luận văn sư phạm chuyên ngành sinh học Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng của Cóc Vàng (Lumnitzera racemosa Willd.) ở xã Giao Lạc Giao Thủy Nam Định - Pdf 24

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khoa Sinh học
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Rừng ngập mặn (RNM) (Mangrove) là một hệ sinh thái phong phú và đa
dạng, có năng suất cao, ở vùng cửa sông ven biển. Ở các nước nhiệt đới, nơi có
khí hậu nóng ẩm, đất ngập nước thường xuyên, giàu mùn, phù sa và chịu ảnh
hưởng của thủy triều lên xuống hàng ngày, rừng phát triển mạnh mẽ vào có ý
nghĩa vô cùng quan trọng cả về môi trường lẫn kinh tế. RNM không chỉ là nguồn
cung cấp các lâm sản có giá trị như gỗ, than, củi, dược liệu, tanin mà còn là
nguồn thức ăn, là nơi sống, nơi sinh sản của nhiều loài động vật: tôm, cua, chim
nước, ong RNM còn là nơi du lịch sinh thái có tiềm năng lớn, góp phần phát
triển kinh tế- xã hội.
Bản thân cây rừng ngập mặn đã là một trong các dạng tài nguyên thiên nhiên
có khả năng tái tạo, với sự quần tụ của bao loài sinh vật khác, từ những loài
động vật không xương sống kích thước nhỏ đến những loài động vật có xương
sống kích thước lớn, từ những loài sống trong nước biển đến những sinh vật sống
trên cạn. Điều đó nói lên rằng, RNM không chỉ là nơi cư trú mà còn là nơi cung
cấp nguồn dinh dưỡng, hỗ trợ cho sự tồn tại và phát triển phong phú của các
quần thể sinh vật ven cửa sông ven biển, nơi " ương ấp" những cơ thể non của
nhiều loài sinh vật biển, nơi duy trì đa dạng sinh học cho biển (Mohamed & Rao,
1971; Frusher, 1983) [38].
Rừng ngập mặn là " bức tường xanh" có tác dụng to lớn trong việc bảo vệ bờ
biển, bờ sông, điều hòa khí hậu, hạn chế xói lở, mở rộng diện tích lục địa, hạn
chế sự xâm nhập mặn, bảo vệ đê điều, đồng ruộng nơi sống của người dân ven
biển trước sự tàn phá của gió bão, nước biển dâng.
Từ những năm 1960 người ta đã công nhận vai trò hết sức quan trọng của
RNM đóng góp vào năng suất vùng cửa sông, ven biển, một trong hệ sinh thái có
năng suất sinh học cao nhất. Những chỉ tiêu về sinh khối và năng suất sơ cấp
RNM nói lên vai trò quan trọng của sinh vật sản xuất trong lưới thức và chuỗi
thức ăn vùng cửa sông ven biển thông qua dòng năng lượng xác hữu cơ thực vật,
đặc biệt là chức năng của RNM liên quan đến tài nguyên thủy sản (Sơ đồ chức

