Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và khả năng gây đáp ứng miễn dịch trên gà đẻ trứng của chủng vi khuẩn Streptococcus iniae phân lập từ cá chẽm - Pdf 25

i

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Cúc SVTH: Ngô Thị Giang

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG
o0o
NGÔ THỊ GIANG NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ KHẢ NĂNG
GÂY ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH TRÊN GÀ ĐẺ TRỨNG CỦA CHỦNG
VI KHUẨN Streptococcus iniae PHÂN LẬP TỪCÁ CHẼM ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ SINH HỌC

GVHD : ThS. NGUYỄN THỊ KIM CÚC
Ths. LÊ NHÃ UYÊN Nha Trang, tháng 07 năm 2013
i

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Cúc SVTH: Ngô Thị Giang



GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Cúc SVTH: Ngô Thị Giang

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tổng quan về tình hình nuôi cá chẽm trên thế giới và Việt Nam 3
1.1.1 Tình hình nuôi cá chẽm trên thế giới 3
1.1.2 Tình hình nuôi cá chẽm ở Việt Nam 3
1.2 Các bệnh thường gặp trên cá chẽm 4
1.2.1 Bệnh do vi khuẩn 4
1.2.2 Bệnh do kí sinh trùng 4
1.2.3 Bệnh do virus 5
1.3 Bệnh do vi khuẩn Streptococcus iniae gây ra trong nuôi trồng thủy sản 5
1.3.1 Tình hình dịch bệnh Streptococcus iniae trong nuôi trồng thủy sản 5
1.3.2 Bệnh do vi khuẩn Streptococcus iniae gây ra trên cá chẽm 6
1.4 Dấu hiệu bên ngoài và giải phẫu bệnh lý bên trong cá chẽm bệnh do
Streptococcosis iniae gây ra 7
1.5 Một số đặc điểm hình thái, sinh lý, sinh hóa của vi khuẩn Streptococcus iniae 8
1.6 Biện pháp phòng trị bệnh trên cá chẽm do vi khuẩn Streptococcus iniae gây ra 10
1.7 Tổng quan về đáp ứng miễn dịch ở gà 11
1.7.1 Nguyên lý tạo kháng thể lòng đỏ trứng 11
1.7.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tạo miễn dịch ở gà 13
1.7.2.1 Kháng nguyên 13
1.7.2.2 Liều lượng tiêm 15

3.1.4 Kết quả giải trình tự gen 16S-rDNA của các chủng vi khuẩn phân lập 40
3.1.5 Xác định độ nhạy kháng sinh của chủng Streptococcus iniae 40
3.1.6 Kết quả phân tích protein của S. iniae bằng điện di SDS - PAGE 42
3.2 Xác định khả năng sử dụng vi khuẩn S. iniae bất hoạt làm kháng nguyên cho việc sản
xuất kháng thể lòng đỏ trứng 43
iv

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Cúc SVTH: Ngô Thị Giang

3.2.1 Tính vô khuẩn của kháng nguyên bất hoạt 43
3.2.2 Đường cong đáp ứng miễn dịch ở gà (kết quả nồng độ IgY qua các tuần đáp
ứng miễn dịch) 43
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 47
Kết luận 47
Kiến nghị 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
PHỤ LỤC


vi

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Cúc SVTH: Ngô Thị Giang

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Một số đặc điểm sinh hóa của vi khuẩn Streptococcus iniae 9
Bảng 2.1 Thành phần và các dung dịch điện di protein 28
Bảng 2.2 Bố trí thí nghiệm gây tạo miễn dịch trên gà đẻ trứng 30
Bảng 2.3 Phương pháp pha dung dịch BSA dựng đường chuẩn 32
Bảng 3.1 Một số đặc điểm sinh hóa của các chủng vi khuẩn phân lập từ cá chẽm 38
Bảng 3.2 Độ nhạy cảm kháng sinh của chủng vi khuẩn S. iniae phân lập từ các
chẽm nuôi tại Cam Ranh – Khánh Hòa 41
Bảng 3.3 Nồng độ IgY tinh sạch từ lòng đỏ trứng ở các tuần sau khi gây miễn dịch
44
Bảng 3.4 ANOVA kiểm định kết quả đáp ứng miễn dịch giữa nhóm gà miễn dịch và
nhóm gà đối chứng 45 vii


