Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
MÔNG THỊ XUYẾN NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
VÀ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA LỢN BẢO
LẠC, HUYỆN BẢO LẠC, TỈNH CAO BẰNG
L
L
U
U
K
K
H
H
O
O
A
AH
H
Ọ
Ọ
C
CN
N
Ô
Ô
N
N
G
GN
NMÔNG THỊ XUYẾN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
VÀ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA LỢN BẢO
LẠC, HUYỆN BẢO LẠC, TỈNH CAO BẰNG
L
L
U
U
Ậ
Ậ
N
NV
V
Ă
Ă
N
H
Ọ
Ọ
C
CN
N
Ô
Ô
N
N
G
GN
N
G
G
H
H
I
I
Ệ
Ệ
P
P
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
4
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự
quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, Khoa sau đại học, Khoa chăn nuôi thú y, các thầy giáo, cô giáo, bạn
bè, đồng nghiệp, cơ quan và gia đình.
Trước tiên tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS.
Phạm Thị Hiền Lương, Khoa Chăn nuôi - Thú y, Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên - người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá
trình hoàn thành luận văn này.
Đồng thời tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể các thầy, cô giáo
trong khoa Sau đại học, các thầy giáo, cô giáo giảng dạy chuyên ngành,
Khoa Chăn nuôi Thú y, đã giúp đỡ hoàn thiện đề tài và có những đóng góp
ý kiến để tôi hoàn thành tốt bản luận văn này.
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới tất cả các
thầy giáo, cô giáo, bạn bè đồng nghiệp, cơ quan, gia đình và người thân đã
quan tâm động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Cao Bằng 37
Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1. Đối tượng nghiên cứu 39 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
6
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 39
2.2.1. Địa điểm nghiên cứu 39
2.2.2. Thời gian nghiên cứu 39
2.3. Nội dung nghiên cứu 39
2.5.5. Phương pháp xác định thành phần hoá học của thịt nạc 45
2.6. Phương pháp xử lý số liệu 46
Chƣơng 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 47
3.1. Tình hình phát triển và tập quán chăn nuôi lợn của huyện Bảo Lạc 47
3.1.1. Biến động về số lượng và phân bố đàn lợn qua 3 năm (2006 - 2008)
của huyện Bảo Lạc 47
3.1.2. Cơ cấu đàn lợn tại 3 xã điều tra của huyện Bảo Lạc 49
3.1.3. Hiện trạng và tập quán chăn nuôi lợn của huyện Bảo Lạc 51
3.2. Một số đặc điểm sinh học của lợn Bảo Lạc 55
3.2.1. Đặc điểm ngoại hình các nhóm lợn theo màu sắc lông 55
3.2.2. Một số chỉ tiêu sinh lý máu của lợn Bảo Lạc 58
3.3. Khả năng sản xuất của lợn nái Bảo lạc 60
3.4. Khả năng sinh trưởng và sức sản xuất thịt của lợn Bảo Lạc 67
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 83
1. Kết luận 83
2. Đề nghị 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 90
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ
Đồ thị 3.1: Sinh trưởng tích luỹ của lợn con 69
từ sơ sinh đến 8 tuần tuổi 69
Biểu đồ 3.1: Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con 70
Đồ thị 3.2: Sinh trưởng tương đối của lợn con 71
Đồ thị 3.3: Sinh trưởng tích luỹ của lợn nuôi thịt 73
Biểu đồ 3.2: Sinh trưởng tuyệt đối của lợn nuôi thịt Bảo Lạc 75
Đồ thị 3.4: Sinh trưởng tương đối của lợn nuôi thịt Bảo Lạc 75
Đồ thị 3.5: Sinh trưởng tích luỹ của lợn cái hậu bị Bảo Lạc 77
Biểu đồ 3.3: Sinh trưởng tuyệt đối của lợn cái hậu bị 78
Đồ thị 3.6: Sinh trưởng tương đối của lợn cái hậu bị 78
TCVN
Tiêu chuẩn Việt Nam
NN & PTNT
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
FAO
Tổ chức nông nghiệp và lương thực thế giới
AFTA
Khu vực mậu dịch tự do Asean
BCTT
Bạch cầu trung tính
VCK
Vật chất khô
TS
Tổng số
ĐBSCL
Đồng Bằng Sông Cửu Long
TN
Tây Nguyên
BTB
Bắc Trung Bộ
DHNTB
Duyên Hải Nam Trung Bộ
ĐBSH
Đồng Bằng Sông Hồng
Y
Yorkshire
L
Landrace
cao chất lượng thịt, phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu. Các nhà
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
2
khoa học đã nghiên cứu lai tạo thành công giống lợn ngoại với một số lợn nội
tạo ra tập đoàn các giống lợn ngoại và lợn lai tại Việt Nam đáp ứng với tình hình
phát triển chăn nuôi lợn đa dạng, phù hợp với các vùng sinh thái của nước ta.