nghi với môi trường đất lầy mặn được xem như nguồn gen chịu mặn quý, giúp
cải tạo đất lầy. Trong đó, Cóc Vàng ( Lumnitzare racemosa Willd.) được xem là
một trong các loài cây ngập mặn như vậy. Cóc Vàng ( Lumnitzare racemosa
Khóa luận tốt nghiệp 2 Trần Thị Quỳnh Trang
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khoa Sinh học
Willd.) phân bố chủ yếu ở các cây rừng ngập mặn trong miền Nam, Phan
Nguyên Hồng (1990) cho rằng loài Cóc Vàng là loài chịu được độ mặn cao trung
bình từ 15-30‰. Về tần suất ngập triều và độ thành thục đất thì loài Lumnitzare
racemosa Willd. phân bố ở mức ngập triều từ 3,5m ( Phan Nguyên Hồng " Vai
trò của rừng ngập mặn Việt Nam- Kỹ thuật trồng rừng" (1997) [4] , trên vùng đất
bán thuần thục đến gần thuần thục. ( Quần xã Cóc Vàng ( Lumnitzare racemosa
Willd.), Dà vôi ( C.tagal) thường xuyên mọc trên bãi bồi cao, đất tương đối chặt,
và ngập nước triều không thường xuyên).
Có nghĩa là loài này có thể sinh trưởng trên cả vùng đất mới bị hoang hóa,
thành phần dinh dưỡng nghèo, cấp hạt đất chủ yếu là hạt cát (thể nền bùn cát).
Cho đến nay những nghiên cứu về loài cây này còn rất ít, miền Bắc hầu như chưa
có. Để góp phần nghiên cứu khả năng sinh trưởng của loài này khi đưa từ miền
Nam ra trồng ở Giao Thủy-Nam Định và nhằm nâng cao hiệu quả rừng trồng
đóng góp vào đa dạng quần xã của RNM của miền Bắc, chúng tôi chọn đề tài
"Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng của Cóc Vàng (Lumnitzera racemosa
Willd.) ở xã Giao Lạc- Giao Thủy- Nam Định"
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng của cây Cóc Vàng ở các độ
tuổi1,5,8,12 tuổi đóng góp sự hiểu biết thêm về đặc điểm sinh học, sinh thái của
cây. Phục vụ cho việc trồng và khôi phục RNM có hiệu quả, nâng cao đa dạng
sinh học của hệ sinh thái vùng ven biển.
Nghiên cứu ảnh hưởng của thể nền đến cây Cóc Vàng qua đó xác định điều
kiện thể nền thích hợp cho sự tái sinh của cây ở giai đoạn còn non.
Nghiên cứu sự biến động sinh khối cá thể và quần thể qua các độ tuổi của cây
làm cơ sở khoa học cho việc khai thác, sử rụng hợp lí nguồn tài nguyên RNM

3.4.3.1: Nghiên cứu diệp lục trên lá ở khu vực mọc thưa trong bóng
3.4.3.2: Nghiên cứu diệp lục trên lá ở khu vực mọc thưa ngoài sáng
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Nghiên cứu về sinh trưởng của cây RNM
Khóa luận tốt nghiệp 5 Trần Thị Quỳnh Trang
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khoa Sinh học
1.1.1. Trên thế giới
Là một lĩnh vực khá rộng được đề cập tương đối nhiều trong các công trình
nghiên cứu của tác giả trên thế giới.
Công trình nghiên cứu về cây ngập mặn có hệ thống và tương đối hoàn chỉnh
của Gollay, Odum và Wilson tiến hành tại Puerto Rico từ năm 1958 (theo Hoàng
Thị Hà (2000) [2] . Khi nghiên cứu tăng trưởng, hầu hết các tác giả đều đặt trong
mối liên quan với các nhân tố sinh thái như: độ mặn, nhiệt độ, chất nền,
Walter và Steiner (1936) (theo Phan Nguyên Hồng, 1999 ) [10]. Khi nghiên
cứu sự phát triển của cây con trong họ đước ( Rhizophoraceae) cho rằng chúng
duy trì nồng độ muối thấp hơn cây mẹ, đặc biệt là lá. Điều này được giải thích
như một cơ chế bảo vệ phôi.
Năm 1959, Steru và Voigh , (theo Hoàng Thị Hà, 2000) [2] tiến hành nghiên
cứu độ mặn của môi trường đến sinh trưởng của cây đâng đã kết luận cây sinh
trưởng tốt ở độ mặn tương đối với độ mặn nước biển.
Schorlander (1962-1966) , (theo L.T.V. Lan, 1998 ) [14] cũng công bố về
công trình nghiên cứu sinh trưởng của cây đâng ( Rhizophora stylosa BL) ở độ
mặn trung bình (½ độ mặn nước biển) và ở độ mặn này cây sinh trưởng tốt nhất.
Macne (1986) khi nghiên cứu ở Queensland thuộc Australia cho rằng trên bãi
lầy có lầy có lượng phù sa ít, nghèo chất dinh dưỡng có nguồn gốc từ đá vôi,
quặng thì rừng ngập mặn thấp và cằn cỗi (theo L.V. Lan, 1998) [14].
Năm 1969, Connor [36] công bố công trình nghiên cứu sinh trưởng của cây
mắm biển trong dung dịch có độ mặn khác nhau và đưa ra nhận xét: cây mắm có
khả năng sống ở độ mănk cao nhưng không sinh trưởng tốt ở ½ độ mặn nước
biển (theo Hoàng Thị Hà, 2000 ) [2].

