BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
---------------------------
NGUYỄN THỊ QUỲNH MAI
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI HỌC
CỦA LOÀI RÂU HÙM HOA TÍA (TACCA CHANTRIERI
ANDRE, 1901) Ở TRẠM ĐA DẠNG SINH HỌC MÊ LINH
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60 42 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Hà Minh Tâm
HÀ NỘI, 2015
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã nhận đƣợc sự chỉ bảo giúp đỡ
nhiệt tình, quý báu của các thầy cô, gia đình và bạn bè.
Qua đây tôi xin trân trọng bày tỏ lòng kính trọng, biết ơn sâu sắc tới
Ts.Hà Minh Tâm ngƣời đã hƣớng dẫn nhiệt tình, cung cấp kiến thức và
phƣơng pháp, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình thực hiện
luận văn.
Đặc biệt xin chân thành cảm ơn ban Lãnh đạo, cán bộ và các anh chị
em tại Trạm Đa Dạng Sinh Học Mê Linh, đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá
trình điều tra thu thập số liệu, tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn một
cách tốt nhất,…
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, các cán bộ phòng sau đại
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ........................................................... 3
1.1. Ảnh hƣởng của một số nhân tố sinh thái tới khả năng sinh trƣởng và phát
triển của thực vật ............................................................................................... 3
1.1.1. Ảnh hƣởng của nhiệt độ .......................................................................... 3
1.1.2. Ảnh hƣởng của ánh sáng ......................................................................... 5
1.1.3. Ảnh hƣởng của nƣớc và độ ẩm ............................................................... 6
1.1.4. Ảnh hƣởng của đất .................................................................................. 9
1.1.5. Ảnh hƣởng của phân bón ...................................................................... 11
1.2. Các công trình nghiên cứu về loài Râu hùm hoa tía (Tacca chantrieri
Andre, 1901) trên thế giới và ở Việt Nam ...................................................... 13
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .............. 16
2. 1. Đối tƣợng nghiên cứu.............................................................................. 16
2. 2. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................. 16
2. 3. Thời gian nghiên cứu .............................................................................. 21
2. 4. Nội dung nghiên cứu ............................................................................... 21
2. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu......................................................................... 21
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................ 24
3.1. Đặc điểm phân loại loài Râu hùm hoa tía ở Việt Nam ............................ 24
3.1.1 Danh pháp và vị trí phân loại ................................................................. 24
3.1.2. Đặc điểm hình thái ................................................................................ 24
3.1.3 Phân bố và sinh thái ............................................................................... 28
3.1.4 Giá trị tài nguyên .................................................................................... 29
3.2. Ảnh hƣởng của một số nhân tố sinh thái đến khả năng sinh trƣởng và phát
triển.................................................................................................................. 30
3.2.1. Khả năng sinh trƣởng và phát triển của các cá thể hoang dại............... 30
3.2.2. Ảnh hƣởng của phân bón đến các cá thể đƣợc trồng ............................ 31
3.2.2.1 Ảnh hƣởng của phân bón đến tỉ lệ sống của cá thể............................. 31
3.2.2.2 Ảnh hƣởng của phân bón đến khối lƣợng củ ...................................... 33
Ảnh 3.5. Quả và hạt......................................................................................... 28
1
MỞ ĐẦU
Lí do chọn đề tài:
Việt Nam là nƣớc có hệ thực vật rất phong phú và đa dạng, số lƣợng
các loài đƣợc dùng làm thuốc tuy lớn nhƣng chủ yếu là cây hoang dại, phân
bố rải rác và trữ lƣợng nhỏ, khả năng khai thác ngoài tự nhiên ngày một ít.
Trong khi đó, nhu cầu sử dụng dƣợc liệu thực vật ngày càng tăng, vƣợt quá
khả năng tự tái sinh, cho nên, nếu không chủ động trồng trọt thì nguy cơ
tuyệt chủng các loài này là rất lớn.