Bên cạnh việc quan tâm phát triển các giống lợn ngoại, lợn cao sản, thì
con lợn nội ít được đầu tư, chưa có những chính sách, định hướng cụ thể để
phát triển. Lợn nội chỉ được phát triển trong kinh tế hộ gia đình nhỏ lẻ, mang
tính tự cung tự cấp, không có sự đầu tư thoả đáng để có thể phát triển thành
hàng hoá. Chúng được nuôi phổ biến ở nông thôn, vùng miền núi và thực sự
đã trở thành loài vật nuôi lâu đời nhất, gần gũi đối với người dân Việt Nam.
Nước ta có tới hơn 60 giống lợn nội, chúng phân bố rộng khắp ở các vùng
sinh thái. Tại mỗi vùng đều có những giống lợn địa phương đặc trưng cho
vùng và thị hiếu riêng của cộng đồng vùng đó. Các giống lợn này đều có
chung đặc điểm là thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên, chịu đựng kham khổ
tốt, thành thục sớm. Hiện nay, một số giống lợn nội đang có nguy cơ bị tuyệt
chủng như: lợn Ỉ, số lượng lợn nội ngày càng giảm, trong khi đó, nhu cầu về
thịt lợn nội ngày càng tăng. Lợn Bảo Lạc là một nhóm giống địa phương, có
vai trò quan trọng trong đời sống và sản xuất của người dân khu vực miền núi
vùng cao. Mặc dù còn một số hạn chế về tầm vóc và khả năng sinh sản,
nhưng nhóm giống lợn này có nhiều ưu việt như khả năng thích nghi với điều
kiện tự nhiên, tập quán và trình độ sản xuất của người dân, chất lượng thịt
thơm ngon, được người dân ưa chuộng
Trong xu thế hiện nay, đời sống vật chất của con người ngày càng được
nâng cao, nhu cầu ăn không chỉ dừng lại ở no và đủ, mà hướng tới chất lượng,
an toàn. Thịt lợn Bảo Lạc cũng đã đáp ứng được phần nào nhu cầu đó. Trải
qua quá trình lịch sử lâu đời, con lợn bản địa vẫn tồn tại và phát triển cùng với
điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Bảo Lạc cho đến ngày nay. Tuy
1.1.1. Cơ sở về việc nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của lợn
Đặc điểm về di truyền của lợn
Cũng như các loài gia súc khác, đặc điểm di truyền các tính trạng chất
lượng và số lượng trên lợn cũng tuân theo các quy luật di truyền của Mendel.
Màu sắc lông da như trắng, đen, vàng… là những tính trạng chất lượng do
một đôi gen quy định, không thay đổi qua các thế hệ. Còn các tính trạng: Số
con trên lứa, khả năng tăng trọng, phẩm chất thịt xẻ, chất lượng thân thịt… là
những tính trạng số lượng, do nhiều đôi gen quy định và chịu sự tác động của
ngoại cảnh với nhiều mức độ khác nhau (Nguyễn Văn Thiện và CS, 1998) [49].
