Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh ve trên chó nuôi tại quận tây hồ, thành phố hà nội và biện pháp phòng, trị - Pdf 60

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÊ THỊ THU PHƯƠNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ
BỆNH VE TRÊN CHÓ NUÔI TẠI QUẬN TÂY HỒ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG, TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y

Thái Nguyên - 2019


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÊ THỊ THU PHƯƠNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ
BỆNH VE TRÊN CHÓ NUÔI TẠI QUẬN TÂY HỒ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG, TRỊ
Ngành: THÚ Y
Mã số ngành: 8.64.01.01

LUẬN VĂN THẠC SỸ THÚ Y
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN THỊ NGÂN

Thái Nguyên - 2019



đỡ của gia đình, bạn bè và đồng nghiệp trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và
hoàn thành luận văn này.
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2019
TÁC GIẢ
Lê Thị Thu Phương


iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

Chữ viết tắt

Chữ viết đầy đủ

%

Phần trăm

Cs

Cộng sự

g/l

Gam/lít

fl

Femtolit

phường nghiên cứu ............................................................................... 52
Bảng 3.13. Hiệu lực của vòng Fleadom trong điều trị ve cho chó đợt 2 tại các
phường nghiên cứu ............................................................................... 53
Bảng 3.14. Hiệu lực của thuốc Hantox Spray trong điều trị ve cho chó đợt 2 tại
các phường nghiên cứu ......................................................................... 54
Bảng 3.15. So sánh chi phí điều trị ve cho chó bệnh ............................................... 55


v

DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ
Hình 3.1.

Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm ve ở chó nuôi tại một số phường trên địa bàn
quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội ........................................................... 29

Hình 3.2.

Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm ve ở chó theo lứa tuổi ...................................... 32

Hình 3.3.

Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm ve ở chó theo tính biệt tại 4 phường nghiên cứu ... 35

Hình 3.4.

Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm ve theo loại chó nuôi tại một số phường trên
địa bàn quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội .............................................. 39

Hình 3.5.

2.1.2. Phạm vi ........................................................................................................... 23
2.2. Nội dung nghiên cứu ......................................................................................... 23
2.2.1. Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh ve trên chó nuôi tại quận Tây Hồ Thành phố Hà Nội ......................................................................................... 23
2.2.2. Nghiên cứu về lâm sàng bệnh ve ở chó ......................................................... 24
2.2.3. Nghiên cứu biện pháp phòng, trị ve cho chó ................................................. 24
2.3. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 24
2.3.1. Phương pháp thu thập mẫu ............................................................................. 24
2.3.2. Phương pháp xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm ve ....................................... 25
2.3.3. Quy định một số yếu tố liên quan đến các chỉ tiêu nghiên cứu dịch tễ
bệnh ve ở chó ................................................................................................ 25
2.3.4. Phương pháp theo dõi các biểu hiện lâm sàng chủ yếu của chó bị ve ký sinh ..... 25
2.3.5. Phương pháp xác định sự thay đổi một số chỉ số máu của chó bị ve ký sinh ...... 25
2.3.6. Chuẩn bị động vật thí nghiệm ........................................................................ 26


ii

2.3.7. Phương pháp nghiên cứu từng nội dung ........................................................ 26
2.3.8. Phương pháp xử lý số liệu .............................................................................. 27
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .................................. 28
3.1. Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh ve trên chó nuôi tại quận Tây Hồ Thành phố Hà Nội ......................................................................................... 28
3.1.1. Tỷ lệ và cường độ nhiễm ve ở chó tại một số phường của quận Tây Hồ Thành phố Hà Nội ......................................................................................... 28
3.1.2. Tỷ lệ và cường độ nhiễm ve ở chó theo tuổi .................................................. 30
3.1.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm ve ở chó theo tính biệt ........................................... 33
3.1.4. Tỷ lệ và cường độ nhiễm ve theo loại chó ..................................................... 36
3.1.5. Tỷ lệ và cường độ nhiễm ve ở chó theo mùa vụ ............................................ 39
3.2. Nghiên cứu về lâm sàng bệnh ve ở chó ............................................................ 42
3.2.1. Những biểu hiện lâm sàng chủ yếu ở chó bị ve ký sinh ................................ 42
3.2.2. Sự thay đổi một số chỉ số máu của chó bị ve ký sinh .................................... 44
3.2.3. Công thức bạch cầu của chó khỏe và chó bị ve ký sinh ................................. 46