Râu hùm hoa tía (Tacca chantrieri Andre, 1901) là cây thân thảo sống
lâu năm. Do có chứa một số hoạt chất sinh học có tác dụng thanh nhiệt, chống
viêm, chỉ thống, lƣơng huyết, tán ứ... Cho nên loài này đƣợc thu hái nhiều ở
các tỉnh miền núi để làm thuốc trong dân gian. Cho đến nay, ở nƣớc ta chƣa
có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện về các đặc điểm sinh
học, sinh thái, trữ lƣợng cũng nhƣ nhân giống, gây trồng loài này ở Việt Nam.
Từ thực tế nêu trên, tôi đã chọn đề tài: Nghiên cứu một số đặc điểm
sinh thái học của loài Râu hùm hoa tía (Tacca chantrieri Andre, 1901) ở
Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh.
Mục tiêu của đề tài: Đánh giá ảnh hƣởng của một số nhân tố sinh thái
đến khả năng sinh trƣởng và phát triển của loài Râu hùm hoa tía trong điều
kiện trồng tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh, nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu
cho việc bảo tồn và phát triển nguồn nguyên liệu cây thuốc ở Việt Nam.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:
Ý nghĩa khoa học: Góp phần bổ sung vốn kiến thức cho chuyên ngành
Sinh thái học và là cơ sở khoa học cho những nghiên cứu về tài nguyên thực
vật, đa dạng sinh học và trong y - dƣợc học,....
ngừng sinh trƣởng. Giới hạn nhiệt độ sinh trƣởng thay đổi theo sự thích nghi
của cây trồng ở những vùng sinh thái khác nhau.
Sinh trƣởng của các cơ quan khác nhau của cây cũng nằm trong khoảng
nhiệt độ khác nhau. Những cơ quan ở trên mặt đất thích nghi với nhiệt độ
không khí cao hơn so với những cơ quan ở dƣới mặt đất, vì vậy ở nhiệt độ cao
sự sinh trƣởng của rễ kém hơn thân và cành. Nhiệt độ của đất cao làm tăng
tốc độ hút nƣớc của rễ và làm tăng áp lực của rễ [15].
Sự chênh lệch nhiệt độ giữa ban ngày và ban đêm có ảnh hƣởng rất lớn
đến sự sinh trƣởng của cây. Ban ngày nhiệt độ cao thuận lợi cho cây quang
hợp và tích lũy chất hữu cơ, ban đêm nhiệt độ hạ thấp sẽ hạn chế hô hấp và
tiêu phí chất hữu cơ, giảm sự thoát hơi nƣớc nên sinh trƣởng nhanh hơn.
Nhiệt độ còn ảnh hƣởng tới sự phát tán của hạt [15].
Nhiệt độ ảnh hƣởng đến hình thái giải phẫu, đến sinh lý và từng giai đoạn
phát triển cá thể thực vật:
- Nhiệt độ ảnh hƣởng tới hình thái giải phẫu của lá, sự biến đổi mầu của
4
rễ, độ dày vỏ thân, lóp cutin ở lá, sự rụng lá, tán lá…Tùy theo nơi sống có
nhiệt độ cao hay thấp mà cây hình thành nên những bộ phận bảo vệ. Ở những
nơi đất trống trải, cƣờng độ ánh sáng mạnh và nhiệt dộ cao cây thích nghi
theo hƣớng chống nóng và chống thoát hơi nƣớc.
- Nhiệt độ ảnh hƣởng đến hoạt động sinh lý của thực vật gồm quang
hợp, hô hấp, thoát hơi nƣớc, sự hình thành và hoạt động của diệp lục.
- Nhiệt độ ảnh hƣởng tới các giai đoạn phát triển của cá thể thực vật
nhƣ thời kì hạt nảy mầm, ra hoa, quả chín. Khả năng chịu đựng nhiệt độ bất
lợi của các cơ quan khác nhau là khác nhau, lá cây là cơ quan tiếp xúc với
không khí nên nó chịu đựng sự thay đổi về nhiệt độ lớn nhất [15].
Nhiệt độ là yếu tố quan trọng quyết định đến sự phân bố của các loài
mạnh, tích lũy vật chất nhanh. Cƣờng độ ánh sáng ở trong nƣớc giảm theo cấp
số nhân 2, 4,8 trong khi độ sâu tăng 1, 2, 3 lần [16].
Ánh sáng ảnh hƣởng đến sự nảy mầm của hạt, có loại cần ánh sáng khi
nảy mầm (phi lao,thuốc lá, lúa...) và loại không cần ánh sáng (cà độc dƣợc).
