Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và khả năng sản xuất thịt của Bò H''''Mông nuôi tại huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang - Pdf 29


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN ĐÀM THUYÊN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG
VÀ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT THỊT CỦA BÒ H'MÔNG
NUÔI TẠI HUYỆN MÈO VẠC, TỈNH HÀ GIANG Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.01.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP


ii

LỜI CẢM ƠN

Nhân dịp hoàn thành bản luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới
Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý đào tạo Sau đại học, Ban chủ nhiệm Khoa
Chăn nuôi - Thú y Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nơi tôi được đào
tạo, trưởng thành cũng như tạo điều kiện thuận lợi, tốt nhất cho tôi hoàn thành
nhiệm vụ của mình. Tôi xin cảm ơn các đơn vị Sở Nông nghiệp và phát triển
nông thôn tỉnh Hà Giang, UBND huyện Mèo Vạc và các xã, thị trấn Mèo Vạc,
Pả Vi, huyện Mèo Vạc, Tỉnh Hà Giang đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này.
Để hoàn thành bản luận văn này tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
tới PGS.TS. Trần Huê Viên là người thầy hướng dẫn về khoa học, đã giúp đỡ
tôi tận tình và có trách nhiệm trong quá trình nghiên cứu cũng như hoàn thiện
bản luận văn này.
Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới gia đình
đã tận tình giúp đỡ, động viên khích lệ để tôi vượt qua mọi khó khăn hoàn

2. Mục tiêu nghiên cứu 2

3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2

3.1. Ý nghĩa khoa học 2

3.2. Ý nghĩa thực tiễn 3

CHƯƠNG 1
.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.1. Cơ sở khoa học của sự sinh trưởng 6

1.1.1.1. Khái niệm về quá trình sinh trưởng và phát dục 6

1.1.1.2. Những quy luật chung về sinh trưởng và phát dục 7

1.1.2. Tính trạng số lượng và sự di truyền tính trạng số lượng 6
1.1.2.1. Tính trạng số lượng 6
1.1.2.2. Sự di truyền của tính trạng số lượng 7
1.1.3. Khả năng sinh trưởng, cho thịt của bò và các yếu tố ảnh hưởng 9
1.1.3.1. Khả năng sinh trưởng và cho thịt của bò 9
1.1.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và cho thịt ở bò 10
1.1.4. Một số chỉ tiêu và phương pháp đánh giá khả năng sinh trưởng và năng
suất thịt của bò 15
1.1.5. Chất lượng thịt và các yếu tố ảnh hưởng chất lượng thịt bò 18
1.2. Vai trò và tình hình chăn nuôi bò thịt ở Việt Nam 23

2.3.4. Phương pháp xác định năng suất thịt bò 38
2.3.5. Phương pháp xác định chất lượng thịt bò 39
2.3.6. Phương pháp xử lý số liệu 39
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40
3.1. Đánh giá thực trạng, tình hình chăn nuôi bò tại huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang 40
3.1.1. Số lượng và sự phân bổ đàn bò tại huyện Mèo Vạc 40
3.1.1.1. Số lượng đàn bò H'Mông toàn huyện (từ năm 2009 đến 2011) 41
3.1.1.2. Cơ cấu đàn bò H'Mông nuôi trong nông hộ tại huyện Mèo Vạc 42
3.1.2. Thực trạng tình hình chăn nuôi đàn bò H'Mông tại huyện Mèo Vạc 42
3.1.2.1. Nguồn thức ăn sử dụng cho bò 43
3.1.2.2. Điều kiện chuồng trại và công tác thú y đối với chăn nuôi bò tại
huyện Mèo Vạc 44
3.1.2.3. Hệ thống khuyến nông 45
3.2. Kích thước các chiều đo và một số chỉ số cấu tạo thể hình ở bê H’Mông 46
3.2.1. Kết quả xác định kích thước một số chiều đo cơ thể của bê H'Mông 46
3.2.1.1. Kích thước cao vây của bê H’Mông 46
3.2.1.2. Vòng ngực của bê H’Mông qua các tháng tuổi 48
3.2.1.3. Kích thước dài thân chéo của bê H’Mông qua các tháng tuổi 49
3.2.1.4. Chu vi vòng ống của bê H’Mông ở các tháng tuổi 51
3.2.2. Kết quả tính toán một số chỉ số cấu tạo thể hình của bê H’Mông 52
3.2.3. Khối lượng của bê ở các lứa tuổi 53
3.2.3.1. Sinh trưởng tích lũy 54
3.2.3.2. Sinh trưởng tuyệt đối 56
3.2.3.3. Sinh trưởng tương đối 57
3.3. Kích thước một số chiều đo cơ thể, một số chỉ số cấu tạo thể hình và khối
lượng của bò H'Mông ở các lứa tuổi 58
3.3.1. Kích thước một số chiều đo của bò H'Mông 58
3.3.2. Một số chỉ số cấu tạo thể hình của đàn bò H’Mông 63
3.3.3. Khối lượng của bò H’Mông qua các lứa tuổi 64


