NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ
ĐỘC TÍNH CỦA NẤM PHIẾN ĐỐM VÂN LƯỚI
PANAEOLUS AFF. RETIRUGIS
Hoàng Văn Vinh, Trịnh Tam Kiệt
Trung tâm Công nghệ Sinh học - ĐHQG Hà nội
Đỗ Ngọc Liên
Trường ĐHKHTN- ĐHQG Hà nội
I. MỞ ĐẦU
Nấm độc có thể gây hại cho con người và động vật có vú
nếu ăn phải chúng. Tuy nhiên, các “độc dược” thu nhận
được từ nấm nếu biết sử dụng đúng cách lại là một nguồn
dược liệu vô cùng quý, có ứng dụng rất lớn đối với việc
điều trị một số bệnh trong y học. Ví dụ như: từ một số loài
nấm độc thuộc chi: Psilocybe, Conocybe, Stropharia,
Panaeolus, Copeladia, Chlorophyllum…con người đã chiết
xuất được nhiều chất có hoạt tính sinh học, mà chủ yếu là
các alkaloid, ở nồng độ cao mang tính độc, có thể giết chết
người và động vật. Tuy vậy với nồng độ thấp, ở liều lượng
thích hợp nó lại là dược liệu quý có tác dụng hỗ trợ trong
khi sản phụ sinh nở, chống bệnh biếu cổ, chống nhức đầu,
cũng như các bệnh thần kinh và tim mạch khác. Đăc biệt
một số loài nấm có chứa độc tố alkaloid gây ra trạng thái ảo
giác gọi là hallucinogenic mushroom có ứng dụng điều trị
các bệnh tâm thần, mất trí nhớ…[3]
Chính vì nhữn lý do trên mà nấm độc ngày càng thu hút sự
quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới.
Và nghiên cứu này cũng nhằm góp phần nhỏ vào sự hiểu
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1. Nghiên cứu hình thái quả thể và bào tử
Panaeolus aff. retirugis (Fr.) Gill, Họ Strophariacea
Singer KA. H. Sm. 1946, thuộc chi Panaeolus (Fr.) Quel.,
1872. Đây là một chi tương đối lớn, ở Việt Nam đã có 10
loài được ghi nhận [5]. Mũ nấm khi non có hình cầu, khi
mở ra thành hình bán cầu, màu trắng xám. Bề mặt mũ nhẵn
bóng và khô, không nhày dính, đường kính khoảng 1-3cm.
Phiến màu xám nhạt khi non, sau màu xám đen, lốm đốm
(do bào tử chín không đều tạo nên những đốm đen trên nền
xám). Cuống cùng màu với mũ, mảnh, dễ gẫy. Thịt nấm
mỏng, màu trắng. Bào tử màu nâu, hình quả chanh, kích
thước: 12- 14vm x 6-8m. Chúng thường mọc trên phân
trâu bò mục, các bãi cỏ chăn thả gia súc, ven đường, đất
trồng có bón phân chuồng. Đây là loài nấm độc mọc quanh
năm.
Hình1: Quả thể và bào tử của nấm Panaeolus aff. retirugis 2. Nghiên cứu sự mọc của nấm
Giống gốc thuần khiết được phân lập từ mô rất mỏng
của quả thể nấm Panaeolus aff. retirugis. Giống gốc nấm
trên môi trường thạch nghiêng được cấy truyền sang môi
trường thạch trong bình tam giác để nghiên cứu tốc độ sinh
trưởng của hệ sợi, kết quả được chỉ ra trong bảng sau:
qua giấy lọc, li tâm bỏ cặn. Dịch lọc đem thử với các thuốc
thử đặc hiệu với alkaloid [2, 7]
Bảng 2: Phát hiện các hợp chất alkaloid trong nấm. Kết quả bảng 2 cho thấy:
Các phản ứng phát hiện alkaloid trong nấm Paneolus aff.
retirugis đều dương tính, chứng tỏ sự có mặt của nhóm chất
này ở trong nấm Panaeolus aff. retirugis. Điều này hoàn
toàn đúng so với kết quả đã công bố của các tác giả nghiên
cứu về những chất này[12]
3.2. Chiết xuất và định lượng alkaloid tổng số
Dựa vào tính chất của alkaloid, có thể tiến hành chiết rút
alkaloid ra khỏi nguyên liệu, trước hết cần kiềm hoá
nguyên liệu để đẩy alkaloid ra ở dạng tự do rồi rút alkaloid
bằng dung môi hữu cơ. Sau đó có thể cho bay hơi dung môi
và cân trực tiếp lượng alkaloid đã được tách ra, hoặc có thể
chuẩn độ alkaloid được tách ra bằng axít và dựa vào lượng
axít đã dùng để chuẩn độ tính ra lượng alkaloid [7].