Ánh sáng còn ảnh hƣởng đến hình thái cây, thể hiện ở tính hƣớng sáng,
khả năng tăng trƣởng chiều cao, hình thái loại cây, vỏ thân, sự phân cành, tán
lá, số cành, góc tạo bởi giữa thân và cành...
Với lá cây ánh sáng ảnh hƣởng tới sự sắp xếp lá, để tiếp nhận đƣợc ánh
sáng nhiều nhất. Cây sinh trƣởng trong điều kiện ánh sáng yếu thì lƣợng diệp
lục trong lá cao hơn cây ở nơi có ánh sáng mạnh để tăng cƣờng tiếp nhận ánh
sáng, quang hợp, tạo chất hữu cơ [18].
Tùy theo nhu cầu ánh sáng đối với sự sinh trƣởng của cây mà ngƣời ta
chia thực vật thành hai nhóm là cây ƣa sáng và cây ƣa bóng. Cây ƣa sáng sinh
trƣởng mạnh trong điều kiện ánh sáng đầy đủ, còn cây ƣa bóng sinh trƣởng
6
tốt trong điều kiện bóng râm thích hợp. Ðại bộ phận cây trồng ở nƣớc ta là
cây ƣa sáng nhƣ lúa, ngô, khoai, sắn, mía, bông.... Còn những cây ƣa bóng
thƣờng phân bố dƣới tán cây rừng, dƣới tán cây ăn quả lâu năm, chúng sử
dụng chủ yếu ánh sáng tán xạ để quang hợp [18].
Đối với các loài hoa, nếu thiếu ánh sáng cây sẽ chậm lớn, lá xanh nhạt,
mềm yếu, nếu trong điều kiện thừa sáng lá cây chuyển màu xanh vàng, cây
kém phát triển [16].
Ánh sáng tác động trực tiếp đến sự sinh trƣởng của tế bào. Cƣờng độ
ánh sáng mạnh ức chế pha giãn của tế bào làm cho giai đoạn này kết thúc sớm
hơn nên cây ở nơi có ánh sáng chiếu mạnh thƣờng có chiều cao cây thấp. Còn
trong bóng tối hoặc bóng dâm giai đoạn giãn kéo dài hơn, cây vƣơn dài và
gây ra hiện tƣợng “vống”.
nƣớc đạt 50-60% lƣợng nƣớc bão hòa thì sự sinh trƣởng lại phục hồi và hạt
nảy mầm. Trong quá trình sinh trƣởng của cây, ở giai đoạn giãn của tế bào
nƣớc đóng vai trò vô cùng quan trọng. Trong đời sống của cây, thiếu nƣớc ở
giai đoạn nào cũng ảnh hƣởng đến sinh trƣởng, nhƣng trong pha lớn lên của tế
bào nếu thiếu nƣớc thì sự sinh trƣởng bị kìm hãm mạnh [15].
Nƣớc là dung môi: Rất nhiều chất trong môi trƣờng phải tan trong nƣớc
mới xâm nhập đƣợc vào cây tất cả các phản ứng hoá học trong cây đều phải
tiến hành ở trạng thái tan trong nƣớc. Khi cây hút nƣớc ít thì đạm, kim... hút
vào cũng giảm. Đại bộ phận nƣớc trong cây đƣợc thoát ra ngoài qua lá, sự lƣu
thông này của nƣớc càng nhiều thì hoạt động sinh lý càng mạnh [16].
Ẩm độ của không khí và ẩm độ đất ảnh hƣởng nhiều đến sự sinh trƣởng và
phát triển của cây. Ẩm độ thích hợp thì cây hoa sinh trƣởng, phát triển tốt, ít
sâu bệnh, ra hoa đẹp, chất lƣợng cao [16].
Nƣớc điều tiết nhiệt trong cây khi cây thoát hơi nƣớc làm mất nhiệt
lƣợng trong cây do đó nƣớc điều hoà nhiệt lƣợng cho cây khi trời nắng nóng.