trùng cũng gây nhiều thiệt hại cho chó, đặc điểm khí hậu nóng ẩm ở nước ta tạo
điều kiện thuận lợi cho các loại mầm bệnh ký sinh trùng tồn tại và phát triển. Bệnh
ve ở chó là một trong những bệnh ngoại ký sinh trùng phổ biến, không những gây
tổn thương thực thể tổ chức da, mà còn làm giảm sức đề kháng, giảm khả năng sinh
trưởng và phát triển của chó. Latrofa M. S. và cs. (2014) cho biết, các loài ve đóng
vai trò là vật môi giới truyền một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở chó như:
Anaplasma platys, Cercopithifilaria spp., Ehrlichia canis, Hepatozoon canis và
Rhipicephalus sanguineus. Chính vì vậy, ve ký sinh là nhân tố trung gian nguy hiểm
truyền bệnh cho gia súc, gia cầm, từ đó truyền bệnh sang người. Công tác phòng trị
ve rất phức tạp bởi chu kỳ phát triển của ký sinh trùng này có sự thay đổi liên tục
giưa môi trường và ký chủ, ngoài ra ve còn có khả năng tồn tại rất lâu ngoài môi
trường tự nhiên.
Hiện nay, trên thị trường thuốc thú y có khá nhiều các loại hóa dược đang lưu
hành như: Biovermectin, Kill - Lice, Ivermectin, Fronline, Lindane, Coumaphos,
Amitraz, SG.Sivermectin 0,25%, Pimetylpyrolan, Demetyl, Sevin, Bravecto,
Fleadom, Hantox Spray… các hóa dược nói trên có hiệu lực điều trị cao đối với bệnh
ve ở chó.


2

Trong những năm gần đây, phong trào nuôi chó ở quận Tây Hồ - Thành phố
Hà Nội khá phát triển. Tuy nhiên, việc phòng trị bệnh ngoại ký sinh trùng, đặc biệt
là bệnh do ve ký sinh ở chó còn ít được chú ý. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi
thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh ve trên chó nuôi tại
quận Tây Hồ - Thành phố Hà Nội và biện pháp phòng, trị”.
2. Mục tiêu đề tài
- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh ve chó tại quận Tây Hồ - Thành
phố Hà Nội.
- Nghiên cứu phác đồ điều trị ve hiệu quả.

gốc tại Việt Nam. Hiện ở Việt Nam có bốn giống chó nội có giá trị và được gọi là tứ
đại quốc khuyển gồm: Chó Bắc Hà, chó Lài (Dingo Đông Dương, tên khoa học:
Canis lupus dingo), H’mông cộc đuôi và đặc biệt là chó Phú Quốc.
Những giống chó nội địa này đã tồn tại từ lâu trên bán đảo Đông Dương và ở
Việt Nam từ hơn 6.000 năm nay với quá trình gắn bó cùng con người. Trong các
giống chó thì chó Lài khá phổ biến, đây là giống chó nguyên thủy đặc trưng tại các
vùng trung du và miền núi của Việt Nam. Giống này đang được người dân vùng cao
tại Việt Nam nuôi rải rác khắp các vùng lãnh thổ. Chó chủ yếu được người dân nuôi
trông nhà và các hoặt động săn bắn hay đi rừng, chúng có bản năng trung thành với
chủ. Ngoài ra giống chó Phú Quốc là giống chó duy nhất đến nay của Việt Nam
được công nhận trên thế giới.
Các giống chó Việt Nam nhìn chung có tầm vóc trung bình và nhỏ, nặng
khoảng 10 - 12 kg khi trưởng thành. Chó Lài thì có tầm vóc trung bình, cân nặng từ
15 - 30 kg, chiều cao 45 cm - 65 cm. Cơ thể hơi dài hơn so với chiều cao, thông