CSTX : Chỉ số to xương
Cs : Cộng sự
DTC : Dài thân chéo
ĐVT : Đơn vị tính
HF : Holstein Friesian
RN : Rộng ngực
VN : Vòng ngực
VO : Vòng ống
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
TB : Trung bình
TT : Thị trấn
PTNT : Phát triển nông thôn vii

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1. Số lượng bò của từng khu vực qua các năm từ 2000 -2009 25
Bảng 3.1. Số lượng và sự phân bố đàn bò tại huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang
(từ năm 2009-2011) 40
Bảng 3.2. Số lượng bò H'Mông nuôi tại huyện Mèo Vạc (từ năm 2009 đến
năm 2011) 41
Bảng 3.3. Quy mô đàn bò H’Mông của các hộ điều tra 42
Bảng 3.4. Sử dụng thức ăn cho bò tại các hộ điều tra 43
Bảng 3.5. Chuồng trại và các biện pháp thú y cho chăn nuôi bò 44
Bảng 3.6. Cao vây của bê H’Mông ở các lứa tuổi 46

qua các lứa tuổi 49
Hình 3.4. Biểu đồ biểu diễn biến đổi kích thước dài thân chéo của bê H’Mông
qua lứa tuổi 50
Hình 3.5. Biểu đồ biểu diễn biến đổi vòng ống của bê H’Mông qua lứa tuổi 51
Hình 3.6. Biểu đồ biểu diễn sinh trưởng tích lũy của bê theo thời gian 54
Hình 3.7. Biểu đồ biểu diễn biến đổi chiều cao vây của bò H’Mông theo tuổi59
Hình 3.8. Biểu đồ biểu diễn biến đổi vòng ngực của bò H’Mông theo tuổi 60
Hình 3.9. Biểu đồ biểu diễn biến đổi chiều dài thân chéo của bò H’Mông theo
tuổi 61
Hình 3.10. Biểu đồ biểu diễn biến đổi vòng ống của bò H’Mông theo tuổi 62
Hình 3.11. Biểu đồ biểu diễn biến đổi khối lượng bò H’Mông qua các lứa tuổi 65 1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, chăn nuôi bò ở nước ta phát triển mạnh, cung
cấp nguồn thực phẩm giàu chất dinh dưỡng cho bữa ăn mỗi gia đình, cung cấp
sức kéo, nguồn phân bón hữu cơ dồi dào cho sản xuất nông nghiệp, tăng thu
nhập cho hộ nông dân khu vực nông thôn. Trong những năm gần đây, nhu cầu
tiêu thụ thịt bò của người dân cả nước ngày càng tăng. Năm 2002, tiêu thụ thịt
bò của cả nước là 1,2 kg/người/năm, dự báo tới năm 2010 là 2,6
kg/người/năm. Bò thịt dễ chăm sóc và nuôi dưỡng, thích nghi trong các điều
kiện môi trường chăn nuôi khác nhau, thức ăn cho bò thịt là các loại sản phẩm
phụ từ trồng trọt, nguồn thức ăn cho bò có sẵn ngay xung quanh chúng ta.