8
Nƣớc đóng vai trò rất quan trọng trong cơ thể thực vật, trong phân chia tếbào,
trong duy trì và phát triển của tế bào. Khi có đầy đủ nƣớc và môi trƣờng thích
hợp, tế bào phân chia và phát triển thuận lợi, cây sinh trƣởng nhanh. Khi thiếu
nƣớc, các quá trình sinh lý, sinh hoá trong cây hoa giảm, các hợp chất hữu cơ
đƣợc tạo thành ít, cây còi cọc, chậm phát triển. Nếu quá trình thiếu nƣớc kéo
dài cây hoa sẽ bị héo, khô và chết [16].
Sự phân bố nƣớc không đồng đều trên cạn đã tạo ra các nhóm thực vật có
những đặc điểm thích nghi khác nhau với chế độ nƣớc. Tính chất giới hạn của
nƣớc cùng với các tính chất khác nhƣ giải phẫu, sinh lý - sinh thái của thực
vật là cơ sở phân chia các nhóm thực vật, có 5 nhóm thực vật: Cây ở nƣớc,
cây ngập nƣớc định kỳ, cây ƣa ẩm, cây chịu hạn, cây trung sinh [15].
rễ ở trong đất. Ảnh hƣởng có tính quyết định của đất là sự phân tầng, cấu
trúc và thành phần của đất.
Trong các thành phần đất, nƣớc và cây trồng của hệ sinh thái nông
nghiệp, đất là thành phần khó thay đổi nhất, nƣớc là thành phần có thể thay
đổi một phần và cây trồng thì con ngƣời có thể thay đổi dễ dàng. Sự lƣu giữ
nƣớc trong đất cho cây trồng tuỳ thuộc vào thành phần hạt đất, đất có độ rỗng
càng cao thì khả năng trữ nƣớc càng kém do dễ dàng bị tiêu thoát nhƣ trƣờng
hợp đất cát. Đất sét thƣờng giữ nƣớc tốt nhƣng tiêu thoát kém. Đất thịt là loại
đất pha trộn giữa đất bùn và đất cát tỏ ra thích hợp cho nhiều loại cây trồng
nhờ khả năng cung cấp nƣớc thuận lợi.
Các chất khoáng trong đất và độ pH ở dạng hòa tan hay liên kết, có
loại đa lƣợng, cây cần nhiều, nhƣ C, H, O, N, S, P, …; có loại vi lƣợng, đó
là những loại mà cây cần ít, nhƣng nếu thiếu chúng thì thực vật sinh
trƣởng và phát triển sẽ không bình thƣờng, gồm các nguyên tố Mn, Cu, Zn,
10
Bo, Mo,... Độ pH ảnh hƣởng lên cấu trúc của đất, quá trình phong hoá, mùn
hoá và từ đó ảnh hƣởng đến sinh vật.
Chế độ ẩm, độ thông khí và nhiệt độ cùng với cấu trúc của lớp đất
mặt đã ảnh hƣởng đến sự phân bố các loại cây và hệ rễ của chúng. Hệ rễ của
những cây gỗ ở những vùng bị đóng băng phân bố nông và rộng. Những
nơi không có sự đóng băng thì hệ rễ vừa ăn sâu và phát triển nhiều rễ ở lớp
đất mặt để hút các chất. Ở vùng núi đá vôi, do thiếu chất dinh dƣỡng và thể
nền rất cứng, nên rễ các cây gỗ đã len lỏi vào các khe hở, vách đá, hay ôm
chặt lấy các tảng đá lớn. Các rễ này tiết ra axit hòa tan đá vôi để lấy một phần
chất khoáng.[15].
Thực tế, đất trồng trọt thƣờng pha lẫn nhiều kích thƣớc hạt khác nhau.
Trong thổ nhƣỡng, ngƣời ta phân loại đất theo tỉ lệ phần trăm (%) thành phần
1.1.5. Ảnh hƣởng của phân bón
Năng suất cây trồng nói chung phụ thuộc vào tác dụng tổng hợp của 4
yếu tố ánh sáng, nhiệt độ, nƣớc và dinh dƣỡng. Trong điều kiện sản xuất, việc
điều khiển các yếu tố nƣớc và dinh dƣỡng dễ hơn nhiều các yếu tố khác, trong
đó điều chỉnh dinh dƣỡng là yếu tố quan trọng để nâng cao năng suất, chất
lƣợng và sức chống chịu của cây trồng. Nhiều kết quả nghiên cứu đã cho thấy
rằng: mức tăng năng suất cây trồng có mối quan hệ rất chặt chẽ với số lƣợng,
chủng loại và cách sử dụng các loại phân bón trong canh tác [16].