4

thường chó đực to hơn chó cái. Đặc điểm dễ nhận biết với loài này nếu là thuần
chủng phải có bốn chân có màu bít tất trắng và chóp đuôi trắng (đuôi bông lau),
đuôi dài vừa phải, bình thường buông thõng (cụp đuôi), lúc hoạt động dựng hướng
lên trên, hoặc cuộn trên lưng (cong đuôi). Chiều cao tới vai so với chiều dài cơ thể
là 1: 1,2 trong đó phần thân nằm trong hình chữ nhật nằm ngang, lưng thẳng, bụng
thon gọn.
Chiều dài toàn đầu so với chiều dài mõm là 2: 1, đầu chúng thon, dài vừa
phải và cân đối, mặt có hình tam giác theo kiểu chó sói, mõm chó hình chữ V và
ngắn, đầu mõm hơi nhọn, gốc mõm khá rộng. Mõm dài gần bằng nửa chiều dài toàn
đầu. mũi có màu đen, lưỡi màu hồng hoặc có đốm màu đen. Tai nằm hai bên hộp
sọ, dựng đứng như hình vỏ sò và hướng về phía trước. Tai to vừa phải, cân đối,
không nhọn, phía trong tai ít lông; nếu nhìn thẳng trực diện thì hai tai dựng đứng,

Bộ Parasitiformes Leach, 1815.
Họ Ixodidae Koch C. L., 1844.
Phân họ Ixodoidea Leach, 1815.
Giống Rhipicephalus Latreille, 1806.
Loài Rhipicephalus sanguineus Latreille, 1806.
Theo nghiên cứu của nhiều tác giả, ve R. sanguineus là loài thường gặp và ký
sinh nhiều nhất ở chó. Dantas-Torres F. và Otranto D. (2015) cho biết:
Rhipicephalus sanguineus là một loài ve được mô tả bởi Latreille vào năm 1806
dựa trên mẫu vật thu thập được từ Pháp.
Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (1999) cho biết: nhiều loài ve là môi giới truyền
bệnh dịch hạch của loài gặm nhấm, bệnh viêm não của người, bệnh sốt phát ban,
các bệnh nguyên trùng, đặc biệt là bệnh lê dạng trùng của trâu, bò, dê, cừu, ngựa,
chó, lợn…
1.1.3.2. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của ve
Trong các động vật tiết túc ký sinh, ve được coi là động vật nguy hiểm cho
người và vật nuôi. Ve là vectơ truyền bệnh ký sinh trùng đường máu và các bệnh
truyền nhiễm khác. Ngoài ra, ve còn gây tổn thương da cho vật nuôi. Do vậy, việc
nắm được hình thái, cấu tạo và vòng đời của chúng là vô cùng quan trọng trong việc
phòng và trị ve.
Ve là động không xương sống, thuộc bộ ve bét (Acarina), lớp hình nhện,
ngành chân khớp (Athropoda). Thân ve hình quả lê, màu nâu đen. Kích thước
khoảng 3,5 x 1,5 mm ở ve đực. Ve cái to hơn nhiều, kích thước 11 x 7 mm, màu


6

nâu sẫm, vàng hay xám bẩn. Chân bám nhọn sắc, phía đuôi có nhiều rua xòe ra hình
quạt (Rhipicephalus - Tiếng latin có nghĩa là “hình quạt”). Khi đói cơ thể hướng
theo hướng lưng - bụng. Khi hút máu no, kích thước của ve tăng lên rất nhiều. Luôn
luôn có mai lưng bằng kitin cứng phủ ở mặt lưng ve trưởng thành, ấu trùng và thiếu

