Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng của Cóc Vàng (Lumnitzera racemosa Willd.) ở xã Giao Lạc Giao Thủy Nam Định - Pdf 34

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Rừng ngập mặn (RNM) (Mangrove) là một hệ sinh thái phong phú và đa
dạng, có năng suất cao, ở vùng cửa sông ven biển. Ở các nước nhiệt đới, nơi có
khí hậu nóng ẩm, đất ngập nước thường xuyên, giàu mùn, phù sa và chịu ảnh
hưởng của thủy triều lên xuống hàng ngày, rừng phát triển mạnh mẽ vào có ý
nghĩa vô cùng quan trọng cả về môi trường lẫn kinh tế. RNM không chỉ là nguồn
cung cấp các lâm sản có giá trị như gỗ, than, củi, dược liệu, tanin...mà còn là
nguồn thức ăn, là nơi sống, nơi sinh sản của nhiều loài động vật: tôm, cua, chim
nước, ong...RNM còn là nơi du lịch sinh thái có tiềm năng lớn, góp phần phát
triển kinh tế- xã hội.
Bản thân cây rừng ngập mặn đã là một trong các dạng tài nguyên thiên nhiên
có khả năng tái tạo, với sự quần tụ của bao loài sinh vật khác, từ những loài
động vật không xương sống kích thước nhỏ đến những loài động vật có xương
sống kích thước lớn, từ những loài sống trong nước biển đến những sinh vật sống
trên cạn. Điều đó nói lên rằng, RNM không chỉ là nơi cư trú mà còn là nơi cung
cấp nguồn dinh dưỡng, hỗ trợ cho sự tồn tại và phát triển phong phú của các quần
thể sinh vật ven cửa sông ven biển, nơi " ương ấp" những cơ thể non của nhiều
loài sinh vật biển, nơi duy trì đa dạng sinh học cho biển (Mohamed & Rao, 1971;
Frusher, 1983) [38].
Rừng ngập mặn là " bức tường xanh" có tác dụng to lớn trong việc bảo vệ bờ
biển, bờ sông, điều hòa khí hậu, hạn chế xói lở, mở rộng diện tích lục địa, hạn
chế sự xâm nhập mặn, bảo vệ đê điều, đồng ruộng nơi sống của người dân ven
biển trước sự tàn phá của gió bão, nước biển dâng.
Từ những năm 1960 người ta đã công nhận vai trò hết sức quan trọng của
RNM đóng góp vào năng suất vùng cửa sông, ven biển, một trong hệ sinh thái có
năng suất sinh học cao nhất. Những chỉ tiêu về sinh khối và năng suất sơ cấp

Sonneratia caseolaris(L) Engl ).. trong đó có trang là loài được trồng chủ yếu. Vì
vậy có những nghiên cứu không chỉ nâng cao chất lượng rừng mà còn tăng đa
dạng rừng ngập mặn miền Bắc Việt Nam. Từ lâu người ta đã thấy rằng RNM ở
miền Bắc nghèo nàn và cằn cỗi hơn ở niềm Nam Việt Nam là vì miền Bắc mùa
đông lạnh nhiều ( Phan Nguyên Hồng (1997) [5] . Những nghiên cứu về đặc
điểm sinh thái, phân bố của hệ thực vật và thảm thực vật ven biển miền Bắc Việt
Nam cho thấy khí hậu chỉ là một nhân tố có tác động đến tích chất và sự phân bố
của cây ở đây. Vì vậy để làm tăng đa dạng rừng ngập mặn miền Bắc cần phải
nghiên cứu sự thích nghi của cây ngập mặn với điều kiện sinh thái nơi đây, đặc
biệt là thích hợp với yếu tố đất.
Trong điều kiện hiện nay, Trái Đất ấm dần lên, hiện tượng nước biển dâng
cao làm cho diện tích đất nhiễm mặn gia tăng thì cây ngập mặn, loài cây thích
nghi với môi trường đất lầy mặn được xem như nguồn gen chịu mặn quý, giúp
Khóa luận tốt nghiệp

2

Trần Thị Quỳnh Trang


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

cải tạo đất lầy. Trong đó, Cóc Vàng ( Lumnitzare racemosa Willd.) được xem là
một trong các loài cây ngập mặn như vậy. Cóc Vàng