đặc điểm, tính năng sản xuất của bò H'Mông, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên
cứu một số đặc điểm sinh trưởng và khả năng sản xuất thịt của bò H’Mông nuôi
tại huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá khả năng sinh trưởng về một số chỉ tiêu sản xuất thịt của bò
H’Mông nuôi tại huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang góp phần tạo dựng cơ sở
khoa học cho việc phát triển giống bò H'Mông tại địa phương.
- Đánh giá một số chỉ tiêu sản xuất thịt của bò H’Mông ở lứa tuổi 36 tháng.
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Việc nghiên cứu khả năng sinh trưởng và khả năng sản xuất thịt của
đàn bò H’Mông nuôi tại huyện Mèo Vạc giúp đánh giá khả năng thích nghi
của đàn bò đồng thời tìm ra những biện pháp khắc phục những hạn chế nhằm
nâng cao khả năng sinh trưởng và sức sản xuất thịt của bò H’Mông.
Góp phần phát triển vùng sản xuất bò thịt chất lượng cao tại huyện Mèo
Vạc nói riêng và tỉnh Hà Giang nói chung. 3

3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Việc nghiên cứu đánh giá khả năng sinh trưởng và sức sản xuất thịt của
đàn bò H’Mông tại Mèo Vạc là cơ sở để nhân rộng và phát triển giống bò thịt
quý này ở Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho việc đánh giá đúng thực
trạng của đàn bò H’Mông tại địa phương, từ đó có định hướng đúng đắn cho
công cuộc bảo tồn và phát triển đàn bò H’Mông.

1.1.1.1. Khái niệm về quá trình sinh trưởng và phát dục
Sinh trưởng là một trong những tính trạng di truyền số lượng của vật
nuôi và chịu tác động của ngoại cảnh. Trong công tác nhân giống vật nuôi,
tính trạng này luôn được nghiên cứu. Sinh trưởng là quá trình tích luỹ các
chất hữu cơ thông qua đồng hoá và dị hoá. Sự sinh trưởng làm tăng kích
thước các chiều, tăng khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể của con
vật. Nói cách khác đó là sự tích luỹ dần dần các chất mà chủ yếu là protein
trong cơ thể. Tốc độ sinh trưởng và cách thức tổng hợp protein là do các gen
trong cơ thể điều khiển. Như vậy sự tăng về khối lượng là một trong những
chỉ tiêu tăng trưởng của cơ thể. Tuy nhiên một số trường hợp sự tăng khối
lượng không phải là tăng trưởng đó là sự tích luỹ mỡ hoặc nước mà không có
sự phát triển của mô cơ. Theo Gartner, 1922, quá trình sinh trưởng được xem
là kết quả của sự phân chia tế bào, làm tăng thể tích của tế bào để tạo nên sự
sống (Lê Quang Nghiệp, 1984) [29]. Sự sinh trưởng được bắt đầu từ khi trứng
được thụ tinh để hình thành hợp tử cho đến khi cơ thể trưởng thành. Nghiên
cứu sự sinh trưởng không thể không nói đến sự phát dục. Đó là một quá trình
thay đổi về chất, tức là tăng thêm và hoàn chỉnh dần về chức năng các bộ
phận của cơ thể vật nuôi. Theo Somangaozen, 1935, giữa sinh trưởng và phát
dục của cơ quan này hay cơ quan khác, có sự tương quan và phụ thuộc lẫn
nhau. Hiện tượng này không phải bao giờ cũng chỉ ở phạm vi bộ phận mà còn
đối với toàn bộ cơ thể. Nó được thực hiện qua trao đổi chất và luôn thay đổi.
Quá trình này mang tính giai đoạn, được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác 5