Các tính trạng số lượng và chất lượng đều chịu sự tác động giữa kiểu di
truyền và môi trường. Kiểu di truyền hay kiểu gen là sự có mặt và hoạt động
của từng gen riêng rẽ để ảnh hưởng đến sự hình thành của tính trạng hoặc là
sự tổng hợp, sự tác động tương hỗ giữa các gen trong quá trình phát triển cá
thể, thể hiện như một thể thống nhất, toàn vẹn, điều hoà toàn bộ đời sống của
con vật. Kiểu di truyền là kết quả của quá trình tiến hoá lâu dài thông qua sự
chọn lọc tự nhiên. Kiểu hình là toàn bộ tính trạng của cá thể, hình thành biểu
hiện gắn với kiểu di truyền, nhưng có thể quan sát, phân tích được và chịu ảnh
hưởng thay đổi của các yếu tố môi trường, (Trần Đình Miên, Nguyễn Văn
Thiện và CS, 1995) [36].
Cũng theo tác giả trên cho biết: Sự phân chia đầu tiên của giá trị kiểu
hình là sự phân chia nó thành các phần có thể bị ảnh hưởng của kiểu gen và
môi trường. Kiểu gen là một tập hợp đặc biệt của các gen có được của một cá
thể và môi trường là tất cả các yếu tố không di truyền (non - genetic). Các giá
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
5
trị có liên hệ với kiểu di truyền và môi trường là giá trị kiểu gen và sai lệch
môi trường. Kiểu di truyền quy định một giá trị nào đó của cá thể và môi
trường gây ra một sự sai lệch từ giá trị này theo hướng này hoặc hướng khác.
Quan hệ này được biểu thị bằng công thức:
Những tính trạng cho hệ số di truyền thấp sẽ cho ưu thế lai cao.
Ngày nay, người ta thu được những bằng chứng cho thấy tác động bổ
sung một mình của gen không liên quan chặt chẽ với sự di truyền các tính
trạng số lượng, mà các kiểu tác động khác của gen như siêu trội, trội và át gen
cũng rất quan trọng, hơn nữa điều kiện ngoại cảnh là một nguyên nhân quan
trọng của sự biến thiên ở hầu hết các tính trạng. Việc xác định ảnh hưởng của
các nhân tố ngoại cảnh tới các tính trạng kinh tế ở gia súc sẽ rất có ích trong
việc đưa ra những biện pháp lai giống và chọn lọc có hiệu quả nhất (J.F.
Lasley, 1974) [20].
Trong chăn nuôi lợn, tính trạng số lượng quyết định đến các chỉ tiêu
kinh tế kỹ thuật, các tính trạng về năng suất ở lợn cũng như các vật nuôi khác
là kết quả tác động giữa các yếu tố di truyền và các yếu tố môi trường. Yếu tố
di truyền được thể hiện cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều môi trường sống
như: Khí hậu, dinh dưỡng, thức ăn Hai cá thể giống nhau về kiểu gen nhưng
có thể khác nhau về kiểu hình nếu được nuôi trong hai môi trường khác nhau.
Một cá thể có năng lực di truyền yếu nếu được nuôi trong môi trường thuận
lợi hơn dễ được xếp hạng cao hơn cá thể khác có năng lực di truyền cao
nhưng được nuôi trong môi trường kém (Nguyễn Thiện và CS, 2005) [47]. Vì
thế, trong thực tiễn công tác giống, muốn vật nuôi đạt năng suất chất lượng
cao thì ngoài việc thay đổi kiểu gen tạo ra những tổ hợp gen mới có năng suất
chất lượng cao, cần phải chú ý đến việc cải tiến môi trường nuôi dưỡng, chăm
sóc đối với con vật.
1.1.2. Tập tính của lợn
Theo Vũ Đình Tôn và CS, 2005 [52], lợn có tập tính sống theo bầy đàn
trong tự nhiên. Tuy nhiên, con đực có thể tách đàn đi riêng một mình, nó đủ
sức tự vệ, không cần sự che chở của con khác.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
7
Tập tính phòng vệ và đấu tranh sinh tồn của lợn: Lợn đực nhà nuôi
ta theo dõi và phát hiện ra tập tính của lợn, để có phương pháp chăm sóc cũng
như quy trình chăn nuôi hợp lý, huấn luyện lợn theo phản xạ có điều kiện, làm
cho khả năng thích nghi của lợn trong điều kiện chăn nuôi tập trung trở nên
phong phú hơn, lợn có thể phát huy hết tiềm năng của nó.