( Lumnitzare racemosa

Willd.) phân bố chủ yếu ở các cây rừng ngập mặn trong miền Nam, Phan Nguyên


3

Trần Thị Quỳnh Trang


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

3. Nội dung nghiên cứu
3.1: Nghiên cứu sinh trưởng của cóc vàng 1 tuổi
3.2: Nghiên cứu sinh trưởng của cóc vàng ở 2 môi trường
3.2.1: Sinh trưởng của cóc vàng ở môi trường ngập ít
3.2.1.1: Sinh trưởng của cóc vàng ở môi trường ngập ít mọc dày
3.2.1.1.1: Sinh trưởng của cóc vàng 5 tuổi
3.2.1.1.2: Sinh trưởng của cóc vàng 8 tuổi
3.2.1.1.3: Sinh trưởng của cóc vàng 12 tuổi
3.2.1.2: Sinh trưởng của cóc vàng ở khu vực ngập ít và mọc thưa
3.2.1.2.1: Sinh trưởng của cóc vàng 5 tuổi
3.2.1.2.2: Sinh trưởng của cóc vàng 8 tuổi
3.2.1.2.3: Sinh trưởng của cóc vàng 12 tuổi
3.2.2: Sinh trưởng của cóc vàng ở khu vực trên cạn
3.2.2.1: Sinh trưởng của cóc vàng 5 tuổi
3.2.2.2: Sinh trưởng của cóc vàng 8 tuổi
3.2.2.3: Sinh trưởng của cóc vàng 12 tuổi
3.3: Nghiên cứu sinh khối tổng số và sinh khối bộ phận của quần thể cóc vàng
3.4. Nghiên cứu diệp lục trên lá ở các khu vực khác nhau
3.4.1. Nghiên cứu diệp lục trên lá ở khu vực trên cạn
3.4.1.1: Nghiên cứu diệp lục trên lá ở khu vực trên cạn trong bóng


CHƢƠNG I. TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Nghiên cứu về sinh trƣởng của cây RNM
1.1.1. Trên thế giới
Là một lĩnh vực khá rộng được đề cập tương đối nhiều trong các công trình
nghiên cứu của tác giả trên thế giới.
Công trình nghiên cứu về cây ngập mặn có hệ thống và tương đối hoàn chỉnh
của Gollay, Odum và Wilson tiến hành tại Puerto Rico từ năm 1958 (theo Hoàng
Thị Hà (2000) [2] . Khi nghiên cứu tăng trưởng, hầu hết các tác giả đều đặt trong
mối liên quan với các nhân tố sinh thái như: độ mặn, nhiệt độ, chất nền,...
Walter và Steiner (1936) (theo Phan Nguyên Hồng, 1999 ) [10]. Khi nghiên
cứu sự phát triển của cây con trong họ đước ( Rhizophoraceae) cho rằng chúng
duy trì nồng độ muối thấp hơn cây mẹ, đặc biệt là lá. Điều này được giải thích
như một cơ chế bảo vệ phôi.
Năm 1959, Steru và Voigh , (theo Hoàng Thị Hà, 2000) [2] tiến hành nghiên
cứu độ mặn của môi trường đến sinh trưởng của cây đâng đã kết luận cây sinh
trưởng tốt ở độ mặn tương đối với độ mặn nước biển.
Schorlander (1962-1966) , (theo L.T.V. Lan, 1998 ) [14] cũng công bố về
công trình nghiên cứu sinh trưởng của cây đâng ( Rhizophora stylosa BL) ở độ
mặn trung bình (½ độ mặn nước biển) và ở độ mặn này cây sinh trưởng tốt nhất.
Macne (1986) khi nghiên cứu ở Queensland thuộc Australia cho rằng trên bãi
lầy có lầy có lượng phù sa ít, nghèo chất dinh dưỡng có nguồn gốc từ đá vôi,
quặng thì rừng ngập mặn thấp và cằn cỗi (theo L.V. Lan, 1998) [14].
Năm 1969, Connor [36] công bố công trình nghiên cứu sinh trưởng của cây
mắm biển trong dung dịch có độ mặn khác nhau và đưa ra nhận xét: cây mắm có
khả năng sống ở độ mănk cao nhưng không sinh trưởng tốt ở ½ độ mặn nước
biển (theo Hoàng Thị Hà, 2000 ) [2].