nhau, do nhiều yếu tố tác động như phân hoá, trao đổi chất, dinh dưỡng… (Lê

trường dinh dưỡng trong cơ thể mẹ. Khi cơ thể gia súc non được sinh ra đó là
thời kỳ tiếp theo của giai đoạn bào thai, thì sự sinh trưởng phụ thuộc vào tính
di truyền của đời trước nhiều hơn.
+ Quy luật phát triển không đồng đều của vật nuôi cho thấy nhịp độ phát
triển của cơ thể và từng bộ phận qua các thời kỳ có những đặc điểm khác nhau.
+ Qui luật phát triển theo nhịp điệu: Sự sinh trưởng phát dục của sinh
vật nói chung và gia súc nói riêng không phải là tuyến tính. Fedolop đã theo
dõi sự tăng trưởng của bò trong điều kiện nuôi dưỡng ổn định cho thấy sự
tăng trọng thường theo chu kỳ và mỗi chu kỳ khoảng 12 ngày. Các hiện tượng
khác trong cơ thể cũng diễn ra theo nhịp điệu như: Chu kỳ động dục, sự đồng
hoá, dị hoá của cơ thể….
Khi nắm được các quy luật sinh trưởng và phát dục của vật nuôi sẽ giúp
chúng ta điều khiển 2 yếu tố di truyền và ngoại cảnh. Hai yếu tố này có mối
liên hệ chặt chẽ và biểu hiện rõ rệt trong suốt quá trình sinh trưởng phát dục
của vật nuôi. Trên cơ sở đó chúng ta chủ động điều chỉnh các điều kiện cho
phù hợp với sự sinh trưởng của từng loại vật nuôi nhằm đạt được mục đích,
đem lại hiệu quả kinh tế cao trong chăn nuôi.
1.1.2. Tính trạng số lượng và sự di truyền tính trạng số lượng
1.1.2.1. Tính trạng số lượng
Tính trạng số lượng được gọi là tính trạng đo lường. Tuy nhiên, có một
số tính trạng mà giá trị của nó thu được băng cách đếm: Số con đẻ ra trong
một lứa, số trứng đẻ ra trong một chu kỳ… vẫn được coi là tính trạng số
lượng. Phần lớn các tính trạng có giá trị kinh tế của vật nuôi đều là tính trạng
số lượng, hầu như các thay đổi trong quá trình tiến hóa của sinh vật là sự thay
đổi của tính trạng số lượng. Tính trạng số lượng có các đặc trưng sau:
- Tính trạng số lượng biến thiên liên tục;
- Phân bố tần suất giá trị của tính trạng số lượng là phân bố chuẩn;

Cơ sở di truyền tính trạng số lượng được thiết lập bởi các công trình
nghiên cứu của Fisher R. A, (1918) [55]; Wright 1926, Haldane 1932 (trích
theo Nguyễn Văn Thiện, 1995) [39], Đặng Vũ Bình (2002) [3]. Để giải thích
sự di truyền tính trạng số lượng Nilsson - Ehle (1908) đã đưa ra thuyết đa gen 8

với nội dung sau: Tính trạng số lượng chịu tác động của nhiều cặp gen,
phương thức di truyền của các cặp gen này tuân theo các quy luật cơ bản của
di truyền như: Sự phân ly, tổ hợp và liên kết … Mỗi gen thường có tác dụng
nhỏ đối với các tính trạng kiểu hình, nhưng nhiều gen có giá trị cộng gộp lớn
hơn. Tác dụng của các gen khác nhau trên cùng một tính trạng có thể cộng
gộp hoặc không cộng gộp. Ngoài ra còn có thể có các kiểu tác động ức chế
khác nhau giữa các gen nằm ở các locus khác nhau.
Trong thực tế nếu biết được chính xác số lượng gen quyết định tính
trạng số lượng có thể đề ra các phương pháp trực tiếp nghiên cứu các tính
trạng số lượng đó.
Theo Morgan 1911, Wright 1933 (trích theo Phan Cự Nhân, 1977) [30],
quá trình hình thành tính trạng của gia súc không những chịu sự chi phối của
các gen mà còn chịu sự chi phối rất lớn của điều kiện môi trường.
Giá trị của một tính trạng (giá trị kiểu hình) biểu thị thông qua giá trị
kiểu gen và sai lệch môi trường:
P = G + E
Trong đó:
P: Giá trị kiểu hình
G: Giá trị kiểu gen