ta. Sự phát triển nghề nuôi cá chẽm gia tăng nhanh chóng cả về quy mô và diện tích
nhưng lại thiếu sự quản lý, quy hoạch cũng như không chú ý đảm bảo yếu tố môi
trường là những điều kiện để dịch bệnh bùng phát, gây thiệt hại lớn đến sản lượng
thu hoạch và nguồn thu kinh tế thủy sản trong thời gian qua.
Trong số các bệnh thường gặp ở cá chẽm (Lates calcarifer) có thể kể đến bệnh
Streptococcosis do các chủng vi khuẩn Streptococcus gây ra. Chúng là những vi
khuẩn hình cầu, có đường kính lên đến 1,5 µm, các tế bào thường ghép với nhau tạo
thành chuỗi liên cầu khuẩn. Những liên cầu khuẩn này thuộc vi khuẩn Gram (+),
không sinh bào tử, không di động và tác động của chúng gây ra thiệt hại rất lớn đến
nghề nuôi cá biển trên thế giới, cũng như tại Việt Nam. Vì vậy, việc nghiên cứu các
chủng vi khuẩn Streptococcus để điều trị bệnh cho cá là điều cần thiết.
Cho đến nay, các biện pháp phòng và chữa bệnh chủ yếu vẫn là sử dụng thuốc
sát trùng, kháng sinh và gần đây là vaccine. Tuy nhiên, thuốc sát trùng thường để lại
hậu quả nghiêm trọng về môi trường. Bên cạnh đó, thuốc kháng sinh cũng có nguy
cơ dẫn đến phá vỡ hệ vi khuẩn chính trong môi trường và có thể để lại dư lượng
trong cá, tạo ra những tác động tiềm ẩn gây nguy hại cho môi trường và con người.
Việc sử dụng vaccine tuy an toàn với con người và môi trường nhưng nó chỉ mang
tính phòng bệnh mà không mang tính chữa bệnh. Trước tình hình đó, cần có các chế
phẩm sinh học không độc, chứa những thành phần có tác dụng ức chế và tiêu diệt
đặc hiệu mầm bệnh gây bệnh. Công nghệ sản xuất kháng thể IgY ở gà đã được
chứng minh có khả năng đáp ứng được các yêu cầu trên do kháng thể IgY từ máu gà
mái được chuyển qua và tích tụ trong lòng đỏ trứng của chúng, nên chỉ cần gây
miễn dịch cho gà mái và thu hoạch trứng có kháng thể. Hơn thế, việc sử dụng kháng
thể trứng gà (IgY) còn cho rất nhiều ưu điểm như dễ dàng thu nhận dựa trên việc
2

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Cúc SVTH: Ngô Thị Giang

thu nhận trứng gà, việc sản xuất IgY rất thuận lợi và kinh tế vì chi phí cho nuôi gà
thấp mà năng suất sản sinh kháng thể rất cao.