Khóa luận tốt nghiệp


ngọn, còn cho thấy khả năng tăng trưởng về chiều cao và đường kính phụ thuộc
vào nhiều yếu tố như chất đất, địa hình, thủy triều, mật độ cây,...
Mai Sỹ Tuấn (1992) [29] trong công trình nghiên cứu về phản ứng sinh lý,
sinh thái của cây mắm con lấy giống từ Hà Tĩnh về trồng trong môi trường có độ
mặn khác nhau cho thấy sinh trưởng được ở các độ mặn khác nhau kể cả độ mặn
rất cao (150‰ độ mặn nước biển) nhưng tăng trưởng chiều cao đường kính giảm
dần khi độ mặn nước biến tăng.
Khóa luận tốt nghiệp

7

Trần Thị Quỳnh Trang


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

Nguyễn Đức Tuấn (1995) [31] nghiên cứu tăng trưởng của cây đâng trồng ở
Hà Tĩnh thấy điều kiện tự nhiên ở khu vực nghiên cứu có ảnh hưởng thuận lợi
cho quá trình sinh trưởng nên chỉ tiêu sinh trưởng chiều cao nhanh.
1.2. Nghiên cứu sinh khối cây RNM
Sinh khối là tổng lượng chất hữu cơ có được trên một đơn vị diện tích tại một
thời điểm theo trọng lượng khô, được tính bằng tấn trên ha. Sinh khối gồm tổng
lượng trọng lượng khô của thân, cành, lá, hoa, quả, rễ trên và dưới mặt đất.
Nghiên cứu sinh khối rừng ngập mặn có ý nghĩa rất lớn trong việc đánh giá năng
suất, chất lượng, quản lí và sử dụng rừng ngập mặn. Đã có rất nhiều công trình
của các tác giả khác nhau nghiên cứu về sinh khối tại nhiều vùng trên thế giới.
1.2.1. Trên thế giới
Golley.F.B và cộng sự (1962) đã nghiên cứu sinh khối rừng ngập mặn tự

1.2.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam có khá nhiều công trình nghiên cứu về sinh khối cây rừng ngập
mặn. Phần lớn các nghiên cứu tập trung ở rừng đước và một số rừng hỗn hợp.
Nguyễn Hoàng Trí (1986) [25], nghiên cứu sinh khối rừng đước đôi
(Rhizophora apoculata BL) ở Cà Mau, đã sử dụng phương pháp chọn ô tiêu
chuẩn 10m2 cho mỗi loại hình rừng, đo đường kính và chiều cao thân cây ở 1,3m
cách mặt đất, các tác giả sử dụng mô hình toán:
Logey= A+B loge(DH) + C loge2 (DH)
y: sinh khối
D: đường kính thân ở độ cao 1,3m
H: chiều cao của thân cây
A, B, C: hệ số
Tính được sinh khối rừng trưởng thành là 267839.29kg/ha, rừng tái sinh tự
nhiên: 14.004,48kg/ha, rừng tái sinh nhân tạo: 33846.80kg/ha.
P.N. Hồng (1991) [5] , sử dụng phương pháp nghiên cứu sinh khổi của
NewBould (1967), trên các ổ tiêu chuẩn 2500m2 để tính sinh khối của
Rhizophora apiculata trong một số loại rừng nguyên sinh ( phần trên và phần
dưới mặt đất) là 263.069,88 kg/ha, rừng tái sinh tự nhiên là 35143.76 kg/ha, rừng
trồng là 34858.62 kg/ha, sinh khối các phần trên mặt đất của rừng đước trồng
được 10 năm là 91421.03- 98773.10 kg/ha.
Năm 1992 [29] , khi nghiên cứu sinh trưởng cây mắm (Avicennia marina
L.), tác giả Mai Sỹ Tuấn đã dựa vào mới quan hệ giữa bình phương đường kính
nhân chiều cao ( D2H) và trọng lượng khô của thân (Ws), cành (WB), lá (WL), rễ
Khóa luận tốt nghiệp

