NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA LỢN BẢO LẠC, HUYỆN BẢO LẠC, TỈNH CAO BẰNG - Pdf 41

Header Page 1 of 16.

1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------------------

MÔNG THỊ XUYẾN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
VÀ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA LỢN BẢO
LẠC, HUYỆN BẢO LẠC, TỈNH CAO BẰNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2009

Footer Page 1 of 16.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




Header Page 2 of 16.

2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào.
Mọi sự giúp đỡ cho hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn. Các thông
tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả

Mông Thị Xuyến

Footer Page 3 of 16.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




Header Page 4 of 16.

4

LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự
quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, Khoa sau đại học, Khoa chăn nuôi thú y, các thầy giáo, cô giáo, bạn
bè, đồng nghiệp, cơ quan và gia đình.
Trước tiên tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS.
Phạm Thị Hiền Lương, Khoa Chăn nuôi - Thú y, Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên - người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá
trình hoàn thành luận văn này.

Đồng thời tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể các thầy, cô giáo

MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1

1.Tính cấp thiết của đề tài .......................................................................................... 1
2. Mục tiêu của đề tài ................................................................................................. 3
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................................. 4

1.1. Cơ sở khoa học của đề tài ................................................................................... 4
1.1.1. Cơ sở về việc nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của lợn ......... 4
1.1.2. Tập tính của lợn ............................................................................ 6
1.1.3. Đặc điểm về sự thích nghi của lợn ................................................ 8
1.1.4. Đặc điểm ngoại hình, thể chất của lợn .......................................... 8
1.1.5. Đặc điểm về sinh trưởng, khả năng sản xuất và phẩm chất thịt của lợn.. 9
1.1.6. Đặc điểm sinh sản và khả năng sản xuất của lợn nái ................... 16
1.1.7. Cơ sở khoa học nghiên cứu một số chỉ tiêu huyết học ở lợn........ 27
1.2. Tình hình chăn nuôi lợn trên thế giới và ở Việt Nam ..................................... 29
1.2.1. Tình hình chăn nuôi lợn trên thế giới .......................................... 29
1.2.2. Tình hình chăn nuôi lợn trong nước ............................................ 32
1.3. Vài nét về đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội của huyện Bảo Lạc, tỉnh
Cao Bằng .......................................................................................................... 37
Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........... 39

2.1. Đối tượng nghiên cứu ....................................................................................... 39

Footer Page 5 of 16.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên





Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




Header Page 7 of 16.

7

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Cơ cấu giống của đàn lợn huyện Bảo Lạc qua 3 năm (2006-2008) ... 47
Bảng 3.2. Cơ cấu đàn lợn tại 3 xã của huyện Bảo Lạc năm 2008 ..................... 49
Bảng 3.3. Phân loại lợn Bảo Lạc theo màu sắc lông tại 3 xã của huyện
Bảo Lạc ........................................................................................ 55
Bảng 3.4: Một số chỉ tiêu sinh lý máu của lợn Bảo Lạc ................................ 58
Bảng 3.5. Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái ................................. 60
Bảng 3.6. Một số chỉ tiêu về sức sản xuất của lợn nái Bảo Lạc .................... 64
Bảng 3.7. Khối lượng lợn con từ sơ sinh đến 8 tuần tuổi (kg/con) ................ 68
Bảng 3.8. Sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của lợn con giai đoạn ss - 8
tuần tuổi ....................................................................................... 70
Bảng 3.9. Khối lượng lợn nuôi thịt Bảo Lạc qua các tháng tuổi (kg/con) ..... 72
Bảng 3.10. Sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của lợn nuôi thịt Bảo Lạc ..... 74
Bảng 3.11. Khối lượng lợn cái hậu bị qua các tháng tuổi (kg/con)............... 76
Bảng 3.12. Sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của lợn nái hậu bị Bảo Lạc .......77
Bảng 3.13. Khối lượng và một số chiều đo chính của lợn nái sinh sản
Bảo Lạc ........................................................................................ 79
Bảng 3.14. Kết quả mổ khảo sát sức sản xuất thịt của lợn Bảo Lạc ở 12
tháng tuổi (n = 4) .......................................................................... 80
Bảng 3.15. Thành phần hoá học của thịt lợn Bảo Lạc (%) ............................ 82


Header Page 9 of 16.