Đối với cây trồng phân bón cung cấp các chất dinh dƣỡng cần thiết cho
cây trồng sinh trƣởng phát triển. Nếu chỉ lấy từ đất thì cây trồng hoàn toàn
không đủ chất dinh dƣỡng mà phải lấy thêm phần lớn từ phân bón. Phân bón
chính là thức ăn nuôi sống cây trồng. Điều tra tổng kết ở khắp nơi trên thế
giới đều cho thấy trong số các biện pháp kỹ thuật trồng trọt, bón phân luôn là
biện pháp có ảnh hƣởng lớn nhất đến năng suất cây trồng.
12
Đối với đất và môi trƣờng: Bón phân làm tăng độ phì nhiêu cho đất, đất
tốt hơn, cân đối hơn, đặc biệt phân hữu cơ và vôi là biện pháp cải tạo đất rất
hữu hiệu. Ở những đất có độ phì nhiêu tự nhiên ban đầu thấp, tức là đất xấu
thì việc bón phân càng có tác dụng rõ. Việc sử dụng các chất phế thải trong
các hoạt động đời sống vủa ngƣời và động vật, chất phế thải của công nghiệp
để làm phân bón góp phần hạn chế các tác nhân gây ô nhiễm môi trƣờng.
Đối với hệ thống biện pháp kỹ thuật trồng trọt: Sử dụng phân bón có
liên quan đến hiệu lực của các biện pháp kỹ thuật khác. Ví dụ:sử dụng giống
mới cần kết hợp với bón phân hợp lý và đầy đủ. Ngƣợc lại, các biện pháp kỹ
thuật khác cũng ảnh hƣởng đến hiệu lực của phân bón. Ví dụ: Chế độ nƣớc
không thích hợp hoặc kỹ thuật làm đất kém có thể làm giảm 10-20% hiệu lực
phân bón. Do làm tăng năng suất và chất lƣợng nông sản nên sử dụng phân
mô tả, cung cấp thông tin về phân bố, sinh thái và giá trị sử dụng loài Râu
hùm hoa tía ở ở Thái Lan; Lemmens & Bunyapraphatsara (2003) [29] cung
cấp một số thông tin về phân bố, sinh thái và giá trị sử dụng ở khu vực Đông
Nam Á…
Ở Việt Nam, các công trình đề cập đến đặc điểm sinh thái học cá thể
loài Râu hùm hoa tía chủ yếu là các công trình nghiên cứu về cây thuốc, nhƣ:
Chu Tiên biên soạn cuốn sách “Bản thảo cương mục toàn yếu” là cuốn sách
đầu tiên, xuất bản năm 1429; Tuệ Tĩnh, tên thực là Nguyễn Bá Tĩnh (vào thế
kỷ XIV) đã biên soạn bộ “Nam dược thần hiệu” gồm 11 quyển với 496 vị
thuốc nam, trong đó có 241 vị thuốc có nguồn gốc thực vật,…[19].
Năm 1980, Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chƣơng đã giới thiệu 519 loài cây
thuốc, trong đó có 150 loài mới phát hiện trong “Sổ tay cây thuốc Việt
Nam”,…[20].
14
Viện Dƣợc liệu cùng với hệ thống trạm nghiên cứu dƣợc liệu, điều tra ở
2.795 xã, phƣờng, thuộc 351 huyện, thị xã của 47 tỉnh, thành phố trong cả
nƣớc, đã có những đóng góp đáng kể trong các điều tra sƣu tầm nguồn tài
nguyên cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc trong Y học cổ truyền
dân gian. Kết quả đƣợc đúc kết trong “Danh lục cây thuốc miền Bắc Việt
Nam”, “Danh lục cây thuốc Việt Nam”, tập “Atlas (bản đồ) cây thuốc”,…
[21].
Năm 1976, trong luận văn PTS. khoa học của mình, Võ Văn Chi đã
thống kê 1.360 loài cây thuốc thuộc 192 họ trong ngành hạt kín ở miền Bắc.