pha sinh trưởng chậm lại, sinh trưởng giảm dần cho đến khi con vật ổn định
về mặt khối lượng, lúc này con vật thành thục về thể vóc. Sự giảm sinh
trưởng có thể do quá trình đồng hóa và dị hóa đạt mức cân bằng, tổ chức tế
bào của các mô đáp ứng ít hơn với hormon sinh trưởng. Sự sinh trưởng của cơ
tương đối nhanh, các tổ chức cơ tăng khối lượng với cường độ tương đối ổn
đinh. Sự tích lũy mỡ ở thời kỳ gia súc non chậm nhưng sau đó tăng lên khi gia
sức thành thục thể vóc.
Chăn nuôi bò thịt phải hướng tới mục đích thúc đẩy tăng trưởng nhanh
các phần thịt có giá trị và giảm thiểu các phần thịt kém chất lượng như phần
thịt đầu, thịt chân, thịt vùng bụng.
Trong quá trình nuôi dưỡng không thể tránh khỏi tình trạng sinh trưởng
bị kìm hãm do các tác động của môi trường như thiếu thức ăn trong mùa khô
hoặc vì những tác động khác dẫn đến cường độ sinh trưởng của gia súc thấp và 10

phải đợi đến mùa có nhiều thức ăn con vật mới sinh trưởng tốt lên được. Thông
thường xảy ra hiện tượng ở một giai đoạn nào đó sinh trưởng của con vật bị
kìm hãm do bị thiếu thức ăn, đến giai đoạn sau nhận được dinh dưỡng tốt,
cường độ sinh trưởng của nó sẽ lớn hơn ở con vật không bị ức chế và cuối cùng
vẫn đạt khối lượng cùng lúc với các con vật khác. Đó là hiện tượng sinh trưởng
bù chúng ta thường gặp trong chăn nuôi gia súc nhai lại do kéo dài thời gian
nuôi qua các mùa vụ khác nhau trong năm. Trong thực tế chăn nuôi, chúng ta
đã áp dụng hiện tượng sinh trưởng bù và vỗ béo bò gầy để nâng cao năng suất
và cải tiến chất lượng thịt, đưa lại hiệu quả kinh tế cao trong chăn nuôi.
Sinh trưởng của gia súc chịu tác động của các yếu tố di truyền và ngoại

của thịt xẻ có liên quan tới giống, khối lượng giết mổ và độ tuổi giết mổ
cũng như phương thức nuôi dưỡng.
Nguyễn Xuân Trạch, (2007) [43], hệ số di truyền cơ dài lưng và thịt
vùng mông khá cao, h
2
= 0,61. Burns và Cs, 2005 [4] cho rằng: Khối lượng
thân thịt là tiêu chuẩn quan trọng nhất đánh giá khả năng cho thịt ở bò. Các
yếu tố chi phối đến tỷ lệ thịt xẻ bao gồm: Kiểu gen, tỷ lệ mất nước, độ béo
của thân thịt, khối lượng thân thịt.
b. Yếu tố dinh dưỡng
Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng nhất trong số các yếu tố ngoại cảnh
chi phối khả năng sinh trưởng và sản xuất thịt của bò. Chế độ dinh dưỡng cao
sẽ rút ngắn quá trình nuôi dưỡng và làm thay đổi phẩm chất thịt. Hai loại dinh
dưỡng quan trọng cần cho vật nuôi là năng lượng và protein. Năng lượng cần
cho việc duy trì sự tồn tại của tổ chức cơ thể, hoạt động của cơ, hệ tiêu hóa và
hình thành tổ chức mới. Nhu cầu năng lượng chịu ảnh hưởng bởi khối lượng
của con vật và khối lượng tăng lên của các tổ chức trong cơ thể. Năng lượng
để sản xuất 1kg mỡ gấp 7 lần năng lượng để sản xuất 1kg thịt nac. Bò có khối
lượng từ 100 -450 kg, tăng khối lượng/ngày 1,25 kg cần mức protein 13,5 -
14,6% so với vật chất khô (Lê Viết Ly, 1995) [21]. Simm G, (1998) [72] sử
dụng tảng liếm ure - rỉ mật làm thức ăn cho bò đực thiến ở Châu Phi đạt tăng
khối lượng 560g/ngày, trong khi đó lô đối chứng chỉ đạt 220g/ngày.
Vũ Văn Nội và Cs (1995) [32], sử dụng tảng liếm urê - rỉ mật cho bò F
1

