạn trưởng thành thì ký sinh trong lòng ruột non.
Ngoài ký chủ là gà, Ascaridia galli còn ký sinh trên ngỗng và vịt (Johannes
Kaufmann, 1996)[45].
1.1.1.2. Vị trí của giun đũa ký sinh ở gia cầm trong hệ thống phân loại động
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [15], vị trí phân loại giun Ascaridia galli
trong hệ thống phân loại như sau:
Lớp giun tròn Nematoda Rudolphi, 1808
Bộ Ascaridida Skrjabin et Schulz, 1940
Phân bộ Ascaridina Skrjabin, 1915
Họ Ascaridiidae Skrjabin et Mosgovoy, 1973
Giống Ascaridia Dujardin, 1845
Loài Ascaridia galli Freeborn, 1923 (Schrank, 1788)
1.1.1.3. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun đũa ký sinh ở gà
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [10], giun đũa Ascaridia galli trưởng thành
ký sinh ở ruột non gà, gà tây, gà rừng... Giun màu vàng nhạt hoặc trắng ngà, thân có
vân ngang, quanh miệng có 3 môi; trên mỗi môi có răng.


4

Cơ thể được bao phủ hoàn toàn bởi một cấu trúc protein dày gọi là lớp biểu bì

- Giai đoạn 2
Đỗ Dương Thái và cs (1978)[27] đã mô tả trứng giun đũa ở giai đoạn 2 như
sau: trứng có 3 màng là màng ngoài, màng giữa, màng trong, phôi bào đã bắt đầu
phát triển, phân chia thành 2, 3 ,4... phôi bào và cuối cùng thành hình quả dâu.
- Giai đoạn 3
Ở giai đoạn này vỏ trứng mỏng dần, mầu nhạt đi, phôi bào đã chuyển thành ấu
trùng. Quá trình chuyển dạng của ấu trùng có thể xảy ra rất nhanh chóng như ấu
trùng từ ngắn và mập đến dài và thon hơn (Đỗ Dương Thái và cs, 1978)[27].
- Giai đoạn 4
Đỗ Dương Thái và cs (1978)[27], cho biết: trong trứng đã hình thành ấu trùng
có khả năng gây nhiễm, vỏ trứng rất mỏng và mất màu.
1.1.1.4. Chu kỳ sinh học của giun đũa ký sinh ở gà
Chu kỳ sinh học của giun đũa gà được xếp vào dạng phát triển trực tiếp (không
qua vật chủ trung gian).
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [8] cho biết: giun cái sau khi thụ tinh đẻ
trứng rất nhiều (khoảng 72.500 trứng/ngày đêm), trứng theo phân ra ngoài, gặp điều
kiện thích hợp phát triển thành trứng có ấu trùng có sức gây bệnh. Trứng này lẫn
vào thức ăn, nước uống của gà.
Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1978)[32], thì: sau 7 – 14 ngày trứng phát triển
thành ấu trùng nằm trong vỏ trứng và có khả năng gây nhiễm.
Nguyễn thị Kim Lan và cs (1999),(2012)[8],[10], Trịnh Văn Thịnh và cs
(1978)[35] cho biết: gà nuốt phải trứng chứa ấu trùng có sức gây bệnh, ấu trùng bắt
đầu nở ra trong dạ dày cơ, nhưng chỉ hoàn thành khi có tác động của dịch tiêu hóa
(pepsin, trypsin). Ấu trùng nở ra, di hành tới đoạn trước ruột non. Sau 1 – 2 giờ ấu
trùng chui vào các tuyến ở ruột và phát triển ở đó 19 ngày rồi lại trở lại xoang ruột,
phát triển thành giun trưởng thành. Thời gian hoàn thành vòng đời là 35 – 58 ngày.
Ấu trùng vào xoang ruột phát triển thành giun trưởng thành sau 4 -8 tuần.