Bảng 3: Hàm lượng alkaloid tổng số trong nấm Panaeolus
aff. retirugis. Như vậy, hàm lượng alkaloid tổng số trong nấm Panaeolus
aff. retirugis khá cao, có thể đạt tới 49 ÷ 50 mg/g bột nấm
khô (chiếm tới gần 5% trọng lượng khô của nấm ). Do đó
cần phải quan tâm đến hợp chất này về mặt khai thác cũng
như thành phần và chức năng sinh dược học của chúng.
Từ kết quả bảng trên cho thấy: Chế phẩm chiết rút từ nấm
Panaeolus aff. retirugis có khả năng kháng đối với chủng
gram (-) là S.typhy (không kháng đối với các chủng còn
lại). Do đó cần phải được nghiên cứu kỹ hơn để xác định
chính xác chất nào trong alkaloid tổng số thể hiện tính
kháng khuẩn trên.
4.3. Thử độc tính cấp của chế phẩm trên đối tượng chuột
Chế phẩm (độc tố) được hoà tan với nước tạo thành
dạng nhũ dịch với các nồng độ từ 5- 20% tương ứng với
từng lô, đưa vào cơ thể chuột theo đường uống, đảm bảo
thể tích nhũ: 0.4 ml/chuột. Chúng tôi đã tiến hành thí
nghiệm trên 25 chuột nhắt, được chia thành 5 lô, trong đó:
+ Thí nghiệm A: 1 lô đối chứng, uống nước cất
+ Thí nghiệm B: 4 lô, uống chế phẩm độc tố với các
nồng độ tương ứng: 5%, 10%, 15% và 20%.
Kết quả, ở thí nghiệm A- lô đối chứng: Trong thời gian thí
nghiệm chuột sống khoẻ mạnh, không có biểu hiện gì khác
thường.
Ở thí nghiệm B: Với nồng độ thấp 5% sau khi uống, chuột
có hiện tượng giảm hoạt động và khó thở nhẹ, hơi lờ đờ,
sau 5 giờ hồi phục dần và sống hoàn toàn qua 24 giờ. Với
nồng độ cao hơn sau khi uống 20 phút đã giảm hoạt động,
khó thở lảo đảo như say, đầu co giật, trương phềnh bụng,
có phản ứng ngứa ngáy, xù lông, tím tái, hiện tượng trên
3. Độc tố trong nấm Paneolus aff. retirugis có khả năng
gây tan huyết trên cả 3 nhóm máu: A, B, O ở người và ức
chế đối với chủng vi khuẩn Salmonella typhy. Độc tố này
tác dụng nhanh, mạnh lên cơ thể chuột (với liều uống 3330
mg/kg số chuột chết chiếm tới 80%).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Huy Chính (2001), Vi Sinh vật y học, Nxb Y học, Hà
Nội.
2. Trần Công Khánh, Phạm Hải (1992), Cây độc ở Việt
Nam - nhiễm độc, giải độc và cách điều trị, NxbY học, Hà
Nội.
3. Trịnh Tam Kiệt (1981), Nấm lớn ở Việt Nam, Nxb khoa
học, Hà nội.
4. Trịnh Tam Kiệt và cộng sự (1996), Sinh học và kỹ thuật
nuôi trồng nấm ăn, Nxb Nông nghiệp, Hà nội.
5. Trịnh Tam Kiệt và các cộng sự (2001), Danh lục thực vật
Việt nam- phần nấm, tr. 296.
6. Hoàng Thuỷ Long (1991), Kỹ thuật xét nghiệm vi sinh
vật y học, tr.328.
7. Nguyễn Quang Vinh, Bùi phương Thuận, Phan Tuấn
Nghĩa (1997), Thực tập hoá sinh học, tr.75-76.
8. Goodwin & Mercer (1989), “introduction to plant
biochemistry”, The Alkaloid, pp.480-527. 9. Fleish M. and
Maider L., 1985: A one step procedure proisolation and
resolution of the Phaseolus vulgaris isolectin by affinity
chrromatography. Biol. Chem. Hoppe- Seyler, 266, pp.
1029- 1032.
10. Richard B (1995), "The organic chemistry of drug