9

Trần Thị Quỳnh Trang



10

Trần Thị Quỳnh Trang


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

CHƢƠNG II. ĐỐI TƢỢNG, THỜI GIAN, KHU VỰC VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Cóc Vàng là một trong ba cây thuộc chi Cóc ( Lumnitzera)
Tên khoa học: Lumnitzera racemosa Willd
Họ bàng: Combretaceae
Họ sim: Myrtales
Lớp Ngọc Lan: Magnoliopsida
Cây gỗ nhỡ, cao 3-12m với đường kính khoảng 0,3m, không lông, thân nhiều
mấu, nhánh thấp, vỏ ngoài màu nâu, gỗ màu vàng
Lá đơn, mọc cách, phiến hình muỗng, chân hình nêm, đầu tròn, bìa có răng
nhỏ, gân không rõ, dày cứng.
Hoa đơn tính, trắng nhỏ, ở nách và ngọn, có 5 cánh hoa, 5 đài hoa, 10 tiểu
nhị dài bằng nhau, lá bắc rụng sớm. Hoa có đĩa mật, thụ phấn nhờ sâu bọ. Quả
tròn, dài, cây ra hoa vào đầu hè
Là cây ưa sáng, kém chịu nước mặn và kém chịu ngập nước, mọc trên bùn
cát chặt. Hệ rễ khỏe, có khả năng đâm sâu vào lớp mùn dày, có tác dụng bảo vệ
đất. Phân bố ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam, nhiều nhất ở Sóc Trăng, Bạc Liêu.
2.2. Thời gian nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành các thí nghiệm theo dõi từ tháng 8/2013 đến tháng
1/2014. Thời gian thu thập số liệu hàng tháng vào các ngày từ 21 đến 28.

nằm giữa cửa sông Hồng và cửa sông Ninh cơ, hệ thống rừng ngập mặn ở đây
hàng năm tiếp nhận một lượng lớn phù sa do hai con sông mang tới (114 triệu
tấn/ năm) nên địa hình ở đây tương đối bằng phẳng, ít cồn cát lớp trầm tích phù
sa dày
2.3.2. Khí hậu
Xã Giao Lạc nói riêng và huyện Giao Thủy nói riêng nằm trong khu vực
khí hậu nhiệt đới gió mùa. Mùa đông lạnh, khô hơn, mùa hè nóng và mưa nhiều.
Mùa mưa kéo dài từ tháng 4-11
Chế độ gió vùng Giao Thủy chịu ảnh hưởng của 2 loại gió là gió mùa và gió
biển, đồng thời do nằm ở vùng cửa sông ven biển nên khu vực này thường chịu
ảnh hưởng của gió bão và áp thấp nhiệt đới

Khóa luận tốt nghiệp

12

Trần Thị Quỳnh Trang


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

Nhiệt độ: Nhiệt độ có ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng của các loài cây
ngập mặn. Ở những vùng có nhiệt độ bình quân trong năm cao, biên độ nhiệt
giữa ngày và đêm, giữa các mùa thấp (đồng thời có độ ẩm cao) thì RNM phát
triển về kích thước cũng như về số loài. Số loài cây ngập mặn giảm hẳn khi nhiệt
độ xuống quá thấp. Ngược lại khi nhiệt độ lên quá cao (trên 350 C) cũng ảnh
hưởng đến các hoạt động sinh lý của cây vì đốt nóng lá, khiến cho cây thoát lơi
nước nhiều, hô hấp tăng, quang hợp giảm và năng suất sơ cấp giảm (Phan

7

8

9

10

28.8

29.4

28.7

27.6 25

11

12

TB

21.8 18.5 23.5

độ
Lượng 25.8 34

37.6 70.1 131.5 185.4 211.3 339.5 226

226 80.6 22.1 1750

Khóa luận tốt nghiệp

13

Trần Thị Quỳnh Trang

85


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

Bảng 2.3.2. Đặc trưng các yếu tố khí tượng ( từ 8/2013 đến 1/2014)
Chỉ tiêu Nhiệt độ trung
bình ( oC)
Tháng

Tổng lƣợng

Số giờ nắng

Độ ẩm không

mƣa trung

(giờ)

khí (%)


87

11

21.5

124.4

153.1

79

12

18.3

12.2

99.8

80

1

15.8

6

117.9



Tháng
(Nguồn: Trung tâm dữ liệu khí tượng thủy văn)
2.3.3. Thủy văn
Chế độ thủy triều ở cùng biển Giao Thủy là chế độ nhật triều, chu kì trên
dưới 23 giờ, vì vậy thời gian ngập nước của cây ngập mặn ở đây khá dài.
Biên độ triều khá lớn, trung bình khoảng 150 đến 180 cm, lớn nhất là 3.3m,
nhỏ nhất 0,25m. Biến thiên của thủy triều trong vùng nửa tháng có một lần triều
Khóa luận tốt nghiệp