6


7

Ở nước ta, tất cả các vùng đều có bệnh giun đũa gà, tỷ lệ nhiễm trung bình của
gà ở các tỉnh tương đối cao (33,3 – 69,8%) và cường độ nhiễm ở mức trung bình
(7,3 – 16,3 giun/gà).
1.1.2.2. Cơ chế sinh bệnh của giun đũa ở gà
Trịnh Văn Thịnh và cs (1978)[32] cho biết: giun đũa thường sống trong ruột
non của gà. Chúng phải tự nuôi dưỡng bằng cách ăn các mô, tế bào thượng bì, cướp
một phần thức ăn mà ký chủ tiêu hóa trước. Chúng thường tập trung ở tá tràng gà là
chỗ có dưỡng chấp. Tác động này tiếp diễn liên tục trong một thời gian dài bởi rất
nhiều giun đũa gây tổn thất lớn làm cơ thể gà sinh trưởng kém, bị thiếu máu, gầy
còm, lâu ngày có thể chết.
Ấu trùng giun đũa A. galli chui vào tuyến tiêu hoá ở ruột, phá hoại niêm mạc
và nhung mao ruột gây viêm, tụ máu mở đường cho vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể
gây ra các bệnh ghép. Khi gà bị nhiều giun đũa ký sinh sẽ gây tắc ruột hoặc thủng
ruột, ngoài ra giun tiết độc tố làm gà bị trúng độc, chậm lớn, sản lượng trứng giảm
sút (Phan Địch Lân và cs, 2005) [13].
Ngoài ra, giun đũa còn làm tổn thương niêm mạc ruột như sung huyết, xuất
huyết nên hạn chế sự hấp thu vitamin A và các chất dinh dưỡng khác làm cho gà
chậm lớn, còi cọc (Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978)[32]. Tác giả cũng chỉ ra rằng
ngoài độc tố của giun trưởng thành thì ấu trùng giun đũa cũng tiết ra độc tố đầu độc
ký chủ. Nói chung, chất độc do ấu trùng giun tiết ra có tác động mạnh hơn so với
giun trưởng thành, gà con bị thiếu máu gầy mòn hơn gà trưởng thành, do vậy gà con
nhiễm nhiều giun đũa thì dễ chết hơn gà trưởng thành.
M.K. Djavadov đã ghi nhận giun đũa A.galli chui vào ống mật làm tắc ống
mật. Tác giả cho rằng, giun đã từ ruột xâm nhập vào gan vì trong ruột thường có rất
nhiều giun (Dẫn theo Phạm Sỹ Lăng và cs, 2001) [11].
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [10] cũng cho biết, giun đũa chiếm chất dinh
dưỡng của gà, làm gà gầy yếu, chậm lớn, suy nhược cơ thể.

mạc đường tiêu hóa thay đổi, có hiện tượng xung huyết đỏ (do giun bám vào thành
ruột để hút chất dinh dưỡng).
Thành ruột dày lên và nhu động giảm.
Giun và ấu trùng có thể xuyên qua thành ruột vào túi mật, gan, tim, thận, gây
tích nước màng tim, thoái hóa các tổ chức ở gan, thận, tim, phổi do ấu trùng di hành
qua đó.


9

1.1.2.4. Chẩn đoán bệnh giun đũa ở gà
Việc chẩn đoán bệnh giun đũa ở gà có thể dựa vào đặc điểm dịch tễ, triệu
chứng lâm sàng của bệnh, xét nghiệm phân và kiểm tra bệnh tích. Cách thức chẩn
đoán như đối với các loài giun tròn khác.
* Đối với gà còn sống:
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [10], để chẩn đoán bệnh cần dựa vào triệu
chứng lâm sàng, kết hợp xét nghiệm phân tìm trứng Ascaridia galli bằng phương
pháp phù nổi Fullerborn.
Phương pháp xét nghiệm phân phát hiện trứng giun đũa được thực hiện bằng
phương pháp phù nổi Fullerborn:
Nguyên lý: dựa trên sự chênh lệch về tỷ trọng của dung dịch muối NaCl bão
hoà (d = 1,18 - 1,20) lớn hơn tỷ trọng của trứng giun đũa, do đó trứng sẽ nổi lên
trên, ta có thể tìm thấy trứng của giun đũa gà dưới kính hiển vi (độ phóng đại x100
hoặc x 400).
Dung dịch muối NaCl bão hoà được pha bằng cách: lấy 1 lít nước sôi, cho 380
g muối NaCl vào (hoặc đun sôi nước, cho từ từ muối vào), khuấy đều đến khi muối
không tan được nữa, khi để nguội trên mặt có lớp muối kết tinh là được. Lọc qua vải
màn hoặc bông, bỏ cặn.
Cách xét nghiệm như sau: Lấy mẫu phân cần xét nghiệm cho vào cốc thuỷ
tinh, đổ từ từ nước muối bão hoà vào cốc với lượng thể tích gấp 10 lần khối lượng

bảo quản trong dung dịch barbagallo (dung dịch barbagallo gồm 30 ml formol; 7,5 g
NaCl; nước cất 1000 ml) và có ghi nhãn đầy đủ (Chu Thị Thơm và cs, 2006) [33].
1.1.2.5. Điều trị bệnh giun đũa ở gà
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2012) [10], việc dùng thuốc tẩy ký sinh
trùng nói chung và giun đũa gà nói riêng phải đạt được những yêu cầu sau:
- Trước hết phải tiêu diệt ký sinh trùng, dùng thuốc tẩy trùng cho vật nuôi.
- Chữa cho con vật ốm khỏi bệnh và đảm bảo cho ngoại cảnh không bị nhiễm
bệnh giun sán.
- Tránh mầm bệnh nhiễm vào những con vật khác.
- Phải dùng thuốc tẩy giun sán từ lúc nó chưa trưởng thành, chưa đẻ trứng và
phải tiêu độc thật tốt phân có trứng giun.
- Dùng thuốc tẩy giun sán thì phải dùng thuốc hướng ký sinh trùng, tức là độc
với giun sán mà không độc với ký chủ, nên chọn thuốc có hiệu lực cao nhất đối với
ký sinh trùng, đồng thời ít nguy hiểm nhất đối với ký chủ, rẻ tiền và dễ dùng nhất.