Nguyễn Đức Tuấn (1995) [31] nghiên cứu tăng trưởng của cây đâng trồng ở
Hà Tĩnh thấy điều kiện tự nhiên ở khu vực nghiên cứu có ảnh hưởng thuận lợi
cho quá trình sinh trưởng nên chỉ tiêu sinh trưởng chiều cao nhanh.
1.2. Nghiên cứu sinh khối cây RNM
Khóa luận tốt nghiệp 7 Trần Thị Quỳnh Trang
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khoa Sinh học
Sinh khối là tổng lượng chất hữu cơ có được trên một đơn vị diện tích tại một
thời điểm theo trọng lượng khô, được tính bằng tấn trên ha. Sinh khối gồm tổng
lượng trọng lượng khô của thân, cành, lá, hoa, quả, rễ trên và dưới mặt đất.
Nghiên cứu sinh khối rừng ngập mặn có ý nghĩa rất lớn trong việc đánh giá năng
suất, chất lượng, quản lí và sử dụng rừng ngập mặn. Đã có rất nhiều công trình
của các tác giả khác nhau nghiên cứu về sinh khối tại nhiều vùng trên thế giới.
1.2.1. Trên thế giới
Golley.F.B và cộng sự (1962) đã nghiên cứu sinh khối rừng ngập mặn tự
nhiên ở Peuto Pico với đối tượng cây đước đỏ (Rhizophra mangle (L.), Druce) và
đến năm 1975 Ong và cộng sự nghiên cứu sinh khối (Rhizophora brevistyla L.) ở
Panama.
Ở châu Á, Aksornkoae.S. và cộng sự [41] nghiên cứu sinh khối rừng đước
(Rhizophora apiculata(L.), Druce) cao nhất với 710.9 tấn/ha, vẹt dù ( Bruguiera
gymnorrhiza(L) Lam) là 243.575 tấn/ha thấp nhất là Xylocarpus chỉ có 20,1
tấn/ha.
Với đối tượng rừng trồng, Akasornkoae. S, (1982) [22] đã nghiên cứu rừng
đước (Rhizophora apiculata BL) ở giai đoạn 6 tuổi cho 50 tấn/ha ở 10 tuổi là
103,13 tấn/ha, ở 15 tuổi là 206.25 tấn/ha nghiên cứu tiến hành tại Chanthaburi.
Hiroyuki. T và cs (2000) [41] đã nghiên cứu sinh khối trên mặt đất của rừng
ngập mặn ở Matang, Malaysia có kết quả là 316 tấn/ha cao nhất là 558 tấn/ha ở
ven sông thấp nhất là 144 tấn/ha ở nơi gần đất liền.
Hầu hết các tác giả đều tập trung nghiên cứu sinh khối trên mặt đất và cho
thấy sinh khối trên mặt đất phụ thuộc vào lập địa, loài cây, chịu ảnh hưởng của
tuổi rừng, lịch sử và hình thái (Lugo.A.E và Snedaker và cs, 1974, thành phần

2
để tính sinh khối của
Rhizophora apiculata trong một số loại rừng nguyên sinh ( phần trên và phần
dưới mặt đất) là 263.069,88 kg/ha, rừng tái sinh tự nhiên là 35143.76 kg/ha, rừng
trồng là 34858.62 kg/ha, sinh khối các phần trên mặt đất của rừng đước trồng
được 10 năm là 91421.03- 98773.10 kg/ha.
Năm 1992 [29] , khi nghiên cứu sinh trưởng cây mắm (Avicennia marina
L.), tác giả Mai Sỹ Tuấn đã dựa vào mới quan hệ giữa bình phương đường kính
nhân chiều cao ( D
2
H) và trọng lượng khô của thân (W
s
), cành (W
B
), lá (W
L
), rễ
(W
R
) đã cho thấy, mặc dù cây trồng trong các điều kiện độ mặn khác nhau, cây
còn nhỏ dưới 1 tuổi nhưng quá trình sinh trưởng của tất cả các cây đều thỏa mãn
phương trình hồi quy dạng:
W
S
= X
B
1/W
L
= A/D
2

