nghiên cứu một số đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của gà rod island nuôi tại trung tâm thực nghiệm và bảo tồn vật nuôi - viện chăn nuôi - Pdf 24

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA CHĂN NUÔI VÀ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
&
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: “Nghiên cứu một số đặc điểm ngoại hình và khả năng sản
xuất của gà Rod Island nuôi tại Trung tâm Thực nghiệm và bảo tồn vật
nuôi - Viện Chăn nuôi”.
HÀ NỘI - 2014
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Phương Minh-CNTY50B
Phần thứ nhất. MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Chăn nuôi gia cầm ở nước ta là một nghề truyền thống có từ lâu đời và đang góp
phần quan trọng trong cải thiện kế sinh nhai của hàng trăm nghìn hộ nông dân. Hàng
năm, chăn nuôi gia cầm đã cung cấp một khối lượng thịt, trứng lớn thứ hai sau chăn
nuôi lợn, chiếm khoảng 18-20% trong tổng khối lượng thịt các loại (thịt lợn chiếm vị
trí thứ nhất với tỷ lệ 75-76%).
Theo chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 đã được chính phủ phê duyệt
ngày 16/01/2008, chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nuôi gà nói riêng vẫn giữ
được vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi nước ta trong nhiều năm tới.
Mục tiêu đến năm 2020 ngành chăn nuôi cơ bản chuyển sang sản xuất phương
thức trang trại, công nghiệp đáp ứng phần lớn nhu cầu thực phẩm đảm bảo chất lượng
cho tiêu dùng và xuất khẩu. Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp đến năm 2020 đạt
trên 42% trong cơ cấu ngành sản xuất nông nghiệp (năm 2010 đạt khoảng 32% và
năm 2015 đạt 38%).
Nhằm đạt được mục tiêu trên chúng ta cần phải có những giải pháp đồng bộ về
quy hoạch, tổ chức sản xuất, khoa học công nghệ, cơ chế chính sách, đào tạo nguồn
nhân lực, trong đó đột phá là giải pháp về khoa học và công nghệ, đặc biệt cần bảo
tồn và khai thác hợp lý các nguồn gen, giống gốc vật nuôi trong nước, nhập mới các
giống vật nuôi có năng suất, chất lượng cao để chọn lọc, thích nghi đưa nhanh vào sản
xuất. Đi theo hướng này tháng 7/2007, Viện chăn nuôi đã tiếp nhận 3 giống gà hướng
trứng nhập nội là Hisex White, Rod Island và Pologi, mỗi giống 300 quả trứng giao

một giống thì mỗi cá thể có khả năng thích nghi khác nhau, con non sẽ thích nghi tốt
hơn con trưởng thành.
Với những giống gà nhập nội thường trong thời gian đầu nuôi, thích nghi năng
suất của giống sẽ thấp hơn chỉ tiêu chuẩn của hãng, đôi khi tỷ lệ chết còn rất cao.
Ngày nay với với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ việc chọn lọc, chọn phối và
nuôi dưỡng tốt hơn, vì vậy địa bàn thích nghi của các giống gà nhập nội, giống địa
phương cũng rộng hơn.
Nước ta là nước nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, vì vậy cần phải có những hiểu biết
về đặc tính sinh học của giống, các chỉ tiêu sản xuất và đặc biệt cần biết rõ nguồn gốc
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa Chăn nuôi & NTTS
3
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Phương Minh-CNTY50B
xuất phát của giống, những khả năng kinh tế cũng như tính năng di truyền của phẩm
giống trước khi quyết định nhập giống về để nhân thuần và nuôi thích nghi.
2.2 Sinh trưởng
2.2.1 Khái niệm sinh trưởng và phát dục
Sinh trưởng có vai trò quan trọng, là một trong những chỉ tiêu đánh giá quyết định
đến hiệu quả chăn nuôi. Có rất nhiều khái niệm khi nói về sinh trưởng. Theo viện sỹ I.I.