+ Mắt: nằm ở hai bên bờ trước mai. Mắt có cấu tạo đơn giản.
+ Hai rãnh cổ bắt đầu từ hai hõm bờ trước chạy song song với trục giữa
xuống phía sau.
+ Rãnh cạnh: nằm giới hạn giữa miền vai và hõm cổ.
+ Rãnh giữa sau: nằm ở miền giữa theo trục thân.
+ Mấu đuôi ngắn và tầy (khi ve hút no máu).
+ Rua (feston): là những ô viền ở bờ sau thân.
- Mặt bụng gồm có:
Lỗ sinh dục nằm ở 1/3 phía trước mặt bụng, chỉ có ở ve trưởng thành. Ở ve
đực thường có hình móng ngựa, ở ve cái thường có hình bầu dục.
Lỗ hậu môn nằm ở 1/3 phía sau thân. Lỗ này gồm những tấm van trên bề mặt
có nhiều tơ gọi là tơ hậu môn.
Rãnh sinh dục thường có hình parabol vòng trước lỗ sinh dục xuống phía
đuôi đến tận cùng rua III và rua IV.
Ve R. sanguineus có rãnh hậu môn vòng sau, rãnh hậu môn vòng quanh lỗ
hậu môn. Rãnh sau hậu môn bắt đầu từ giữa sau hậu môn đến bờ sau thân.
Tấm thở nằm hai bên hông, sau gốc háng IV, là tấm kitin hẹp, dày. Tấm thở
hình dấu phẩy, ở ve đực dài, ở ve cái ngắn. Trên tấm thở có lỗ thở.
Tấm bụng là tấm hóa kitin còn gọi là tấm cạnh hậu môn, ở ve đực tấm cạnh
hậu môn có hình tam giác.
Chân ve đực, ve cái và thiếu trùng có bốn đôi chân, đánh số thứ tự từ I-IV, từ
đôi chân trước đến đôi chân sau cùng, còn ấu trùng thì chỉ có ba đôi chân. Mỗi đôi
chân gồm có sáu đốt: háng, chuyển, đùi, ống, chày và bàn chân. Chân có cựa hay
gai dùng để áp chặt vào lông của vật chủ. Trên mặt lưng bàn chân I, ở phía cuối có
cơ quan cảm giác Haller với nhiều chức năng khác nhau: thính giác, định hướng
hoặc thăng bằng.
Ấu trùng có 3 đôi chân, trĩ trùng (thiếu trùng) có 4 đôi chân, đều chưa có lỗ
sinh dục (Phan Lục, 2006).



trùng thuận lợi tiếp xúc với vật chủ, đồng thời tránh gió và ánh sáng mặt trời. Thời
gian nhịn đói của ấu trùng có thể lên đến trên 8 tháng rưỡi.
Khi bám được vào vật chủ, ấu trùng sẽ đi tìm nơi ký sinh thích hợp và thực
hiện quá trình hút máu. Thời gian bám và hút máu no gọi là bữa ăn. Thời gian này ở
ấu trùng R. sanguineus là 2 - 6 ngày.
Theo Phan Trọng Cung và Lê Quốc Thái (1979), sau khi no máu, ấu trùng rời
vật chủ xuống dưới đất rồi mới lột xác thành thiếu trùng. Thời gian lột xác của ấu
trùng R. sanguineus là 6 - 12 ngày ở điều kiện nhiệt độ 21 - 330C, độ ẩm 60 - 90%
(dẫn theo Hà Đức Quân, 2016).
* Thiếu trùng:
Thiếu trùng vừa lột xác không cử động, sau một thời gian nó hoạt động, bám
vào vật chủ hút máu. Thiếu trùng có thể nhịn đói trên 6 tháng đến khi có thể bám
vào vật chủ thì hút no máu. Theo Trịnh Văn Thịnh và Dương Công Thuận (1996),
sau khi no máu thiếu trùng biến thái và lột xác thành ve trưởng thành ở môi trường
ngoài. Thời gian của quá trình này kéo dài khoảng 12 - 17 ngày.
* Ve trưởng thành:
Ve trưởng thành có thể nhịn đói trên 19 tháng, đến khi bám được vào vật chủ
thì hút máu, ve cái có thể hút no máu sau khi giao hợp. Bữa ăn của ve cái R.
sanguineus là 4 - 8 ngày.
Ve cái ăn no máu rơi xuống đất đẻ trứng gọi là thời kỳ có chửa. Theo nghiên
cứu của Phan Trọng Cung và Lê Quốc Thái (1979) ở miền Bắc Việt Nam, thời kỳ
có chửa của ve R. sanguineus là 4 - 7 ngày (dẫn theo Hà Đức Quân, 2016).
Ve cái đẻ trứng thành ổ trên mặt đất và có màng nhày bảo vệ. Thời gian đẻ
trứng của ve cái là 10 ngày, mỗi lần đẻ 1301 - 2433 trứng (trung bình 1387 trứng)
(Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996).
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (1999), (2012), vòng đời phát triển của ve
R. sanguineus như sau: ve đực và cái ký sinh ở ký chủ và giao phối, sau khi hút no


10

muhsamae và R. senegalensis chiếm khoảng 1%.