1.1.3. Đặc điểm về sự thích nghi của lợn
Khả năng thích nghi của lợn là khả năng thích ứng với sự thay đổi môi
trường sống, từ môi trường cũ sang môi trường sống mới con lợn vẫn sinh tồn
phát triển, giữ vững được các tính năng sản xuất và di truyền các đặc điểm này
cho đời sau.
Lợn có khả năng thích nghi cao với các điều kiện khí hậu khác nhau, do
đó địa bàn phân bố của chúng tương đối rộng rãi trên thế giới.
Khả năng thích nghi của lợn còn thể hiện ở khả năng duy trì được các
đặc điểm về sinh trưởng phát triển, tính năng sản xuất và di truyền các đặc
điểm tốt này cho đời sau. Khi di chuyển từ vùng ôn đới sang nhiệt đới và
ngược lại, lợn vẫn giữ được các đặc điểm của giống.
Trong thực tiễn sản xuất, người ta lợi dụng đặc điểm này để tập cho lợn
có phản xạ có điều kiện thuận lợi như: tập cho lợn có phản xạ bài tiết phân,
nước tiểu đúng nơi quy định, tập cho lợn ăn đúng chỗ, đúng giờ, huấn luyện
đực giống nhảy giá để khai thác tinh trong truyền giống nhân tạo (Trần Văn
Phùng và CS, 2004) [38].
1.1.4. Đặc điểm ngoại hình, thể chất của lợn
Theo Trần Đình Miên và CS (1975) [35], thông qua việc đánh giá ngoại
hình và thể chất của gia súc, có thể chọn làm con giống, cũng như để nuôi thịt và
xác định giá trị của con vật. Hơn nữa, có những tính trạng không thể tiến hành
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
9
cân đo hoặc phân tích bằng phương pháp hoá lý sinh, cho nên, càng phải đánh
giá qua ngoại hình, thể chất.
Ngoại hình là hình dáng bên ngoài có liên quan đến thể chất, sức khoẻ,
tiêu phát triển của con vật.
Theo Trần Đình Miên và Vũ Kính Trực (1975) [35], sinh trưởng là một
quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng về chiều
dài, chiều cao, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn cơ thể con vật
trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước. Sinh trưởng mang tính chất giai
đoạn, biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Khi nói đến sự sinh trưởng
có nghĩa là nói đến sự phát dục vì 2 quá trình này đồng thời diễn ra trong cơ thể sinh
vật, nếu như sinh trưởng là sự tích luỹ về lượng thì phát dục là sự tích luỹ về chất.
Phát dục diễn ra trong quá trình thay đổi về cấu tạo, chức năng, hình
thái, kích thước các bộ phận cơ thể. Phát dục của cơ thể con vật là quá trình
phức tạp trải qua nhiều giai đoạn từ khi rụng trứng tới khi trưởng thành, khi
con vật trưởng thành, quá trình sinh trưởng chậm lại, sự tăng sinh các tế bào ở
các cơ quan, tổ chức không nhiều lắm, cơ thể to ra, béo thêm, nhưng chủ yếu
là tích luỹ mỡ, còn phát dục xem như ở trạng thái ổn định.
Để xác định sinh trưởng thường dùng phương pháp cân định kỳ khối
lượng và đo kích thước các chiều của cơ thể. Ở lợn thường đo ở 4 chiều: Dài
thân, vòng ngực, cao vây, vòng ống và thường cân đo ở các tháng tuổi: sơ
sinh, 1, 2, 4, 6, 8, 10, 12, 18, 24, 36.