9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
CS, ĐVT
KL
g, g%
Hb
HC
BC
NXBNN
NXBGD
STH
VCN
MC
SS
TCVN
NN & PTNT
WTO
FAO
AFTA
BCTT
VCK
TS
ĐBSCL
TN
BTB
DHNTB

Duyên Hải Nam Trung Bộ
Đồng Bằng Sông Hồng
Yorkshire
Landrace

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




Header Page 10 of 16.

1

MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi lợn trên thế giới cũng như ở Việt Nam giữ một vai trò rất
quan trọng, được phát triển ở hầu khắp các nước trên thế giới. Sở dĩ lợn có thể
phát triển một cách dễ dàng là do nó có nhiều đặc tính ưu việt: ăn tạp, chi
phí/1kg tăng khối lượng thấp, sức chịu đựng tốt với các điều kiện vệ sinh
chăm sóc khác nhau, chu kỳ sinh sản ngắn và tốc độ tăng trưởng nhanh, nên
khả năng cho sản phẩm rất lớn. Mỗi năm, 1 nái có thể đẻ từ 2 đến 2,4 lứa và
lượng thịt lợn được sản xuất từ một lợn nái cũng rất cao, có thể đạt tới 2
tấn/năm. Mặt khác, thịt lợn giàu dinh dưỡng, phẩm chất tốt, dễ chế biến, phù
hợp với khẩu vị của đa số người tiêu dùng, nên mức tiêu thụ rất cao. Lượng
thịt lợn tiêu thụ trên thế giới tương đương với thịt bò, ở mức khoảng 40%
tổng lượng thịt (FAO). Ở Việt Nam, thịt lợn là nguồn thực phẩm chính.
Ngoài việc cung cấp nguồn thực phẩm quan trọng, thì chăn nuôi lợn
còn cung cấp một lượng phân bón rất lớn cho ngành trồng trọt, khí biogas
phục vụ sinh hoạt ở nông thôn, cung cấp nguồn nguyên liệu cho ngành công

đã trở thành loài vật nuôi lâu đời nhất, gần gũi đối với người dân Việt Nam.
Nước ta có tới hơn 60 giống lợn nội, chúng phân bố rộng khắp ở các vùng
sinh thái. Tại mỗi vùng đều có những giống lợn địa phương đặc trưng cho
vùng và thị hiếu riêng của cộng đồng vùng đó. Các giống lợn này đều có
chung đặc điểm là thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên, chịu đựng kham khổ
tốt, thành thục sớm. Hiện nay, một số giống lợn nội đang có nguy cơ bị tuyệt
chủng như: lợn Ỉ, số lượng lợn nội ngày càng giảm, trong khi đó, nhu cầu về
thịt lợn nội ngày càng tăng. Lợn Bảo Lạc là một nhóm giống địa phương, có
vai trò quan trọng trong đời sống và sản xuất của người dân khu vực miền núi
vùng cao. Mặc dù còn một số hạn chế về tầm vóc và khả năng sinh sản,
nhưng nhóm giống lợn này có nhiều ưu việt như khả năng thích nghi với điều
kiện tự nhiên, tập quán và trình độ sản xuất của người dân, chất lượng thịt
thơm ngon, được người dân ưa chuộng..
Trong xu thế hiện nay, đời sống vật chất của con người ngày càng được
nâng cao, nhu cầu ăn không chỉ dừng lại ở no và đủ, mà hướng tới chất lượng,
an toàn. Thịt lợn Bảo Lạc cũng đã đáp ứng được phần nào nhu cầu đó. Trải
qua quá trình lịch sử lâu đời, con lợn bản địa vẫn tồn tại và phát triển cùng với
điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Bảo Lạc cho đến ngày nay. Tuy
nhiên, lợn Bảo Lạc còn bị hạn chế bởi tầm vóc nhỏ, khả năng sinh trưởng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 11 of 16.




Header Page 12 of 16.