14

Trần Thị Quỳnh Trang


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

cường, một lần triều kém, đôi khi cũng có xảy ra 1 đến 3 lần triều kém, 2 lần
triều cường, hoặc ngược lại.
Chế độ thủy văn của cùng chịu ảnh hưởng trực tiếp của lương mưa và lưu
lượng nước sông Hồng vào mùa lũ (từ tháng 6 đến tháng 10). Hướng của dòng
triều là hướng Tây Bắc- Đông Nam. Dòng triều mạnh gây xói lở các bãi lầy ven
biển và hạn chế sự định cư của cây con.
2.3.4. Thổ nhƣỡng
Do vị trí địa lí, lại chịu ảnh hưởng của thủy triều và lưu lượng nước sông
Hồng nên thổ nhưỡng ở vùng Giao Thủy nói chung có đặc điểm: là vùng đất mới
hình thành do phù sa bồi đắp, đất chưa phân hóa rõ rệt, còn giữ nguyên tính chất
của vùng đất mới bồi tụ. Đất có nhiều lớp xen kẽ nhau, càng xuống sâu thành

khi trọng lượng không đổi. Mẫu sau khi sấp xong được dùng để tính toán sinh
khối của quần thể
2.4.2: Phƣơng pháp đo sinh trƣởng chiều cao và đƣờng kính
- Đường kính của cây được đo bằng thước kẹp (độ chính xác 0,01mm).
- Chiều cao của thân cây được đo bằng thước dây
Đường kính và chiều cao của cây được đo hàng tháng
- Tăng trưởng đường kính và chiều cao của cây được tính theo công thức:
+ Tăng trưởng chiều cao trong một tháng (∆H): ∆H=Hn+1-Hn
Hn: chiều cao cây đo được lần thứ n
Hn+1: chiều cao đo được ở lần thứ n+1
+ Tăng trưởng đường kính trong 1 tháng (∆D): ∆D= Dn+1-Dn
Dn: đường kính đo được ở lần thứ n
Dn+1: đường kính đo được ở lần thứ n+1
2.4.3: Đo đƣờng kính tán lá
Dùng thước mét đo đường hai đường kính tán cây sao cho vuông góc với
nhau. Đường kính tán lá bằng trung bình hai đường kính tán đó.
Tăng trưởng đường kính tán lá trong một tháng (∆Dtl): ∆Dtl= Dtln+1-Dtln
Dtln: đường kính tán lá đo ở lần thứ n
Dtln+1: đường kính tán lá đo ở lần thứ n+1

Khóa luận tốt nghiệp

16

Trần Thị Quỳnh Trang


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học


Trần Thị Quỳnh Trang


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

2.4.5: Phƣơng pháp đo diệp lục
Mẫu lá được bẻ trên cây, bảo quản trong đá, được mang vể tổ bộ môn và đo
diệp lục tổng số bằng máy đo Chlorophyl meter SPAD- 502Plus A1RT- 207
2.4.6:Phƣơng pháp xử lí số liệu
Số liệu thu thập được xử lí theo thống kê toán học, sử dụng phần mềm EXCEL
7.0 để tính toán và xử lí số liệu.

Khóa luận tốt nghiệp

18

Trần Thị Quỳnh Trang


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

CHƢƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BIỆN LUẬN
3.1. Sinh trƣởng của cóc vàng (Lumnitzera racemosa Willd.) 1 tuổi
Cóc vàng 1 tuổi được tái sinh chủ yếu từ quả của cây cóc vàng khi rơi rụng
xuống, qua theo dõi sinh trưởng của cóc vàng qua các tháng chúng tôi thu được

23.54±1.15

2.15

0.47±0.02

0.1

16.8±2.12

0.15

10

25.4±1.23

1.86

0.5±0.04

0.03

16.9±2.16

0.1

11

25.8±1.32


0.56±0.05

0.01

14±1.67

-0.4

( H, D: chiều cao và đường kính trung bình qua các tháng theo dõi (cm)
∆H,∆D: tăng trưởng chiều cao và đường kính qua các tháng theo dõi (cm/tháng))
Hình 3.1.1. Sinh trưởng của chiều cao