Họ sim: Myrtales
Lớp Ngọc Lan: Magnoliopsida
Cây gỗ nhỡ, cao 3-12m với đường kính khoảng 0,3m, không lông, thân nhiều
mấu, nhánh thấp, vỏ ngoài màu nâu, gỗ màu vàng
Lá đơn, mọc cách, phiến hình muỗng, chân hình nêm, đầu tròn, bìa có răng
nhỏ, gân không rõ, dày cứng.
Hoa đơn tính, trắng nhỏ, ở nách và ngọn, có 5 cánh hoa, 5 đài hoa, 10 tiểu
nhị dài bằng nhau, lá bắc rụng sớm. Hoa có đĩa mật, thụ phấn nhờ sâu bọ. Quả
tròn, dài, cây ra hoa vào đầu hè
Là cây ưa sáng, kém chịu nước mặn và kém chịu ngập nước, mọc trên bùn
cát chặt. Hệ rễ khỏe, có khả năng đâm sâu vào lớp mùn dày, có tác dụng bảo vệ
đất. Phân bố ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam, nhiều nhất ở Sóc Trăng, Bạc Liêu.
2.2. Thời gian nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành các thí nghiệm theo dõi từ tháng 8/2013 đến tháng
1/2014. Thời gian thu thập số liệu hàng tháng vào các ngày từ 21 đến 28.
Các ô thí nghiệm đặt ở vườn thực nghiệm trung tâm nghiên cứu rừng ngập
mặn xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
2.3. Đặc điểm khu vực nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp 11 Trần Thị Quỳnh Trang
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khoa Sinh học
2.3.1. Vị trí địa lí
Khu vực nghiên cứu nằm trong phạm vi xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh
Nam Định.
Giao Thủy là một trong ba huyện ven biển của tỉnh Nam Định cách thành phố
Nam Định khoảng 45km về phía Nam. Huyện Giao Thủy gồm có 22 xã và thị
trấn, trong đó có 9 xã giáp biển là Giao Thiện, Giao An, Giao Lạc, Giao Xuân,
Giao Hải, Giao Long, Bạch Long, Giao Phòng và Giao Lâm. Phía đông giáp
biển, có 32km bờ biển. Phía Tây giáp huyện Xuân Trường, phía Nam giáp huyện
Hải Hậu bằng con sông Sò ( Bà Lạt). Phía Bắc giáp huyện Tiền Hải, Thái Bình
bởi sông Hồng. Giao Thủy nằm giữa hai cửa sông Bà Lạt thuộc sông Hồng và

ảnh hưởng của gió bão và áp thấp nhiệt đới
Nhiệt độ: Nhiệt độ có ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng của các loài cây
ngập mặn. Ở những vùng có nhiệt độ bình quân trong năm cao, biên độ nhiệt
giữa ngày và đêm, giữa các mùa thấp (đồng thời có độ ẩm cao) thì RNM phát
Khóa luận tốt nghiệp 12 Trần Thị Quỳnh Trang
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khoa Sinh học
triển về kích thước cũng như về số loài. Số loài cây ngập mặn giảm hẳn khi nhiệt
độ xuống quá thấp. Ngược lại khi nhiệt độ lên quá cao (trên 35
0
C) cũng ảnh
hưởng đến các hoạt động sinh lý của cây vì đốt nóng lá, khiến cho cây thoát lơi
nước nhiều, hô hấp tăng, quang hợp giảm và năng suất sơ cấp giảm (Phan
Nguyên Hồng, 1991) [10].
Nhiệt độ trung bình năm 24
0
C; nhiệt độ cao nhất trong mùa hè 40,3
o
C;
nhiệt độ thấp nhất trong mùa đông 6,8
0
C; độ ẩm trung bình 84%; Lượng bốc hơi
hàng năm 1000 – 1200 mm.
Lượng mưa: Lượng mưa trung bình năm 1700 – 1800 mm; số ngày mưa
trong năm trung bình 133 ngày. Chế độ mưa phân bố theo hai nền mùa hè và
mùa đông, có những giao thời Đông Xuân – Hè Thu. Tháng mưa lớn nhất vào
tháng 8 tới 400 mm và trong tháng này có tới 15 đến 18 ngày mưa. Mùa thu đông
có lượng mưa thấp nhất, biến động từ 25 – 50 mm/tháng.