11

1.1.4.2. Đặc điểm bệnh lý của bệnh ve chó
Ve đói hút máu làm chó thiếu máu, gày yếu, sinh trưởng và phát triển chậm,
gây thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi. Những nơi ve đốt thường để lại sẹo
hay lỗ thủng làm giảm chất lượng da.
Hoepple R. và Feny L. C. (1933) khi nghiên cứu vết đốt của ve trên các súc
vật thí nghiệm đã nhận thấy, tất cả các vị trí của cơ thể bị ve đốt đều bị viêm, thâm.
Những nơi ve bám đều có hiện tượng tăng bạch cầu eosin cục bộ.
1.1.4.3. Biện pháp phòng trị ve
Dựa vào đặc điểm hình thái, vòng đời, mùa vụ xuất hiện, ký chủ, nơi sống và
đẻ trứng của ve, muốn diệt được ve thì chúng ta phải áp dụng các biện pháp phòng
trừ tổng hợp, cụ thể như sau:
* Diệt ve trên cơ thể vật nuôi
Tùy theo số lượng vật nuôi mà áp dụng các biện pháp phù hợp sau:
- Biện pháp cơ học:
Áp dụng với trường hợp số lượng gia súc ít. Lấy que quấn bông tẩm dầu hỏa
bôi vào nơi có nhiều ve (háng, nách, kẽ chân, vú, tai). Dầu hỏa có tác dụng bịt lỗ
thở của ve (ở vị trí sau đốt háng của đôi chân thứ IV) làm ve nhả kìm ra. Sau đó
dùng kẹp bắt ve ra, điều này giúp làm giảm tổn thương cơ giới cho da của gia súc.
- Biện pháp hóa học:
Áp dụng cho những đàn chó có số lượng lớn, có thể dùng bình xịt, dùng thuốc
bôi hoặc sát lên da, xây bể tắm cho chó … Theo Nguyễn Thị Nguyệt (1999), bôi và
sát thuốc tập trung cả vào những nơi ấu trùng và thiếu trùng tập trung ký sinh,
không nên chỉ chú trọng vào chỗ bám của ve trưởng thành. Vì diệt ve vào giai đoạn
ấu trùng và thiếu trùng sẽ làm giảm lượng máu vật chủ bị mất do ve hút. Hơn nữa,
một số mầm bệnh truyền được từ giai đoạn ấu trùng như loài Ablyomma

2003).
Theo Cù Xuân Đức và Nguyễn Thị Quyên (2013), dịch chiết phôi hạt na 10%
ngâm trong dung dịch NaOH 5% trong thời gian 36 giờ có tác dụng giết chết 100%
ve sau 120 phút. Liều gây chết: 50% và 100% của dịch chiết xuất từ phôi hạt na
trong dung dịch NaOH 5% lần lượt là 5,5%; 9%. Hiệu quả điều trị ve là 95,69%.
- Biện pháp sinh học:
Đây là biện pháp lợi dụng các thiên địch của ve (như gà, sáo sậu, những loài
nấm gây bệnh cho ve…) tạo điều kiện thuận lợi cho chúng phát triển để diệt ve.
Estrada - Pena. A và cs. (1990) đã phân lập được nấm Aspergillus ocharceus từ ve


13

Rhipicephalus sanguineus, là tác nhân gây bệnh làm cho ve không đẻ trứng, cơ thể
khô lại và chết. Cũng có thể trồng cây làm ve sợ để xua ve trên đồng cỏ (cây Thuốc
cá, Mần tưới, Hương nhu…).
* Diệt ve ở chuồng vật nuôi
Sau khi ve hút máu no trên vật chủ sẽ rơi xuống đất, chúng tìm đến khe tường,
vách tường, nơi nham nhở của tường chuồng để sống và đẻ trứng. Mặt khác, ấu
trùng và thiếu trùng sẽ theo cỏ cây vào chuồng. Vì vậy, phải làm nhẵn tường
chuồng, định kỳ phun thuốc diệt ve ở chuồng trại, không dùng lá cây, cỏ tươi làm
chất độn chuồng, cỏ tươi khi thu về phải phơi tái. Khi gia súc mới nhập đàn cần
phải nuôi cách ly và diệt ve xong mới cho nhập đàn.
* Diệt ve ngoài thiên nhiên
Cần thực hiện các biện pháp sau:
- Làm thay đổi môi trường, điều kiện sống của ve: phát quang các bụi rậm
quanh chuồng trại, bãi chăn, đồng cỏ. Dùng biện pháp canh tác như cày, bừa, làm
khô bãi chăn ẩm ướt.
- Chăn dắt luân phiên đồng cỏ để ve chết đói.
- Dùng thuốc hóa học phun diệt ve trên đồng cỏ, bãi chăn.