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về tình hình nuôi cá chẽm trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1 Tình hình nuôi cá chẽm trên thế giới
Do giá trị dinh dưỡng cao, nhu cầu thị trường ngày càng mở rộng và là loài
phân bố rộng lại dễ nuôi đã làm cho cá chẽm trở thành một loài có giá trị kinh tế
quan trọng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc Châu Á Thái Bình Dương. Kỹ
thuật nuôi cá chẽm được phát triển lần đầu tiên ở phòng thí nghiệm Songkhla
Marine (Thái Lan) từ những năm đầu của thập niên 1970. Đến năm 1973 họ đã đạt
được thành công bằng việc sử dụng đàn cá bố mẹ thành thục được bắt ngoài tự
nhiên cho thụ tinh nhân tạo. Tiếp đó kỹ thuật sinh sản nhân tạo được cải tiến và đạt
được thành công, đến năm 1975 họ đã sử dụng đàn cá bố mẹ thành thục trong điều
kiện nuôi cho sinh sản thành công và hoàn thiện các giai đoạn phát triển của vòng
đời cá chẽm trong điều kiện sinh sản nhân tạo. Sau đó, kỹ thuật này được sử dụng
rộng dãi tại các trạm thủy sản và các trạm sản xuất tư nhân khác. Năm 1977, Trạm
Thủy Sản Rayong sử dụng hormone kích thích sinh sản nhân tạo thành công. Sau đó
quy trình sản xuất giống cá chẽm được phát triển rộng và là sản phẩm thương phẩm
của nhiều nước: Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, Hồng Kông, Đài Loan
trong các ao nước lợ, nước ngọt cũng như nuôi trong lồng ở ven biển. Gần đây, kỹ
thuật nuôi cá chẽm được phát triển ở một số quốc gia như Mỹ, Hà Lan và Anh [21].
1.1.2 Tình hình nuôi cá chẽm ở Việt Nam
Ở nước ta, cá biển được nuôi ở cả 3 vùng biển phía Bắc, vùng Nam Trung
Bộ và vùng phía Nam. Các loài nuôi chính là loài cá mú (Epinephelus), cá giò
(Rachycentron canadum), cá hồng đỏ (Lutjanus erythropterus), cá tráp đen
(Rhabdosargus sarba) và cá chẽm (Lates calcarifer). Trong đó, cá chẽm là loài rộng
muối có khả năng chống chịu tốt với những biến động của môi trường. Ở Việt Nam,
cá chẽm được xem như là đối tượng nuôi thay thế cho diện tích nuôi tôm không
hiệu quả ở một số địa phương ven biển ở nước ta. Tuy nhiên, hiện nay chưa có số
liệu thống kê cụ thể về sản lượng cũng như diện tích nuôi cá chẽm ở nước ta, nhưng
4

Bệnh trypanosomosis: là bệnh gây ra bởi Trypanosoma sp Dấu hiệu bệnh là
cá bị hôn mê, mất tập trung, mù mắt và chết. Mắt cũng có thể bị lồi và bị xuất huyết
5

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Cúc SVTH: Ngô Thị Giang

bên trong, đồng thời xuất hiện vùng lở loét xuất huyết và vùng ăn mòn trên da. Bên
trong, thận căng to và tình trạng thiếu máu xảy ra, kết quả làm cho cá chết với tỷ lệ
cao [1].
Bệnh Piscinoodiniasis: Tác nhân gây bệnh là Piscinoodiniasis sp. bệnh thường
gặp ở cá chẽm nuôi nước ngọt. Bệnh xảy ra ở cá nhỏ thì có các vết mờ hoặc màu
xanh bạc, ở cá lớn hơn thì có các mảng nổi trên bề mặt da và có các vết lở loét, nắp
mang hoạt động mạnh, mang tiết dịch và có màu xanh đen [23].
Bệnh Amyloodiniasis: Tác nhân chính là do Amyloodinium ocellatum thường
gặp ở cá chẽm nuôi biển. Bệnh thường xuất hiện khi nhiệt độ thấp và nhiệt độ giảm
đột ngột [23].
Bệnh sán lá da: Gây ra bởi Neobenedinia melleni, Gyrodactylus spp Dấu hiệu
chính của bệnh là mắt mờ, xuất hiện các mảng trắng trên da, lở loét trên da. Bệnh
thường xảy ra ở điều kiện độ mặn cao và nhiệt độ nước thấp [1].
1.2.3 Bệnh do virus
Ở cá chẽm, đã phát hiện được hai virus gây bệnh chính là:
Bệnh virus gây hoại tử thần kinh VNN (Viral Nervous Necrosis): Tác nhân
gây bệnh là nhóm Nodavirus cá. Đặc điểm của bệnh là virus làm thoái hóa các
nơron thần kinh trong hệ thần kinh trung ương và võng mạc. Vì vậy, khi bị nhiễm
virus, cá ở trạng thái mất cân bằng, cơ không kiểm soát được và loạn chức năng thị
giác [1].
Bệnh lymphocytis: Do Iridovirus gây nên. Bệnh làm cho cá xuất hiện các mụn
cóc trên da, vây, thông thường chỉ gây chết nếu xâm nhiễm nhiều và kết hợp với
điều kiện môi trường xấu, giai đoạn cá ấu niên thường dễ mắc bệnh hơn cá trưởng
thành [23].