3

Chƣơng 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Cơ sở về việc nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của lợn
Đặc điểm về di truyền của lợn
Cũng như các loài gia súc khác, đặc điểm di truyền các tính trạng chất
lượng và số lượng trên lợn cũng tuân theo các quy luật di truyền của Mendel.
Màu sắc lông da như trắng, đen, vàng… là những tính trạng chất lượng do
một đôi gen quy định, không thay đổi qua các thế hệ. Còn các tính trạng: Số
con trên lứa, khả năng tăng trọng, phẩm chất thịt xẻ, chất lượng thân thịt… là
những tính trạng số lượng, do nhiều đôi gen quy định và chịu sự tác động của
ngoại cảnh với nhiều mức độ khác nhau (Nguyễn Văn Thiện và CS, 1998) [49].
Các tính trạng số lượng và chất lượng đều chịu sự tác động giữa kiểu di
truyền và môi trường. Kiểu di truyền hay kiểu gen là sự có mặt và hoạt động
của từng gen riêng rẽ để ảnh hưởng đến sự hình thành của tính trạng hoặc là
sự tổng hợp, sự tác động tương hỗ giữa các gen trong quá trình phát triển cá
thể, thể hiện như một thể thống nhất, toàn vẹn, điều hoà toàn bộ đời sống của
con vật. Kiểu di truyền là kết quả của quá trình tiến hoá lâu dài thông qua sự
chọn lọc tự nhiên. Kiểu hình là toàn bộ tính trạng của cá thể, hình thành biểu
hiện gắn với kiểu di truyền, nhưng có thể quan sát, phân tích được và chịu ảnh
hưởng thay đổi của các yếu tố môi trường, (Trần Đình Miên, Nguyễn Văn
Thiện và CS, 1995) [36].
Cũng theo tác giả trên cho biết: Sự phân chia đầu tiên của giá trị kiểu
hình là sự phân chia nó thành các phần có thể bị ảnh hưởng của kiểu gen và
môi trường. Kiểu gen là một tập hợp đặc biệt của các gen có được của một cá
thể và môi trường là tất cả các yếu tố không di truyền (non - genetic). Các giá

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


A là thành phần quan trọng nhất của kiểu gen vì nó ổn định, có thể xác
định được và di truyền cho đời sau. Hai thành phần D và I cũng có vai trò
quan trọng vì đó là giá trị giống đặc biệt và chỉ xác định được thông qua con
đường thực nghiệm.
Theo J. F. Lasley, 1974 (dẫn theo Trần Văn Tường và Nguyễn Quang
Tuyên, 2000) [57], những tính trạng có hệ số di truyền (h2) từ 0,12 - 0,30 là
những tính trạng có hệ số di truyền thấp.
Những tính trạng có hệ số di truyền bằng 0,4 - 0,5 là những tính trạng
có hệ số di truyền trung bình.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 14 of 16.




Header Page 15 of 16.

6

Những tính trạng có hệ số di truyền bằng 0,5 trở lên là những tính trạng
có hệ số di truyền cao và cho hệ quả chọn lọc cao.
Những tính trạng cho hệ số di truyền thấp sẽ cho ưu thế lai cao.
Ngày nay, người ta thu được những bằng chứng cho thấy tác động bổ
sung một mình của gen không liên quan chặt chẽ với sự di truyền các tính
trạng số lượng, mà các kiểu tác động khác của gen như siêu trội, trội và át gen
cũng rất quan trọng, hơn nữa điều kiện ngoại cảnh là một nguyên nhân quan
trọng của sự biến thiên ở hầu hết các tính trạng. Việc xác định ảnh hưởng của
các nhân tố ngoại cảnh tới các tính trạng kinh tế ở gia súc sẽ rất có ích trong