và cho thấy: Tăng trọng bình quân đạt 0,386 -0,492 kg/con/ngày, vượt 60% so 12


× Lai Sind) lúc 18 tháng tuổi bằng hạt bông, rỉ mật, bột sắn. Kết quả bò thí
nghiệm đạt tăng khối lượng 732 - 845 g/ngày. 13

Nhiều thí nghiệm nuôi vỗ béo bò thịt được tiến hành nhằm nghiên cứu
ảnh hưởng của thức ăn giàu năng lượng, giàu protein đến tăng khối lượng và
chất lượng thịt. Jiang và Cs, 1992 (trích theo Lê Viết Ly, 1995) [20] đã tiến
hành vỗ béo 4 giống bò địa phương trong 395 ngày với các loại thức ăn là phụ
phẩm nông nghiệp, tăng khối lượng bình quân đạt 662 -782 g/con/ngày, chất
lượng thịt được cải thiện đáng kể.
Vũ Chí Cương và Cs (2007) [11], nghiên cứu vỗ béo bò Lai Sind bằng
phụ phẩm nông nghiệp đạt tăng khối lượng 0,583 -0,839 kg/con/ngày.
Nguyễn Văn Thưởng và Cs (1985) [40], đã vỗ béo bò Lai Sind 21 -
24 tháng tuổi bằng bổ sung 10 kg cỏ vào ban đêm. Kết quả cho thấy: Tăng
khối lượng gấp đôi so với bò đối chứng nuôi chăn thả (300g/con/ngày so
với 150 g/con/ngày).
Theo nghiên cứu của Burns và Cs, 2005 [4], khả năng sản xuất thịt của
gia súc là do tương tác giữa các kiều gen, môi trường. Khả năng cho sản
phẩm của các giống bò lai Bos indicus cao hơn so với bò Bos taurus trong các
vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của Úc có thể do Bos indicus thích nghi đối
với môi trường nhiệt đới cao hơn. Trong điều kiện môi trường stress ở mức
thấp (đồng cỏ chất lượng cao, đồng cỏ được thâm canh vỗ béo), các tác giả
trên cho thấy: Các phẩm giống khác nhau có quá trình sinh sản, sinh trưởng
và thích nghi khác nhau.
Nhìn chung, các giống bò chuyên dụng sản xuất thịt có quá trình sinh

trưởng, khối lượng sơ sinh lớn, tỷ lệ sinh sản cao ở bò mẹ, sản xuất sản phẩm
có chất lượng cao với giá thành thấp nhất. Vấn đề này liên quan đến điều kiện
chăn nuôi tại địa phương, khả năng chăm sóc cũng như các điều kiện sẵn có
về nguồn thức ăn, trình độ chăn nuôi của hộ dân tại địa phương. Nó ảnh
hưởng đến thời gian vỗ béo, khả năng nuôi dưỡng tốt của hộ dân, rút ngắn
khoảng thời gian nuôi nhưng tăng khối lượng của bò vẫn đạt tiêu chuẩn, góp
phần nâng cao thu nhập cho người chăn nuôi bò.
Theo Burns, 2005 [4], các thị trường khác nhau yêu cầu sản phẩm
mang các đặc tính riêng biệt. Do vậy, thời gian nuôi và phương thức nuôi
cũng thay đổi tùy thuộc vào yêu cầu của người tiêu dùng. Hầu hết các thị 15