(Singanus canaliculatus). Tuy nhiên, dịch bệnh gây chết trên cá dìa rất cao nhưng
với cá chẽm tỉ lệ gây chết rất thấp [9], [21].
Trung quốc là nước thứ hai thông báo về bệnh Streptococcosis trên cá chẽm
với tỷ lệ chết từ 16,7 – 32,6 %, tuy nhiên chưa xác định được loài Streptococcus gây
bệnh [9].
Từ năm 1992, Australia thông báo S. iniae gây bệnh vào mỗi mùa hè với thiệt
hại khoảng 8-15% sản lượng cá chẽm nuôi lồng trên biển hàng năm, có thể lên đến
70% khi bệnh bùng phát dữ dội [9], [21].
7

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Cúc SVTH: Ngô Thị Giang

Vào năm 2003 và 2004, Streptococcus iniae cũng được thông báo gây tác
động nghiêm trọng đến nghề nuôi cá chẽm ở khu vực phía Nam Thái Lan [19].
Năm 1992, Úc thông báo về tác nhân gây bệnh liên cầu khuẩn trên cá chẽm
nuôi, trong thời gian rất ngắn số lượng cá chết tăng lên và tác nhân này được xem
như loài vi khuẩn quan trọng nhất ảnh hưởng đến chất lượng nuôi cá chẽm ở
Queensland [9].
1.4 Dấu hiệu bên ngoài và giải phẫu bệnh lý bên trong cá chẽm bệnh do
Streptococcus iniae gây ra
Dấu hiệu điển hình do Streptococcus iniae gây ra trên cá chẽm, gồm có: Màu
sắc đen tối, cá có biểu hiện bơi lội không bình thường, mắt cá lồi và đục, xuất huyết
ở các vây và xương nắp mang. Các vết xuất huyết lan rộng thành lở loét, nhưng các
vết loét thường nông hơn các bệnh có lở loét khác. Cá bị bệnh vận động khó khăn,
bơi không định hướng hay có hình thức bơi xoắn [1].
Bên trong cơ thể cá bệnh có sự tổn thương nội quan, như: Ở thận, vi khuẩn
được tìm thấy trong mô và trong các tế bào máu ở tiền thận, trong cầu thận và
những tế bào biểu mô ống thận. Ở lách, vi khuẩn xuất hiện thành từng đám ở màng
ngoài lách và trong những tế bào máu ở khu vực của lách. Đó là lý do dẫn đến sự
tăng lên về thể tích tại hai cơ quan thận và lách. Tại một số cơ quan khác: vi khuẩn