Tập tính phòng vệ và đấu tranh sinh tồn của lợn: Lợn đực nhà nuôi
riêng, khi hai con gặp nhau, lông gáy dựng đứng, hai hàm răng va vào nhau
phát ra tiếng kêu kịch, kịch đe doạ lẫn nhau, bọt mép sùi ra hai bên mũi, lợn
đực xông lên nhằm đe doạ nhau; trong giao phối tự nhiên vào mùa sinh sản
của lợn thường xảy ra các cuộc chiến tranh dành lợn cái giữa các con đực.
Lợn có tính tò mò cao và rất hiếu động; lợn nhà được tập luyện cho ăn
với hiệu lệnh, đúng giờ ăn, ỉa, đái, nằm ngủ đúng chỗ quy định. Khi sợ hãi,
lợn thường kêu rít, cơ bắp run, chụm vào nhau ở một góc chuồng, lợn thích
ngủ nơi tối.
Lợn có một số tập tính hoạt động thông thường như đi lại, đứng và ngủ
trong thời gian nằm.
* Một số tập tính đặc thù của lợn:
- Hoạt động bú sữa của lợn: Khi cho con bú, con mẹ nằm nghiêng,
thẳng, hai hàng vú lộ rõ. Đàn con bú mỗi con một vú, tranh thủ mút liên tục
mỗi con 9 - 10 giây, con mẹ phát tiếng kêu “Ịt, ịt…” liên tục đều đặn trong
khi tiết sữa cho con bú. Lợn con mới sinh ra có thể đứng ngay được và có thể
tự tìm vú mẹ để bú, lợn mẹ vừa đẻ vừa cho con bú. Trong chăn nuôi lợn nái
xem xét hoạt động này để đánh giá một phần khả năng tiết sữa của lợn mẹ,
sức khoẻ và chất lượng đàn con. Nếu thời gian thúc vú nhiều mà mút sữa ít,
chứng tỏ khả năng sản xuất sữa của lợn mẹ hạn chế.
- Hoạt động phối giống của lợn đực: Con đực còn có hoạt động nhảy
cái, có bản năng phát hiện được con cái động dục, nó tìm cách tiếp cận, nếu
con cái tiếp nhận, thì lợn đực sẽ tiến hành giao phối.
- Hoạt động của lợn nái đẻ: Lợn nái chuẩn bị đẻ có biểu hiện tìm ổ, cào
phá. Biết được hoạt động của lợn nái đẻ người chăn nuôi lợn có thể quan sát

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 16 of 16.


1.1.4. Đặc điểm ngoại hình, thể chất của lợn
Theo Trần Đình Miên và CS (1975) [35], thông qua việc đánh giá ngoại
hình và thể chất của gia súc, có thể chọn làm con giống, cũng như để nuôi thịt và
xác định giá trị của con vật. Hơn nữa, có những tính trạng không thể tiến hành

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 17 of 16.




Header Page 18 of 16.

9

cân đo hoặc phân tích bằng phương pháp hoá lý sinh, cho nên, càng phải đánh
giá qua ngoại hình, thể chất.
Ngoại hình là hình dáng bên ngoài có liên quan đến thể chất, sức khoẻ,
hoạt động của các bộ phận bên trong cơ thể cũng như khả năng sản xuất của
gia súc và là hình dạng đặc trưng của một phẩm giống. Thể chất liên quan
chặt chẽ với sức khoẻ, con vật có thể chất tốt thì suốt đời khoẻ mạnh, nhanh,
có sức sản xuất cao, dù điều kiện ngoại cảnh có thay đổi khá nhiều. Thể chất
có biểu hiện qua ngoại hình là sức khoẻ đầy đủ, sức sống, sức đề kháng, sức
sinh sản, tính thích nghi của gia súc, ở cơ thể chắc chắn, ở bộ phận có liên
quan trực tiếp đến sức sản xuất như mông, vai, phát triển ở thịt lợn sẽ cho
nhiều thịt. Đặc trưng của một phẩm giống trước tiên bao giờ cũng nhìn qua
ngoại hình, nhất là đối với màu sắc lông, da hoặc là các bộ phận thuộc giới
tính và thông qua ngoại hình giúp ta biết được hướng sản xuất của con vật.
Ngoại hình, là một đặc điểm, mà khả năng di truyền ít chịu ảnh hưởng bởi

quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng về chiều
dài, chiều cao, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn cơ thể con vật
trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước. Sinh trưởng mang tính chất giai
đoạn, biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Khi nói đến sự sinh trưởng
có nghĩa là nói đến sự phát dục vì 2 quá trình này đồng thời diễn ra trong cơ thể sinh
vật, nếu như sinh trưởng là sự tích luỹ về lượng thì phát dục là sự tích luỹ về chất.
Phát dục diễn ra trong quá trình thay đổi về cấu tạo, chức năng, hình
thái, kích thước các bộ phận cơ thể. Phát dục của cơ thể con vật là quá trình
phức tạp trải qua nhiều giai đoạn từ khi rụng trứng tới khi trưởng thành, khi
con vật trưởng thành, quá trình sinh trưởng chậm lại, sự tăng sinh các tế bào ở
các cơ quan, tổ chức không nhiều lắm, cơ thể to ra, béo thêm, nhưng chủ yếu
là tích luỹ mỡ, còn phát dục xem như ở trạng thái ổn định.
Để xác định sinh trưởng thường dùng phương pháp cân định kỳ khối
lượng và đo kích thước các chiều của cơ thể. Ở lợn thường đo ở 4 chiều: Dài
thân, vòng ngực, cao vây, vòng ống và thường cân đo ở các tháng tuổi: sơ
sinh, 1, 2, 4, 6, 8, 10, 12, 18, 24, 36.
Đối với lợn sinh sản, ngoài việc cân, đo còn phải chú ý tới các thời kỳ
thành thục, thời kỳ trưởng thành và thời kỳ già, có như vậy ta mới biết được
nên phối giống cho lợn vào thời kỳ nào là tốt nhất, để không những cơ thể lợn
mẹ phát triển tốt, mà chất lượng đàn con cũng cao, biết được thời kỳ nào ta
nên loại thải lợn nái, để đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 19 of 16.




Header Page 20 of 16.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 20 of 16.




Header Page 21 of 16.

12

đưa vào nuôi thịt hay hậu bị không bị chậm lớn. Đây là điều kiện để cai sữa
sớm cho lợn con có kết quả (Nguyễn Văn Thiện và cộng sự, 1998) [49].
Theo D.A.Kislowsky, 1930 (dẫn theo Nguyễn Ân và CS, 1983) [2] đã
cho biết: Thời gian của các giai đoạn sinh trưởng dài hay ngắn, số lượng giai
đoạn và sự đột biến trong sinh trưởng của từng giống, từng cá thể có sự khác
nhau. Sự sinh trưởng phát dục không đồng đều được biểu hiện ở sự thay đổi
rõ rệt về tốc độ sinh trưởng và cường độ tăng trọng của cơ thể con vật ở từng
lứa tuổi, sự sinh trưởng không đều còn thể hiện ở từng bộ phận, cơ quan (mô,
xương, cơ), có bộ phận ở thời kỳ này phát triển nhanh, nhưng ở thời kỳ khác
lại phát triển chậm.
Trên cơ sở nắm được quy luật sinh trưởng, phát dục của gia súc, sẽ giúp
cho con người xác định các điều kiện ngoại cảnh, xây dựng các khẩu phần thức
ăn thích hợp, để điều khiển sự sinh trưởng phát dục của vật nuôi, theo hướng có
lợi nhất. Để con lợn phát triển tốt, thì ở một mức độ nhất định nào đó, phải chú ý
nhiều hơn ngay lúc con mẹ có thai và trong giai đoạn con vật còn non sẽ dễ dàng
thích nghi với điều kiện sống ngoài cơ thể mẹ, nâng cao sức sản xuất và phẩm
chất giống sau này.
1.1.5.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục và khả năng cho
thịt của lợn

* Thức ăn: Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng của yếu tố ngoại cảnh chi
phối đến sinh trưởng và khả năng cho thịt của lợn. Trần Văn Phùng và CS,
(2004) [38] cho rằng: Các yếu tố di truyền không thể phát huy tối đa, nếu
không có một môi trường dinh dưỡng và thức ăn hoàn chỉnh. Một số thí
nghiệm đã chứng minh rằng, khi chúng ta cung cấp cho lợn các mức dinh
dưỡng khác nhau có thể làm thay đổi tỷ lệ các phần trong cơ thể. Khẩu phần
có mức năng lượng cao và mức protein thấp thì lợn sẽ tích luỹ mỡ nhiều hơn
so với những khẩu phần có mức năng lượng thấp và hàm lượng protein cao.
Khẩu phần có mức protein cao, thì gia súc nói chung và lợn nói riêng, sẽ có tỷ
lệ nạc cao hơn. Trong thời gian mang thai ảnh hưởng của nuôi dưỡng rất rõ,
nuôi dưỡng gia súc mẹ tốt trong thời gian mang thai sẽ giúp gia súc mẹ nhiều
con và gia súc con khoẻ mạnh.
Lượng thức ăn cho ăn cũng như thành phần dinh dưỡng ảnh hưởng trực
tiếp đến tốc độ tăng trọng của lợn, theo Robinson, 1930 (dẫn theo Vũ Đình Tôn
và CS, 2005) [52]: Hàm lượng xơ thô tăng từ 2,4% lên 11% thì tăng trọng mỗi

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 22 of 16.