Bảng 2.3.1. Một số đặc trưng khí hậu của khu vực nghiên cứu (số liệu trung
bình của 10 năm)

11 21.5 124.4 153.1 79
12 18.3 12.2 99.8 80
1 15.8 6 117.9 80
Hình 2.3. Các đặc trưng yếu tố khí tượng ( từ 8/2013 đến 1/2014)

(Nguồn: Trung tâm dữ liệu khí tượng thủy văn)
2.3.3. Thủy văn
Chế độ thủy triều ở cùng biển Giao Thủy là chế độ nhật triều, chu kì trên
dưới 23 giờ, vì vậy thời gian ngập nước của cây ngập mặn ở đây khá dài.
Biên độ triều khá lớn, trung bình khoảng 150 đến 180 cm, lớn nhất là 3.3m,
nhỏ nhất 0,25m. Biến thiên của thủy triều trong vùng nửa tháng có một lần triều
cường, một lần triều kém, đôi khi cũng có xảy ra 1 đến 3 lần triều kém, 2 lần
triều cường, hoặc ngược lại.
Chế độ thủy văn của cùng chịu ảnh hưởng trực tiếp của lương mưa và lưu
lượng nước sông Hồng vào mùa lũ (từ tháng 6 đến tháng 10). Hướng của dòng
triều là hướng Tây Bắc- Đông Nam. Dòng triều mạnh gây xói lở các bãi lầy ven
biển và hạn chế sự định cư của cây con.
2.3.4. Thổ nhưỡng
Khóa luận tốt nghiệp 14 Trần Thị Quỳnh Trang
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khoa Sinh học
Do vị trí địa lí, lại chịu ảnh hưởng của thủy triều và lưu lượng nước sông
Hồng nên thổ nhưỡng ở vùng Giao Thủy nói chung có đặc điểm: là vùng đất mới
hình thành do phù sa bồi đắp, đất chưa phân hóa rõ rệt, còn giữ nguyên tính chất
của vùng đất mới bồi tụ. Đất có nhiều lớp xen kẽ nhau, càng xuống sâu thành
phần cơ giới càng nhẹ, pH, nồng độ các khí hòa tan và muối dinh dưỡng trong
đất luôn biến đổi. Nền đáy bao gồm bùn lẫn sét và cát mịn. Phía trong rừng được
phủ một lớp xác thực vật hữu cơ. ( Theo Hoàng Ngọc Khắc, 2001) [16]
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm
Các ô thí nghiệm ( ÔTN) có diện tích 4m x 4m được bố trí ở các vị trí khác

H
n
: chiều cao cây đo được lần thứ n
H
n+1
: chiều cao đo được ở lần thứ n+1
+ Tăng trưởng đường kính trong 1 tháng (∆D): ∆D= D
n+1
-D
n
D
n
: đường kính đo được ở lần thứ n
D
n+1
: đường kính đo được ở lần thứ n+1
2.4.3: Đo đường kính tán lá
Dùng thước mét đo đường hai đường kính tán cây sao cho vuông góc với
nhau. Đường kính tán lá bằng trung bình hai đường kính tán đó.
Tăng trưởng đường kính tán lá trong một tháng (∆Dtl): ∆Dtl= Dtl
n+1
-Dtl
n
Dtl
n
: đường kính tán lá đo ở lần thứ n
Dtl
n+1
: đường kính tán lá đo ở lần thứ n+1
Khóa luận tốt nghiệp 16 Trần Thị Quỳnh Trang

, : Các chỉ số của hàm số mũ được xử lí bằng máy vi tính
Từ công thức trên và dựa vào chiều cao và đường kính của cây ta sẽ tính
được sinh khối của cây mà không cần chặt và cân đo sinh khối.
- Sinh khối tổng số được tính theo phương trinh: W= W
L
+ W
S
+ W
B

W
L
: Trọng lượng khô của lá
W
S
: Trọng lượng khô của thân
W
B
: Trọng lượng khô của cành
Khóa luận tốt nghiệp 17 Trần Thị Quỳnh Trang
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khoa Sinh học
2.4.5: Phương pháp đo diệp lục
Mẫu lá được bẻ trên cây, bảo quản trong đá, được mang vể tổ bộ môn và đo
diệp lục tổng số bằng máy đo Chlorophyl meter SPAD- 502Plus A1RT- 207
2.4.6:Phương pháp xử lí số liệu
Số liệu thu thập được xử lí theo thống kê toán học, sử dụng phần mềm EXCEL
7.0 để tính toán và xử lí số liệu.
CHƯƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BIỆN LUẬN
Khóa luận tốt nghiệp 18 Trần Thị Quỳnh Trang
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khoa Sinh học