hoặc tạo thành chuỗi dài. Vi khuẩn S. iniae bắt màu Gram dương, phát triển
tốt trên môi trường thạch TSA, BHI, Muller - Hinton và thạch máu cừu.
Nhiệt độ nuôi cấy thích hợp từ 25 - 28
0
C. Sau 24 - 48h nuôi cấy, vi khuẩn
tạo thành khuẩn lạc nhỏ, màu trắng đục. Một số chủng cho khuẩn lạc trong
suốt có tính nhầy sau 24h nuôi cấy. Trên môi trường thạch máu, khuẩn lạc
tạo vòng dung huyết beta nhỏ, trong suốt. Vi khuẩn không phát triển ở điều
kiện pH 9,6; NaCl 6,5%; nhiệt độ 10
0
C và 45
0
C [9], [10], [20].
S. iniae lên men đường mannitol, ribose và không lên men lactose,
raffinose, arabinose. Về đặc điểm sinh hóa S. iniae cho phản ứng catalase,
Oxydase, VP Và Indol âm tính [9]. Dựa theo các nghiên cứu trước đó, các
đặc điểm sinh hóa của vi khuẩn Streptococcus iniae được thể hiện trong
Bảng 1.1. 9

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Cúc SVTH: Ngô Thị Giang

Bảng 1.1 Một số đặc điểm sinh hóa của vi khuẩn Streptococcus iniae [9], [20]
Đặc điểm
Perera
và các
cộng sự
(1994)

TSB + + +
BA + + +
Nhiệt độ sinh
trưởng
10
0
C + + + ND
27
0
C +
35
0
C +
NaCl 6,5% - + +
Hippurate (HIP) - - - -
Esculin (ESC) - + + +
Pyrrolidonyl acrylamidase ND +
α–Galactosidase (α-GAL) ND ND
β-Glucuronidase (β-GUL) ND ND
β – Galactosidase (β-
GAL)
ND ND
Alkalin Phosphatase
(PAL)
ND ND
Leucine Aminopeptidase
(LA)
ND ND
L-arginie (ADH) + ND + ND
D-ribose (RIB) ND ND

- Tất cả cá bị bệnh, bị chết đều phải vớt lên và xử lý tiệt trùng, không vứt bừa bãi
trách tạo sự lây lan nguồn bệnh cho ao khác
Việc phòng bệnh chỉ giúp giảm nguy cơ mắc bệnh, nhưng khi trong môi
trường nuôi có tác nhân gây bệnh và gặp điều kiện thuận lợi cho nó thì tác nhân gây
bệnh sẽ phát triển rất mạnh và làm gia nguy cơ mắc bệnh cho vật nuôi. Hiện nay
biện pháp chủ yếu vẫn đang được dùng để tiêu diệt vi khuẩn trong môi trường nuôi
là sử dụng thuốc kháng sinh. Một số loại kháng sinh được dùng để tiêu diệt vi
khuẩn Streptococcus iniae gây bệnh trên cá như:
 Dùng Erythromycine: trộn vào thức ăn từ 3 - 7 ngày, dùng 2-5 g/100 kg cá/ngày.
Có thể phun xuống ao với nồng độ 1 - 2 ppm sau đó qua ngày thứ 2 trộn vào thức
ăn 4 g/100 kg cá, từ ngày thứ 3 - 5 giảm bớt 1/2.
 Dùng Minoxin - FH: là dung dịch kháng sinh thế hệ mới, với phổ kháng khuẩn
rộng chuyên dùng để phòng ngừa và điều trị các bệnh xuất huyết, phù mắt, hoại
tử gan do Streptococcus sp.
Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc kháng sinh gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức
khỏe người sử dụng, ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm do dư lượng hóa chất vẫn
còn trong sản phẩm. Hơn thế, sử dụng kháng sinh còn ảnh hưởng đến chất lượng
nước và bùn đáy ao, tác động đến cấu trúc và tính đa dạng sinh học. Tồn lưu trong
11