Header Page 23 of 16.

14

ngày của lợn giảm từ 566g xuống 408g và thức ăn cần cho một kg tăng trọng
tăng lên 62%.
* Môi trường: (Trần Văn Phùng và CS, 2004) [38] cho biết: Môi trường


Header Page 24 of 16.

15

ăn. Do vậy, khi nhốt ở mật độ cao sẽ tăng tính không ổn định trong đàn. Sự
không ổn định này là do tăng sự tấn công lẫn nhau, giảm bớt thời gian ăn và
nghỉ của lợn. Nghiên cứu của Mỹ (Bord) cho thấy: Khi nuôi lợn với mật độ
thấp, sẽ làm tăng được tốc độ tăng trọng cũng như giảm mức tiêu tốn thức ăn.
Chăm sóc ảnh hưởng chủ yếu đến năng suất, chuồng vệ sinh kém dễ gây
bệnh, chuồng nuôi ồn ào, không yên tĩnh đều làm năng suất giảm. Sức khoẻ
trong giai đoạn bú sữa kém như thiếu máu, còi cọc thì đến giai đoạn nuôi thịt
tăng trọng kém (Theo Vũ Đình Tôn, 2005) [52].
Phương thức nuôi dưỡng như cho ăn tự do sẽ làm tăng tốc độ tăng
trọng của cả lợn đực thiến và lợn cái so với ăn hạn chế, những giống lợn
hướng mỡ nên cho ăn hạn chế ngay từ đầu, với những giống lợn hướng nạc
cho ăn tự do sẽ có được năng suất và chất lượng tốt nhất.
Theo quan điểm di truyền học thì hầu hết các tính trạng về sản xuất của
gia súc gia cầm như: Sinh trưởng, cho lông, cho thịt, trứng, sản lượng sữa,
sinh sản… đều là tính trạng số lượng. Tính trạng số lượng là những tính trạng
ở đó sự sai khác giữa các cá thể là sự sai khác nhau về mức độ, hơn là sự sai
khác nhau về chủng loại. Darwin đã chỉ rõ sự sai khác này chính là nguyên
liệu cho chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo. Tính trạng số lượng còn gọi
là tính trạng đo lường (metriccharacter), sự nghiên cứu chúng phụ thuộc vào
sự đo lường như: Khối lượng cơ thể, tốc độ tăng trọng, sản lượng trứng, kích
thước các chiều đo… (Trần Đình Miên và CS, 1975) [35].
Ảnh hưởng của năm: năm thí nghiệm gây ảnh hưởng lớn đến tính trạng
tỷ lệ nạc của lợn. Theo Nguyễn Văn Đức (1997), (dẫn theo Giang Hồng
Tuyến, 2009) [56] cho biết: Ở lợn Móng Cái, yếu tố năm gây ảnh hưởng đến
tính trạng tỷ lệ nạc. Điều này có thể giải thích rằng điều kiện ngoại cảnh mỗi

Khi gia súc sinh trưởng phát triển đến một giai đoạn nhất định, thì có sự
thay đổi, biểu hiện đầu tiên của sinh sản đó là sự thành thục về tính. Hoàng Toàn
Thắng và Cao Văn, (2006) [44] cho biết: Thành thục về tính là tuổi con vật bắt
đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản. Bộ máy sinh dục đã phát triển
tương đối hoàn chỉnh, con cái có khả năng sinh ra tế bào trứng, con đực có khả
năng sinh ra tinh trùng, tinh trùng và trứng gặp nhau có khả năng thụ thai.
Lợn là gia súc đa thai, sinh đẻ dễ dàng, khả năng thành thục về tính
sớm. Nguyễn Văn Thiện và CS (1998) [49] cho biết: Lợn cái nội 3 đến 4
tháng tuổi đã có hiện tượng rụng trứng, lợn đã động dục.
1.1.6.1. Đặc điểm sinh lý sinh dục lợn cái
* Chu kỳ động dục của lợn cái
Lợn cái sau khi thành thục về tính thì có biểu hiện động dục, cứ sau
một khoảng thời gian nhất định, cơ quan sinh dục của nó có những biến đổi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 25 of 16.





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status