11

- Ngăn chặn không cho con vật ốm tái nhiễm, chăm sóc nuôi dưỡng tốt, bổ
sung đầy đủ dinh dưỡng, đưa con vật ra khỏi nơi có bệnh, tiêu độc chỗ đó trước khi
cho vật nuôi vào lại. Hướng mới trong việc chữa bệnh ký sinh trùng là tìm những
thuốc có hiệu lực đối với nhiều loại ký sinh trùng như: mebendazole có tác dụng tẩy
nhiều loài giun tròn.
Nguyễn Phước Tương (1994) [38], Phạm Khắc Hiếu và cs (1997) [5]; Phạm
Đức Chương và cs (2003) [2] đã tổng hợp các loại hoá dược có tác dụng điều trị các
bệnh giun tròn ở

gia cầm, trong đó có các thuốc phenothiazin, levamisol,

piperazin…

cùng. Có thể tiêu diệt nó bằng hai phương pháp:
+ Dùng thuốc đặc hiệu diệt ký sinh trùng (việc tẩy ký sinh trùng này có tính
chất dự phòng, tức là thực hiện trước khi súc vật có biểu hiện triệu chứng bệnh và
trước khi súc vật gieo rắc mầm bệnh ra bên ngoài môi trường).
+ Tiêu diệt ký sinh trùng bằng cách giết tất cả những vật mắc bệnh (phương
pháp này triệt để nhưng tốn kém vì thịt súc vật vẫn sử dụng được).
- Chống giai đoạn thứ hai (trứng): có thể áp dụng hai phương pháp:
+ Tiêu diệt hầu hết trứng bằng cách thu gom hết phân của gia súc ốm trong
chuồng và đem chôn (biện pháp này phải làm đi làm lại nhiều lần để trứng không có
thời gian phát triển thành phôi thai)
+ Có thể ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh vật học.
- Chống giai đoạn thứ ba và thứ tư (phôi thai và ấu trùng tự do ngoài thiên
nhiên) có hai cách:
+ Diệt toàn bộ phôi thai và ấu trùng ngoài đồng cỏ và ao tù bằng vôi bột,
sunfat sắt, sunfat đồng với lượng dùng 400 kg cho 1ha đồng cỏ, 5 kg cho 100 m3
nước ao.
+ Không cho phôi thai hay ấu trùng xâm nhập cơ thể ký chủ (cách ly súc
vật ốm, tiêu độc dụng cụ và chuồng nuôi, vệ sinh thức ăn, nước uống, diệt ký chủ
trung gian) để phôi thai và ấu trùng bị chết. Skrjabin K. I. (1944) đã đề ra học
thuyết tiêu diệt tận gốc bệnh giun sán. Học thuyết này có thể áp dụng cho các
bệnh ký sinh trùng khác. Nội dung của học thuyết là dự phòng có tính chất chủ
động như dùng tất cả các biện pháp cơ giới, vật lý, hoá học, sinh vật học nhằm


13

tiêu diệt ký sinh trùng trên cơ thể ký chủ, tiêu diệt ký sinh trùng ngoại giới, tiêu
diệt ký sinh trùng ở tất cả các giai đoạn phát dục, tiêu diệt ký sinh trùng ở cả
người và vật nuôi. Mỗi hộ gia đình, mỗi trại chăn nuôi cần phải thực hiện các
biện pháp phòng trừ tổng hợp như sau:

1.1.2.7. Một số loại thuốc dùng để phòng và điều trị giun tròn cũng như giun đũa
ở gà đang phổ biến trên thị trường.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Phước Tương (1994) [38]; Đặng Kim Lưu
(1996) [22]; Nguyễn Đức Lưu và cs (1997)[21]; Phạm Khắc Hiếu và cs
(1997),(2009) [5], [6]; Phạm Đức Chương và cs (2003) [2] và các tác giả khác cho
biết, hiện nay có nhiều loại thuốc được sử dụng tẩy giun tròn cho gia cầm như:
tetramisole, ivermectin, albendazole, levamisole, praziquantel… Các thuốc hiện
được dùng chủ yếu là ivermectin, albendazole, levamisole, mebendazole.
*Levamisole

Levamisole là thuốc tẩy giun và điều chỉnh miễn dịch, nó thuộc nhóm dẫn xuất
của imidazothiazole tổng hợp. Nó được nghiên cứu phát triển năm 1966 ở hãng
Janssen Pharmaceutica.
Levamisole được sử dụng cho cả người và gia súc để tẩy giun tròn.
Liều sử dụng : tẩy giun cho gia cầm với liều 20mg/kg thể trọng.
* Albendazole

Albendazole thuộc nhóm benzimidazole dùng để tẩy giun sán. Nó được phát
hiện lần đầu tiên ở phòng thí nghiệm nghiên cứu thú y Smith Kline năm 1972.
Albendazole là thuốc tẩy giun sán có hoạt phổ rộng, nó tẩy được giun tròn, sán
dây và sán lá cho người và cả gia súc.
Công dụng
Tẩy sán lá: Fasciola
Sán dây: Cysticercus, Echinococcus
Giun tròn: Giun đũa, giun móc, giun kim , filaria, ấu trùng của giun
Ancylostoma…


15




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status