Somangeozen (1935) cho rằng sự phát triển của cơ thể sống là sự tích luỹ các tế bào tăng
lên về khối lượng, thể tích ở các phần hoạt động của cơ thể đồng thời sinh ra năng lượng tự
do cơ thể lớn lên về khối lượng, tăng lên về chiều dài, chiều rộng và chiều cao. Theo
Chambers (1990) thì sinh trưởng là sự tổng hợp các bộ phận thịt, xương, da của động vật.
Sinh trưởng là quá trình tích luỹ hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng chiều
cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ
sở tính chất di truyền của đời trước. Sinh trưởng chính là sự tích luỹ dần dần các chất
chủ yếu là protein nên tốc độ và khối lượng tích luỹ các chất cũng chính là tốc độ hoạt
động của các gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim
Đường, 1992). Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như là quá trình tổng hợp
protein nên người ta thường lấy khối lượng cơ thể làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh
trưởng. Tuy nhiên, có trường hợp tăng trọng mà không phải tăng trưởng (chẳng hạn là

thị sinh trưởng tích luỹ.
Sinh trưởng tương đối: là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng hoặc kích
thước và thể tích cơ thể lúc kết thúc khảo sát với lúc đầu khảo sát( TCVN2.40.1997).
Đơn vị tính %, đồ thị sinh trưởng tương đối có dạng hypebol. Gia cầm non sinh
trưởng tương đối cao sau đó giảm dần theo tuổi.
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa Chăn nuôi & NTTS
5
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Phương Minh-CNTY50B
Sinh trưởng tuyệt đối: là sự tăng lên về khối lượng, kích thước, thể tích cơ thể trong
khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát (TCVN2.39.1997). Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối
dạng parabol. Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn.
Đường cong sinh trưởng: Biểu thị tốc độ sinh trưởng của gia cầm và của gia súc
nói chung. Theo Chambers (1990) đường cong sinh trưởng chia làm bốn pha với bốn
đặc điểm chính sau:
- Pha tốc độ: Sinh trưởng tăng dần sau khi nở
- Điểm uốn là thời điểm tốc độ sinh trưởng cao nhất chuyển sang tốc độ sinh
trưởng chậm dần.
- Pha tốc độ sinh trưởng chậm dần tới đường tiệm cận
- Đường tiệm cận là đường trùng với khối lượng cơ thể lúc trưởng thành.
Thông thường người ta dùng khối lượng cơ thể ở các tuần tuổi để thể hiện bằng đồ thị
sinh trưởng tích luỹ cũng cho biết một cách đơn giản nhất về đường cong sinh trưởng.
Các tính trạng về sinh trưởng là các tính trạng số lượng nên ngoài phần ảnh hưởng do
các yếu tố của bản thân con vật (giống, giới tính, ) chúng còn chịu ảnh hưởng của các yếu
tố môi trường (nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng, thức ăn, phương thức chăn nuôi, )
2.3. Sức sống và khả năng kháng bệnh của gia cầm
Sức sống và khả năng kháng bệnh được biểu thị bằng tỷ lệ nuôi sống, đó là tỷ lệ
phần trăm giữa số con còn sống đến cuối kì so với số con đầu kì. Theo Ngô Giản
Luyện, mối quan hệ giữa chỉ tiêu sinh lý máu với sức sống và sản lượng trứng được
Kris và cộng sự tại viện thú y Maxcova (1968) xác định số lượng bạch cầu trong gà mái
Hybro liên quan đến sức sống và sản lượng trứng. Những gà có số lượng bạch cầu cao

Trong chăn nuôi, thức ăn chiếm tới 70-75% giá thành sản phẩm do vậy người
chăn nuôi phải biết tính toán khẩu phần hợp lý đảm bảo được hiệu quả cao sử dụng
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa Chăn nuôi & NTTS
7
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Phương Minh-CNTY50B
thức ăn của gia súc, gia cầm. Hiệu quả của sử dụng thức ăn được đánh giá dựa trên
mức độ tiêu tốn thức ăn trên một đơn vị sản phẩm. Tiêu tốn thức ăn (TTTA) của gà ở
giai đoạn gà con và hậu bị là tỷ lệ chuyển hoá thức ăn để đạt được tốc độ tăng trọng
tiêu chuẩn hay nói cách khác TTTA là hiệu xuất giữa thức ăn trên kg tăng khối lượng.