Đối với lợn sinh sản, ngoài việc cân, đo còn phải chú ý tới các thời kỳ
thành thục, thời kỳ trưởng thành và thời kỳ già, có như vậy ta mới biết được
nên phối giống cho lợn vào thời kỳ nào là tốt nhất, để không những cơ thể lợn
mẹ phát triển tốt, mà chất lượng đàn con cũng cao, biết được thời kỳ nào ta
nên loại thải lợn nái, để đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
11
1.1.5.2. Các giai đoạn sinh trưởng và phát dục của lợn
Quá trình sinh trưởng phát dục của gia súc nói chung cũng như ở lợn
nói riêng đều tuân theo các quy luật:
- Quy luật sinh trưởng và phát dục không đồng đều. Quy luật này thể
nhau. Sự sinh trưởng phát dục không đồng đều được biểu hiện ở sự thay đổi
rõ rệt về tốc độ sinh trưởng và cường độ tăng trọng của cơ thể con vật ở từng
lứa tuổi, sự sinh trưởng không đều còn thể hiện ở từng bộ phận, cơ quan (mô,
xương, cơ), có bộ phận ở thời kỳ này phát triển nhanh, nhưng ở thời kỳ khác
lại phát triển chậm.
Trên cơ sở nắm được quy luật sinh trưởng, phát dục của gia súc, sẽ giúp
cho con người xác định các điều kiện ngoại cảnh, xây dựng các khẩu phần thức
ăn thích hợp, để điều khiển sự sinh trưởng phát dục của vật nuôi, theo hướng có
lợi nhất. Để con lợn phát triển tốt, thì ở một mức độ nhất định nào đó, phải chú ý
nhiều hơn ngay lúc con mẹ có thai và trong giai đoạn con vật còn non sẽ dễ dàng
thích nghi với điều kiện sống ngoài cơ thể mẹ, nâng cao sức sản xuất và phẩm
chất giống sau này.
1.1.5.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục và khả năng cho
thịt của lợn
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, năng suất và
phẩm chất thịt.
* Giống: Theo Nguyễn Thiện và cộng sự, (2005) [47]: Giống là yếu tố
quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát dục, năng suất và phẩm chất thịt.
Thông thường các giống lợn nội cho năng suất thấp hơn so với những giống
ngoại nhập nội. Lợn Ỉ, Móng Cái nuôi 10 tháng tuổi trung bình đạt khoảng 60
kg. Trong khi đó, lợn ngoại (Landrace, Yorkshire…) nuôi tại Việt Nam có thể
đạt 90 - 100 kg lúc 6 tháng tuổi. Lợn nội mức tiêu tốn thức ăn thường rất cao
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
13
từ 4,5 - 5 kg thức ăn cho 1 kg tăng trọng, lợn ngoại nhập (Landrace,
Yorkshire) chỉ cần từ 3,2 - 3,5 kg thức ăn cho 1 kg tăng trọng. Các giống khác
nhau cũng có phẩm chất thịt xẻ và phẩm chất thịt khác nhau, lợn Móng Cái có
tỷ lệ nạc 37%, trong khi đó lợn Yorkshire có tỷ lệ nạc từ 52 - 53%.
Các giống gia súc khác nhau có khả năng tăng khối lượng khác nhau,
0
C, cho lợn sinh sản không thấp hơn 10 - 12
0
C. Nhiệt độ chuồng nuôi có
liên quan mật thiết với ẩm độ không khí, ẩm độ không khí thích hợp cho lợn ở
vào khoảng 70%. Tác giả Nguyễn Thiện và CS, (2005) [47] cho biết: Ở điều
kiện nhiệt độ và ẩm độ cao lợn phải tăng cường quá trình toả nhiệt thông qua
quá trình hô hấp (vì lợn có rất ít tuyến mồ hôi) để duy trì thăng bằng thân
nhiệt. Ngoài ra khi nhiệt độ cao sẽ làm cho khả năng thu nhận thức ăn của lợn
hàng ngày giảm. Do đó, tăng trọng bị ảnh hưởng và khả năng chuyển hóa
thức ăn kém dẫn đến sự sinh trưởng, phát dục của lợn bị giảm.