tăng trưởng còn ∆H= 0.25 cm/tháng, với chỉ số kém thuận lợi hơn như nhiệt độ
15.8
o
C, lượng mưa 6 mm, độ ẩm không khí 80%.
Khóa luận tốt nghiệp 20 Trần Thị Quỳnh Trang
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khoa Sinh học
Tương tự sự tăng trưởng của chiều cao, đường kính cóc vàng 1 tuổi cũng
tăng vào các tháng có điều kiện khí hậu thuận lợi, cao nhất là tháng 9 với ∆D=
0.108 cm/ tháng, tháng 10 ∆D= 0.03, sau đó giảm dần vào các tháng mùa đông,
tháng 1 tốc độ tăng trưởng còn 0.01 cm/tháng.
Sự ảnh hưởng của điều kiện khí hậu đối với cóc vàng 1 tuổi, được thể hiện
rõ rệt nhất qua sự tăng trưởng của lá cây. Qua các tháng theo dõi, chúng tôi thấy
vào các tháng có điều kiện khí hậu thuận lợi như tháng 9, tháng 10 số lá cây tăng
lên, còn vào các tháng mùa đông, khí hậu khô hanh, độ ẩm không khí giảm, lá
cây rụng bớt để giảm sự thoát hơi nước, đảm bảo sự sinh trưởng của cây, điều
này thể hiện ở sự sinh trưởng kém hơn của lá ở các tháng mùa khô.
Đặc biệt khi nghiên cứu sinh trưởng của cóc vàng 1 tuổi, chúng tôi nhận
thấy ở các cây cóc vàng độ tuổi này đã có sự phân cành cấp 1, điều này chưa
từng thấy ở các cây đước 1 tuổi, cây trang 1 tuổi hay cây đâng 1 tuổi (Nguyễn
Đức Tuấn, 1995 [31])
Khóa luận tốt nghiệp 21 Trần Thị Quỳnh Trang
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khoa Sinh học
3.2. Sinh trưởng của cóc vàng (Lumnitzera racemosa Willd.) ở 2 khu vực
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu ở 2 khu vực là khu vực ngập triều ít và khu
vực khô không ngập triều. với 3 độ tuổi và thu được kết quả như sau:
3.2.1. Sinh trưởng của cóc vàng (Lumnitzera racemosa Willd.) ở khu vực
ngập ít
3.2.1.1 Sinh trưởng của cóc vàng (Lumnitzera racemosa Willd.) ở khu vực
ngập ít và mọc dày
3.2.1.1.1. Sinh trưởng của cóc vàng (Lumnitzera racemosa Willd.) ở khu vực

nhiệt độ trung bình là 27.6
o
C và 26.0
o
C, độ ẩm trung bình 87%, lượng mưa trung
bình cao 257.1 mm và 153.1 mm, số giờ nắng 157.2 giờ và 171.9 giờ, là những
điều kiện khí hậu thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cóc vàng. Tháng
11,12 có các đợt rét đậm, rét hại kéo dài, nhiệt độ có ngày xuống thấp dưới 10
o
C,
nhiệt độ trung bình thấp nhất vào 1/2014 (15.8
o
C), lượng mưa giảm mạnh còn
12.2mm vào tháng 12, 6mm vào tháng 1. Như vậy, sự thay đổi của nhiệt độ,
lượng mưa có ảnh hưởng tiên quyết đến tăng trưởng của cây. Theo Phạm Đình
Thái (1978 [29]) " lúc nhiệt độ thấp hệ thống trung gian trong keo nguyên sinh
chất truyền năng lượng tới bị phá hủy, khiến hô hấp mất ý nghĩa". Mặt khác
lượng mưa liên quan đến lượng phù sa bồi đắp và độ mặn nước, đất. Lượng mưa
lớn vào các tháng mùa hè làm tăng lượng phù sa, giảm độ mặn là điều kiện thuận
lợi cho cây tăng trưởng, lượng mưa ít vào các tháng mùa đông làm tăng độ mặn
làm ức chế hoạt động sinh lí của cây, làm giảm tốc độ sinh trưởng của cây.
Khóa luận tốt nghiệp 24 Trần Thị Quỳnh Trang
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khoa Sinh học
Đường kính tăng trưởng cùng chung xu hướng với chiều cao, tăng nhanh vào
các tháng 9, 10 với ∆D
9
= 0.03 cm/tháng, ∆D
10
= 0.02 cm/tháng, tăng lần lượt
1.59%, 1,56% và thấp dần trong các tháng tiếp theo, đặc biệt là các tháng mùa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status