Ở giai đoạn đẻ của gà thường tính TTTA để sản xuất ra trứng, gà sẽ ăn nhiều hơn
trong những tuần đẻ cao nhưng giai đoạn này TTTA thường không cao. Tiêu tốn thức
ăn/ kg tăng trọng hay TTTA/trứng càng thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao.
Tiêu tốn thức ăn phụ thuộc vào giống, loài gia cầm. Theo Nguyễn Thị Mai
(2005) chỉ ra rằng chi phí cho 10 quả trứng của gà Goldline-54 là 1,92kg; gà Brown
Nick là 1,6-1,8kg; gà Hy-Line là 1,7kg. TTTA phụ thuộc vào độ tuổi của gà, ở những
tuần đầu tiên TTTA thấp nhưng càng về sau TTTA càng cao. Các hãng gia cầm nổi
tiếng trên thế giới đã công bố kết quả nghiên cứu của mình cho thấy khi nuôi gà
Broiler Ross-208 đến 6 tuần tuổi TTTA ở mức 1,85-2,2kg/kg tăng trọng (theo nghiên
cứu của Crovinam, 1994); gà Vedehe do viện chọn giống gia cầm Pháp nuôi 42 ngày
tuổi tiêu tốn 1,9 kg thức ăn/kg tăng trọng ( theo Phan Sĩ Điệt); gà Broiler ở 9 tuần tuổi
tiêu tốn 2,39-2,4 kg thức ăn/kg tăng trọng.
Tuỳ từng cơ thể gà mà TTTA khác nhau, đối với gà sinh trưởng chậm sẽ tiêu tốn
thức ăn hơn gà tăng trọng nhanh vì gà sinh trưởng chậm sẽ mất thời gian nhiều hơn
đồng nghĩa với duy trì năng lượng cao hơn dẫn tới lượng thức ăn cao. Mặt khác tăng
trọng nhanh thì cơ thể đồng hoá và dị hoá tốt hơn, trao đổi chất mạnh hơn làm cho
hiệu quả sử dụng thức ăn cao dẫn đến TTTA thấp.
Thức ăn chất lượng cao và cân bằng các chất dinh dưỡng sẽ tăng hiệu quả sử
dụng thức ăn và giảm TTTA. Ngoài ra hiệu quả sử dụng thức ăn còn phụ thuộc vào
điều kiện khí hậu thời tiết, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, tình trạng sức khoẻ.
2.5. Sức sản xuất của gia cầm

phát triển chưa toàn diện, số trứng nhỏ nhiều và chu kì đẻ trứng sinh học ngắn.
Tuổi thành thục sinh dục được coi là yếu tố cấu thành năng suất của gia cầm, nó quyết
định năng suất của gia cầm về sau nên người chăn nuôi phải hết sức lưu ý.

Trường ĐHNN Hà Nội Khoa Chăn nuôi & NTTS
9
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Phương Minh-CNTY50B
+ Sản lượng trứng
Sản lượng trứng được tính trong 365 ngày kể từ khi gia cầm đẻ quả trứng đầu
tiên (theo Bandsch và Bilchel, 1978). Thường thì sản lượng trứng được tính đến khi
gà đạt 70-80 tuần tuổi. Đối với giống gà Plymouth Rock tại Cu Ba, sản lượng trứng
được tính từ tuần 23-74 (theo Macro, 1982).