Năm 1997, ông đã biên soạn và xuất bản “Từ điển cây thuốc Việt Nam”,
trong đó có đề cập tới 3.165 loài. Đến năm 2012, trong cuốn “Từ điển cây
thuốc Việt Nam” (tái bản từ bộ sách cùng tên công bố năm 1997), tác giả đã
giới thiệu 4.472 loài cây làm thuốc thuộc 1.862 chi, trong 338 họ, của 9 nhóm
Các công trình nêu trên đã cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng cho việc nghiên
cứu về loài Râu hùm hoa tía và các hƣớng nghiên cứu có liên quan.
Nhƣ vậy, công trình Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái học của loài
Râu hùm hoa tía (Tacca chantrieri Andre, 1901) ở Trạm Đa dạng sinh học
Mê Linh của chúng tôi là công trình nghiên cứu đầy đủ nhất về đặc điểm sinh
thái học loài này ở Việt Nam.
16
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2. 1. Đối tƣợng nghiên cứu
Tài liệu: Các tài liệu về loài Râu hùm hoa tía (Tacca chantrieri Andre,
1901), nhất là các chuyên khảo về sinh trƣởng, phát triển và môi trƣờng sống.
Mẫu vật: Các cá thể thuộc loài Râu hùm hoa tía đƣợc trồng tại Trạm Đa
dạng sinh học Mê Linh; các cá thể và quần thể thuộc loài Râu hùm hoa tía
trong quá trình điều tra thực địa.
Hình 2.1: Bản đồ thị xã Phúc Yên và vị trí Trạm ĐDSH Mê Linh – Vĩnh Phúc
2. 2. Phạm vi nghiên cứu
Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc và
các vùng phụ cận của Vƣờn quốc gia Tam Đảo, có Đặc điểm tự nhiên và xã
hội nhƣ sau: (theo Vũ Xuân Phƣơng & al. 2001 [16])
17
Điều kiện tự nhiên: Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh là vùng đệm của
Vƣờn quốc gia Tam Đảo ở khu vực xã Ngọc Thanh, toạ độ 21023′57-21025′35
- Lƣợng mƣa bình quân năm: 1358,7 mm. Mùa mƣa từ tháng 4 đến
tháng 10, chiếm 90% lƣợng mƣa cả năm. Mƣa tập trung vào các
tháng 6-9 (cao nhất là vào tháng 8).
- Số ngày mƣa: 142,5 ngày/năm
- Lƣợng mƣa cực đại trong ngày: 284 mm
- Độ ẩm trung bình: 83 %
- Độ ẩm cực tiểu (thấp nhất): 14 %
Lƣợng bốc hơi: 1040,1 mm
Thuỷ văn: Khu vực nghiên cứu có một suối nhỏ nƣớc chảy quanh năm
bắt nguồn từ điểm cực Bắc, chảy dọc biên giới phía Tây giáp với Vƣờn quốc
gia Tam Đảo và gặp suối Thanh Lộc đổ vào hồ Đại Lải. Ngoài ra còn có một
số suối cạn ngắn chỉ có nƣớc sau những trận mƣa.
Điều kiện kinh tế - xã hội: Khu vực nghiên cứu nằm trên địa bàn xã
Ngọc Thanh với diện tích đất lâm nghiệp chiếm 51,8% tổng diện tích tự nhiên
của toàn xã. Mật độ dân số của xã là 139 ngƣời/km2, dân tộc kinh chiếm 53%,
dân tộc thiểu số chiếm 47%. Thu nhập bình quân đầu ngƣời của xã là 3 triệu
đồng/ngƣời/năm.
Trong khu vực nghiên cứu không có ngƣời dân sinh sống, tuy nhiên do
tập quán của ngƣời dân quanh vùng nên rừng trong khu vực nghiên cứu vẫn
chịu những tác động tiêu cực nhƣ: Thả gia súc sau mùa vụ, lấy củi, lấy măng
và khai thác lâm sản ngoài gỗ.
Những năm gần đây do có sự đổi mới các chính sách về kinh tế, xã hội
của Nhà nƣớc nên đã có những tác động tích cực đến đời sống của nhân