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Cúc SVTH: Ngô Thị Giang

môi trường tác động đến hệ vi sinh vật trong môi trường và đưa đến các dòng vi
khuẩn kháng thuốc.
Ngoài thuốc kháng sinh, hiện nay trên thị trường cũng đã có Vaccine để phòng
bệnh Streptococcosis do Streptococcus iniae gây bệnh. Tuy nhiên, việc sử dụng
Vaccine gây ảnh hưởng lớn đến tính kinh tế, hơn nữa nó chỉ có tác dụng phòng
bệnh và khi trong ao nuôi có sự xuất hiện bệnh thì việc sử dụng vaccine không còn
hiệu quả.
Do đó, việc sử dụng chế phẩm sinh học nhằm hạn chế tối đa sử dụng kháng

miễn dịch phát triển nhanh và mạnh tạo ra một lớp tế bào sản xuất kháng thể đặc
hiệu vì thế kháng thể xuất hiện sớm hơn, cường độ đáp ứng miễn dịch dài hơn,
mạnh hơn.
Kháng thể ở gà gồm có ba loại: IgA, IgM và IgY. Khi trứng gà vẫn còn
trong buồng trứng, gà mái tiến hành chuyển kháng thể vào trứng theo cơ chế sau:
IgA và IgM (nồng độ khoảng 0,15 và 0,7 mg/mL) được tiết ra cùng với những
protein khác là thành phần của lòng trắng trứng gà tại vòi trứng. Trong khi đó,
IgY trong huyết thanh ở nồng độ khoảng 25 mg/ml được chuyển một cách đặc
hiệu sang màng lòng đỏ vào trong lòng đỏ trong suốt quá trình phát triển. Vì
receptor đặc hiệu cho việc chuyển IgY xuất hiện trên bề mặt của màng lòng đỏ.
Ở gà con mới nở, IgY được tìm thấy trong máu, còn IgA và IgM trong đường
tiêu hóa.
13

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Cúc SVTH: Ngô Thị Giang Hình 1.2 Tóm tắt kháng thể lòng đỏ trứng được tạo ra bởi miễn dịch thụ động trong
gia cầm [11]
Dựa trên các nguyên lý này, muốn thu kháng thể đặc hiệu thì tiến hành gây
miễn dịch trên gà mái. Sau khi bị tiêm kháng nguyên thì gà mái sẽ tự động tạo ra
IgY đặc hiệu cho kháng nguyên quan tâm. IgY đặc hiệu này sẽ được chuyển vào
trong lòng đỏ trứng gà. Tiến hành thu nhận lòng đỏ trứng của gà miễn dịch sẽ thu
được kháng thể đặc hiệu mong muốn (Hình 1.2).
1.7.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tạo miễn dịch ở gà
1.7.2.1 Kháng nguyên
Tất cả các chất sinh miễn dịch đều là kháng nguyên, song một số chất được
coi là kháng nguyên nhưng không gây đáp ứng miễn dịch. Ví dụ hapten là các chất
có khối lượng phân tử thấp có thể gắn với kháng thể đặc hiệu nhưng bản thân nó
không kích thích tạo kháng thể. Hapten bao gồm các phân tử đường, axit amin, các

trên mỗi kháng thể gọi là vị trí kết hợp kháng nguyên hay paratope. Phần tương ứng
với quyết định kháng nguyên nằm trên tế bào lympho gọi là thụ thể. Kích thước của
epitope khoảng 7 x 12 x 35 A
o
gồm 5 - 7 axit amin. Một kháng nguyên có nhiều
epitope khác nhau sẽ tạo thành nhiều dòng kháng thể khác nhau tương ứng với từng
epitope.
15