Cường độ đẻ trứng cũng là yếu tố quan trọng quyết định đến sản lượng trứng của
gia cầm (theo Albada, 1956). Cường độ đẻ trứng càng lớn thì sản lượng trứng càng
tăng và ngược lại. Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trứng của gia cầm trong một thời gian
ngắn. Theo Card (1968) và Nesheim (1970), cường độ đẻ trứng được xác định theo
khoảng thời gian 30 ngày, 60 ngày và 100 ngày. Các tác giả này còn cho rằng biến đổi
với các giống chuyên trứng cao sản thường có cường độ đẻ trứng lớn nhất vào tháng
thứ hai và thứ ba sau đó giảm dần. Chính vì vậy mà người ta thường dùng cường độ
đẻ trứng 3-4 tháng tuổi đầu để dự đoán sức đẻ trứng của gia cầm mà ghép đôi chọn
lọc giống, cường độ đẻ trứng còn liên quan mật thiết tới thời gian hình thành trứng và
chu kì đẻ trứng. Khi cường độ đẻ trứng giảm dần, gà thường hay biểu hiện bản năng
đòi ấp. Sự xuất hiện bản năng đòi ấp phụ thuộc vào yếu tố di truyền thể hiện ở các
giống khác nhau với mức độ khác nhau.
+ Năng suất trứng
Năng suất trứng là chỉ tiêu quan trọng nhất phản ánh trạng thái sinh lý và khả
năng hoạt động của hệ sinh dục. Năng suất trứng xác định bằng số lượng trứng của
một gia cầm mái sinh ra trong một đơn vị thời gian. Các giống gà khác nhau thì không
giống nhau về năng suất trứng. Theo Vũ Ngọc Sơn và cộng tác viên (1999) đã nghiên
cứu trên gà Lương Phượng Hoa trong 48 tuần đẻ trung bình 158,63 quả/mái. Đối với

BVII là 0,50 (theo tài liệu của trung tâm gà giống Ba Vì).
Đơn vị Haugh được dùng để đánh giá chất lượng trứng, nó phụ thuộc vào khối
lượng và chiều cao lòng trắng đặc. Đơn vị Haugh càng cao thì trứng có chất lượng
càng tốt. Đơn vị Haugh phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: giống, tuổi gia cầm, điều kiện
ngoại cảnh (nhiệt độ, bệnh tật, thời gian bảo quản, ) Theo Peniind JkeVich và cộng
sự, chất lượng trứng rất tốt có chỉ số Haugh 80-100; tốt có 65-79; trung bình có 55-64,
trứng xấu có Haugh nhỏ hơn 55.
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa Chăn nuôi & NTTS
11
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Phương Minh-CNTY50B
2.5.2. Các yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến sức sản xuất của gia cầm
+ Thức ăn và dinh dưỡng
Thức ăn và dinh dưỡng là nhân tố quan trọng có liên quan chặt chẽ với khả năng
đẻ trứng. Một khẩu phần ăn phù hợp là một khẩu phần ăn đầy đủ và cân bằng các chất
dinh dưỡng, quan trọng nhất là cân bằng giữa năng lượng và protein, cân bằng các
axit amin, chất khoáng và vitamin. Trong giai đoạn hậu bị phải đặc biệt chú ý đến
khẩu phần ăn của gia cầm, nếu gia cầm quá béo hoặc quá gầy sẽ làm giảm sức đẻ
trứng. Theo Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (2001) chỉ ra rằng cho gà ăn hạn chế hợp
lý sẽ kéo dài thời kì đẻ trứng có hiệu quả 7-14 ngày. Trong giai đoạn gia cầm đẻ trứng
nếu không đáp ứng đầy đủ nhu cầu về protein, khoáng, vitamin thì gia cầm đẻ trứng
nhỏ và tăng tỷ lệ trứng dị hình. Theo Phùng Đức Tiến và cộng sự (2007) nuôi gà
Hubbard-Isa với mức năng lượng 2750 Kcal/kg thức ăn, ba mức protein là 16,5%;
17,5%; 18,5%; thì gà đạt tỷ lệ đẻ cao nhất nếu khẩu phần chứa 18,5% protein.