Các tác giả trên đều cho rằng ánh sáng có ảnh hưởng đến sinh trưởng
và phát triển của lợn. Đối với lợn con từ sơ sinh đến 70 ngày tuổi, nếu không
đủ ánh sáng, thì tốc độ tăng khối lượng sẽ giảm từ 9,5 - 1,5%, so với lợn con
được vận động dưới ánh sáng mặt trời. Ánh sáng mặt trời có tác dụng tăng
cường hoạt động sống và quá trình sinh lý của cơ thể vật nuôi. Dưới ánh sáng
mặt trời cơ thể phát sinh những phản ứng bên trong và bên ngoài có lợi, tăng
cường sinh trưởng phát dục, hồi phục cơ thể. Tuy nhiên, ánh sáng gay gắt
cũng làm mỡ của những vật nuôi béo bị oxy hoá mạnh. Do vậy, khi trời nóng
bức không nên để vật nuôi làm việc nặng dưới trời nắng lâu.
Mật độ lợn trong chuồng nuôi có ảnh hưởng chủ yếu đến năng suất.
Khi ta nhốt lợn ở mật độ cao, hay số con/ô chuồng quá lớn sẽ ảnh hưởng đến
tăng trọng hàng ngày của lợn và phần nào ảnh hưởng đến sự chuyển hoá thức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
15
ăn. Do vậy, khi nhốt ở mật độ cao sẽ tăng tính không ổn định trong đàn. Sự
không ổn định này là do tăng sự tấn công lẫn nhau, giảm bớt thời gian ăn và
nghỉ của lợn. Nghiên cứu của Mỹ (Bord) cho thấy: Khi nuôi lợn với mật độ
thấp, sẽ làm tăng được tốc độ tăng trọng cũng như giảm mức tiêu tốn thức ăn.
trưởng của cơ thể bằng cách làm tăng sự tổng hợp protein và kích thích sụn
liên hợp phát triển, tăng tạo xương (nhất là các xương dài).
Để chăn nuôi lợn đạt được mục đích cuối cùng là tạo ra sản phẩm thịt
cung cấp cho con người, thì việc nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sinh
trưởng và năng suất, chất lượng thịt lợn là rất quan trọng. Qua đó định hướng
cho các biện pháp kỹ thuật tác động về giống, thức ăn và dinh dưỡng…. Phù
hợp với nhu cầu của từng loại lợn, sẽ giúp cho cơ thể lợn sinh trưởng đạt mức
tối đa, tạo ra lợi ích kinh tế cao nhất trong quá trình chăn nuôi lợn.
1.1.6. Đặc điểm sinh sản và khả năng sản xuất của lợn nái
Sinh sản là điều kiện để duy trì nòi giống của tất cả các cơ thể sinh vật
sống. Ở gia súc, quá trình sinh sản không chỉ là sự truyền thông tin di truyền
từ thế hệ này đến thế hệ khác, mà còn liên quan tới sự điều chỉnh nội tiết, đến
các giai đoạn khác nhau của quá trình đó.
Khi gia súc sinh trưởng phát triển đến một giai đoạn nhất định, thì có sự
thay đổi, biểu hiện đầu tiên của sinh sản đó là sự thành thục về tính. Hoàng Toàn
Thắng và Cao Văn, (2006) [44] cho biết: Thành thục về tính là tuổi con vật bắt
đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản. Bộ máy sinh dục đã phát triển
tương đối hoàn chỉnh, con cái có khả năng sinh ra tế bào trứng, con đực có khả
năng sinh ra tinh trùng, tinh trùng và trứng gặp nhau có khả năng thụ thai.
Lợn là gia súc đa thai, sinh đẻ dễ dàng, khả năng thành thục về tính
sớm. Nguyễn Văn Thiện và CS (1998) [49] cho biết: Lợn cái nội 3 đến 4
tháng tuổi đã có hiện tượng rụng trứng, lợn đã động dục.
1.1.6.1. Đặc điểm sinh lý sinh dục lợn cái
* Chu kỳ động dục của lợn cái
Lợn cái sau khi thành thục về tính thì có biểu hiện động dục, cứ sau
một khoảng thời gian nhất định, cơ quan sinh dục của nó có những biến đổi