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Cúc SVTH: Ngô Thị Giang

1.7.2.2 Liều lượng tiêm [11]
Liều lượng của kháng nguyên ảnh hưởng rất nhiều đến đáp ứng miễn dịch.
Quá nhiều hay quá ít kháng nguyên có thể dẫn đến sự giảm bớt, độ nhạy, sức chịu
và những đáp ứng không mong muốn khác. Behn và cộng sự (1996) đạt được những
kết quả tốt hơn khi tiêm vào gà với 0,1 mg của IgG chuột, thay vì 1,0 mg.
Schwarzkof và cộng sự (2000) thấy rằng việc tiêm nồng độ kháng nguyên trong
khoảng giữa 10 µg và 1 mg tạo ra đáp ứng miễn dịch tốt, và điều này cũng được báo
cáo bởi các nhà khoa học khác.
Liều lượng tiêm phù hợp phụ thuộc rất nhiều vào loại kháng nguyên. Nếu
kháng nguyên là protein thì lượng protein khoảng 10 - 100 µg protein nên được sử
dụng.
1.7.2.3 Vị trí tiêm
Có nhiều cách tiến hành thực hiện miễn dịch như là tiêm trong tĩnh mạch; tiêm
ở bụng; tiêm dưới da. Tiến trình tiêm trong tĩnh mạch không được khuyến khích
dùng và không thể sử dụng cho kháng nguyên đặc biệt hay tá dược đặc biệt. Vì mục
đích thực nghiệm và lý do kinh tế, gà thường được tiêm vào trong cơ ngực. Trong
phòng thí nghiệm, gà có thể tiêm vào dưới da cổ, dưới da cánh. Với động vật còn
non, thích hợp cho việc tiêm vào trong cơ của cơ ngực, bởi vì tiêm dưới da thường
khó thực hiện hơn và có thể gây ra stress. Việc tiêm vào trong cơ dưới chân cần

Tá dược có thể ảnh hưởng toàn bộ hay một phần lên thành phần trong suốt đáp
ứng miễn dịch. Tế bào T bị kích hoạt muramyldipeptide (MDP) là một thành phần
của thành tế bào của mycobacteria có tiềm năng tạo miễn dịch mạnh. Mặt khác tế
bào B được kích hoạt mạnh bằng lipopolysaccharide [4].
Điểm bất lợi của việc sử dụng tá dược được chứng minh là có tác dụng phụ,
nên những nghiên cứu mở rộng tìm kiếm chất thay thế bắt đầu. Những tác dụng phụ
sau đây có thể ít hoặc không có: Sự đau u hạt dẫn đến sưng viêm có thể dẫn đến sự
di căn; Tác động gây ung thư ngẫu nhiên; Nguy cơ gây ra dị ứng trong trường hợp
sử dụng lặp lại; Tác động ngược lên chất lượng thịt nếu sử dụng động vật trang trại.
Tá dược Freund (Freund adjuvant)
Ngày nay, có rất nhiều loại tá dược được sản xuất. Tuy nhiên, trong số này tá
dược Freund vẫn được sử dụng nhiều nhất. Tá dược Freund có hai dạng là hoàn
toàn (FCA) và không hoàn toàn (FIA). Tuy FCA làm tăng hiệu quả miễn dịch tốt
17

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Cúc SVTH: Ngô Thị Giang

hơn FIA nhưng cũng dễ gây ra phản ứng phụ hơn ví dụ gây viêm tại vùng mô tiêm.
Vì vậy, một số nghiên cứu thích sử dụng kết hợp hai loại tá dược: FCA cho lần
miễn dịch nguyên phát và FIA cho lần miễn dịch thứ phát [11].
Tá dược Freund dạng hoàn toàn (FCA) là hệ nhũ hóa dầu trong nước, bao
gồm: dầu khoáng, mannide mono-oleate, và Mycobacterium tuberculosis đã giết
chết bởi nhiệt (hay M. butycium) hay một số thành phần của vi sinh vật này. FCA là
tá dược kích hoạt cả miễn dịch thể dịch và miễn dịch tương tác tế bào. FCA thường
phản ứng mạnh vì dầu khoáng không thể chuyển hóa và thành phần vi nấm có thể
tạo ra một vài phản ứng viêm. Nồng độ của vi nấm thay đổi lớn trong FCA thương
mại. Về phần này, cần chú ý rằng nếu nồng độ của vi nấm mà ít hơn 0,5 mg/ml thì
kết quả phản ứng xưng viêm sẽ ít nghiêm trọng hơn.
Tá dược Freund dạng không hoàn toàn (FIA) có thành phần giống như FCA
nhưng không có tế bào vi nấm hay thành phần tế bào. FIA thì ít hiệu quả hơn so với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status