trường nhập khẩu thịt bò từ Úc yêu cầu tuổi của bò tối đa là 7 răng. Bò già
chất lượng thịt sẽ kém, độ dai tăng làm giảm tính hấp dẫn của thịt bò.
Tuổi giết thịt phụ thuộc vào khả năng sinh trưởng, tốc độ sinh trưởng
của giống bò và các điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng. Bò chuyên dụng thịt
châu Âu có thể giết thịt sớm hơn các giống bò địa phương. Lê Quang Nghiệp,
1984 [29], cho rằng: Bò Vàng Việt Nam tuổi giết thịt khoảng 24 tháng tuổi
đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.
1.1.4. Một số chỉ tiêu và phương pháp đánh giá khả năng sinh trưởng và
năng suất thịt của bò
Khối lượng của bò ở các tháng tuổi chính là độ sinh trưởng tích lũy,
đường cong lý thuyết có dạng chữ S khi gia súc còn nhỏ, dốc dựng khi bò ở
giai đoạn sinh trưởng nhanh và sau đó đường cong có xu hướng nằm ngang
khi bò đạt tuổi trưởng thành, con vật thành thục về thể vóc.

bò lai Holstein với bò Lai Sind cao hơn Lai Sind, các chỉ số tròn mình 105,62
-113,16 %, chỉ số dài thân 122,45 -129,80%.
Để đánh giá khả năng cho thịt, người ta sử dụng nhiều phương pháp khác
nhau, trong đó phương pháp mổ khảo sát tách riêng thân thịt xẻ thành từng loại
riêng rẽ là phương pháp chính xác nhất. Nhưng do tính phức tạp và nó không còn
ý nghĩa đối với con giống khi bắt buộc phải giết mổ, nên nhiều nghiên cứu đã tiến
hành xem xét các mối tương quan giữa thân thịt với các chỉ tiêu khác đơn giản
hơn và dễ thực hiện hơn. Hàng loạt các nghiên cứu đã cho thấy: Tương quan giữa
các tính trạng diện tích cơ dài lưng với khối lượng thịt xẻ có r = 0,23 -0,66; tương
quan giữa tỷ lệ thịt xẻ với diện tích cơ dài lưng có r = 0,36; độ dày mỡ với diện
tích cơ dài lưng có r = 0,01 (Koots và Cs, 1994) [63].
Để đánh giá năng suất thịt người ta sử dụng các nhóm chỉ tiêu: Khối
lượng khi giết mổ, tăng khối lượng/ngày, khối lượng thịt xẻ, khối lượng thịt
tinh. Đây là những chỉ tiêu quan trọng trong chăn nuôi bò thịt.
Để nghiên cứu quá trình sinh trưởng của gia súc nhiều nhà nghiên cứu
đã đưa ra và ứng dụng các hàm hồi quy tuyến tính và phi tuyến tính để mô tả
quá trình sinh trưởng của sinh vật. Gompertz, 1825 [57] đưa ra mô hình để
xác định các quá trình sinh trưởng của sinh vật, mô hình có dạng:
Y = mEXP(-aEXP(-bx))
Trong
đó:

+ Y: Khối lượng bò
(kg)

Trích đoạn Phương pháp xác định năng suất thịt bò Nguồn thức ăn sử dụng cho bò Kích thước cao vây của bê H’Mông Vòng ngực của bê H’Mông qua các tháng tuổi Sinh trưởng tích lũy
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status