30

2.3

25

1.8

cm

20

1.3

15
0.8

10

19

Trần Thị Quỳnh Trang


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

Hình 3.1.2. Sinh trưởng về đường kính

0.6
0.5
0.4
0.3
0.2
0.1
0

0.12
0.1
0.08
0.06
0.04
0.02
0
8

9



Trần Thị Quỳnh Trang


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Sinh học

cm/tháng. Các tháng mùa khô tốc độ tăng trưởng giảm nhất là tháng 1 tốc độ tăng
trưởng còn ∆H= 0.25 cm/tháng, với chỉ số kém thuận lợi hơn như nhiệt độ
15.8oC, lượng mưa 6 mm, độ ẩm không khí 80%.
Tương tự sự tăng trưởng của chiều cao, đường kính cóc vàng 1 tuổi cũng
tăng vào các tháng có điều kiện khí hậu thuận lợi, cao nhất là tháng 9 với ∆D=
0.108 cm/ tháng, tháng 10 ∆D= 0.03, sau đó giảm dần vào các tháng mùa đông,
tháng 1 tốc độ tăng trưởng còn 0.01 cm/tháng.
Sự ảnh hưởng của điều kiện khí hậu đối với cóc vàng 1 tuổi, được thể hiện
rõ rệt nhất qua sự tăng trưởng của lá cây. Qua các tháng theo dõi, chúng tôi thấy
vào các tháng có điều kiện khí hậu thuận lợi như tháng 9, tháng 10 số lá cây tăng
lên, còn vào các tháng mùa đông, khí hậu khô hanh, độ ẩm không khí giảm, lá
cây rụng bớt để giảm sự thoát hơi nước, đảm bảo sự sinh trưởng của cây, điều
này thể hiện ở sự sinh trưởng kém hơn của lá ở các tháng mùa khô.
Đặc biệt khi nghiên cứu sinh trưởng của cóc vàng 1 tuổi, chúng tôi nhận
thấy ở các cây cóc vàng độ tuổi này đã có sự phân cành cấp 1, điều này chưa
từng thấy ở các cây đước 1 tuổi, cây trang 1 tuổi hay cây đâng 1 tuổi (Nguyễn
Đức Tuấn, 1995 [31])

Khóa luận tốt nghiệp

21


(%/tháng)

Tỉ lệ tăng
(%/tháng)

8

110.5 ±3.13

1.70 ± 0.01

9

121.5 ± 3.43

11

9.95

1.73 ± 0.02

0.03

1.59

10

137.4 ± 3.5

15.9


1.76 ± 0.02

0.0

0.17

1

145.5 ± 4.23

0.8

0.55

1.76± 0.03

0.00

0.17

( H,D: chiều cao và đường kính trung bình qua các tháng theo dõi (cm)
∆H, ∆D: Tăng trưởng chiều cao và đường kính (cm/tháng))

Khóa luận tốt nghiệp

22

Trần Thị Quỳnh Trang



11

12

1

Tháng

Sinh trƣởng đƣờng kính
1.78
1.76

cm

1.74
1.72
1.7

D

1.68
1.66
8

9

10

11


5

0.01

0

0
9

10

11

12

đƣờng kính
(cm/tháng)

chiều cao (cm/tháng)

Hình 3.2.1.1.1.1.2: Tăng trưởng chiều cao và đường kính (cm/tháng)

∆H
∆D

1

Tháng


lớn vào các tháng mùa hè làm tăng lượng phù sa, giảm độ mặn là điều kiện thuận
lợi cho cây tăng trưởng, lượng mưa ít vào các tháng mùa đông làm tăng độ mặn
làm ức chế hoạt động sinh lí của cây, làm giảm tốc độ sinh trưởng của cây.
Đường kính tăng trưởng cùng chung xu hướng với chiều cao, tăng nhanh vào
các tháng 9, 10 với ∆D9= 0.03 cm/tháng, ∆D10= 0.02 cm/tháng, tăng lần lượt
1.59%, 1,56% và thấp dần trong các tháng tiếp theo, đặc biệt là các tháng mùa
đông. Như vậy sự sinh trưởng về đường kính có mối liên hệ với các yếu tố khí hậu.
Chúng tôi nhận thấy được các yếu tố khí hậu có ảnh hưởng đến sinh trưởng
chiều cao và đường kính của cóc vàng 5 tuổi. Các tháng mùa đông có nhiệt độ
xuống thấp, lượng mưa giảm, cùng với lượng bức xạ giảm làm tốc độ sinh trưởng
của cóc vàng giảm hẳn. Nguyễn Đức Tuấn (1995) [31], nhiệt độ xuống thấp và
kéo dài dường như đã gây ra những tổn thương sâu sắc trong cấu trúc và hoạt
động sinh lí của tế bào. Tất cả đều ảnh hưởng không thuận lợi đến quá trình sinh
trưởng, phát triển của cây.
Hình 3.2.1.1.1.1.3. Tương quan chiều cao, đường kính cóc vàng 5 tuổi

Chiều cao (cm)

Tƣơng quan chiều cao, đƣờng kính
200

y= 538.36x - 806.64

150
100
50
0
1.7

1.73


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status