bọ chét), benzophenyl ureas (ve), pyrethroids (ve, ve bét) và carbamates (ve, ve bét).
- Những con bọ chét mới nhiễm trên chó bị chết trước khi đẻ trứng. Nghiên
cứu trong phòng thí nghiệm còn chỉ ra một hàm lượng rất thấp fluralaner làm ngưng
hoạt động sản sinh trứng ở bọ chét.
- Sau khi uống, fluralaner được hấp thụ và đạt ngưỡng tối đa trong huyết
thanh trong vòng 1 ngày. Thức ăn làm tăng khả năng hấp thụ. Fluralaner được phân
bố hệ thống và đạt nồng độ cao nhất trong mỡ, sau đó là gan, thận và cơ. Sự kéo dài
bền bỉ và loại thải chậm khỏi huyết thanh (thời gian bán thải = 12 ngày) và thiếu sự


15

chuyển hóa một cách bao quát cung cấp một nồng độ fluralaner hiệu quả cho một
khoảng thời gian. Có sự dao động trong nồng độ tối đa và thời gian bán thải trong
huyết thanh đối với từng cá thể. Fluralaner được bài thải 90% qua phân, thận bài
thải một lượng nhỏ.
Becskei C. và cs. (2016) đã sử dụng Bravecto qua đường tiêu hóa với một
liều duy nhất để điều trị bệnh ve do R. sanguineus cho chó, thuốc làm giảm đáng kể
ve sau 8 giờ điều trị và tiêu diệt tất cả ve trên chó trong vòng 24 giờ, hiệu lực thuốc
đạt ≥95,5% cho đến ngày 44 sau điều trị.
Burgio F. và cs. (2016) đã sử dụng 4 loại thuốc (fluralaner, afoxolaner,
sarolaner và imidacloprid + permethrin) để điều trị bệnh ve do R. sanguineus cho
chó. Kết quả cho thấy fluralaner có hiệu lực điều trị tốt nhất (12 h sau dùng thuốc
hiệu lực điều trị đạt 100%). Hiệu lực của 3 loại còn lại lần lượt là sarolaner - 94,7%,
afoxolaner - 90,8% và Imidacloprid + permethrin - 80,1%.
Dongus H. và cs. (2017) đã nghiên cứu ảnh hưởng của việc tắm trước và sau
khi sử dụng bravecto (fluralaner) để điều trị bệnh ve do R. sanguineus cho chó.
Nghiên cứu được thực hiện bằng việc tắm cho chó trước khi dùng thuốc 1 giờ, sau
dùng thuốc 12 và 24 giờ. Sau 7 ngày tiến hành gây nhiễm ve cho chó; 24h sau kiểm
tra lại, kết quả cho thấy việc tắm trước và sau khi dùng thuốc cho chó không gây

* Công dụng: Ngăn ngừa và điều trị bọ chét và ve trên chó, mèo với tác dụng kéo
dài 4 tháng.
* Cách dùng:
- Sử dụng cho chó mèo từ 8 tuần tuổi trở lên.
- Cách đeo vòng: Lấy vòng ra khỏi bao, buộc vòng đeo quanh cổ chó (mèo)
rồi điều chỉnh cho vừa vặn, thoải mái và cắt bỏ phần thừa của vòng. Trường hợp
đeo cho chó mèo đang lớn, nên dự trù nới vòng cho phù hợp.
- Để bảo vệ thú liên tục, nên thay vòng 4 tháng một lần. Vòng cổ nên được
đeo thường xuyên và không bị ảnh hưởng của nước hay độ ẩm. Tuy nhiên nên tháo
vòng mỗi khi tắm chó.
c. Điều trị bệnh ve chó bằng Hantox Spray
Hantox-Spray chứa pyrethroid là một hợp chất hữu cơ tương tự như
pyrethrins tự nhiên được chiết xuất từ cây họ Cúc.
* Công thức hóa học của pyrethrins



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status