+ Nhiệt độ và ẩm độ
Khi nói đến sức sản xuất của gia cầm thì phải chú ý đến yếu tố nhiệt độ. Một số
nghiên cứu cho rằng nhiệt độ thích hợp cho quá trình đẻ trứng từ 18-24ºC. Nhiệt độ quá
cao hay quá thấp đều không có lợi cho gia cầm, ảnh hưởng đến sức sản xuất của gia cầm.
Khi nhiệt độ môi trường tăng lên, cơ thể bắt đầu điều tiết bằng cách giảm sự hoạt
động của tuyến giáp kéo theo giảm cường độ trao đổi chất, gà uống nước nhiều hơn,
ăn ít hơn làm cho sức sản xuất giảm, khối lượng trứng và chất lượng trứng cũng giảm

sinh học ngắn, kết thúc giai đoạn đẻ sớm.
Nếu chiếu sáng bổ sung vào buổi tối sẽ làm giảm năng suất của gia cầm. Do
hormone điều tiết sự chín và rụng của tế bào trứng (hormone LH của tuyến yên) chỉ
tiết vào ban đêm, khi chiếu sáng sẽ làm tuyến yên chậm tiết hormone này dẫn đến
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa Chăn nuôi & NTTS
13
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Phương Minh-CNTY50B
giảm sự rụng trứng 3-4 giờ làm đàn gà đẻ rải rác. Thực tế, muốn gà đẻ tập trung vào
khoảng 8-11 giờ thì phải đảm bảo thời gian chiếu sáng từ 15-18 giờ/ngày.
Theo Moris và cộng sự quan sát được những gà mái được chuyển từ chế độ chiếu
sáng ngắn sang chế độ chiếu sáng dài thì làm sức đẻ trứng tăng lên, còn nếu chuyển từ
chế độ chiếu sáng dài sang chế độ chiếu sáng ngắn sẽ cho kết quả ngược lại. Nhiều
nghiên cứu cho thấy chiếu sáng ngắt quãng có hiệu quả hơn chiếu sáng liên tục tuy
nhiên phương pháp này ít áp dụng vì nó phức tạp và tốn nhiều công sức. Theo nghiên
cứu của Nguyễn Đức Hưng và Lê Hồng Phi (1983), trích dẫn theo Vũ Đăng Cường
(2007) chiếu sáng 14 giờ/ngày trong 2 tuần và 16 giờ/ngày trong 2 tuần tiếp theo cho
kết quả tốt hơn chiếu sáng 15 giờ/ngày liên tục trên gà Leghorn.
Cường độ và màu sắc ánh sáng: Cường độ và màu sắc ánh sáng ánh sáng ảnh
hưởng đến tỷ lệ ấp nở của gia cầm mặc dù ở mức độ thấp hơn so với độ dài chiếu sáng.
Theo Otrander và cộng sự cho rằng cường độ chiếu sáng là 10,8 lux thì gà mái sẽ
có năng suất cao nhất. Còn theo Nikolas và cộng sự (1978), trích dẫn theo Vũ Đăng
Cường (2007)cho biết giới hạn chiếu sáng từ 5,4-10,9 lux thì khả năng đẻ trứng của gia
cầm là như nhau. Laudau cho thấy trong điều kiện chiếu sáng tự nhiên cần từ 10-30 lux
(theo hướng dẫn của Viện Nghiên cứu Liên Xô), còn đối với chiếu sáng nhân tạo nên
dùng ánh sáng với cường độ là 20 lux. Sở dĩ có sự khác nhau như vậy ở các nghiên cứu
của các tác giả trên là do từng giống gà và điều kiện tự nhiên từng địa phương.
Ngày nay, người ta chiếu sáng bằng rất nhiều màu sắc ánh sáng nhưng nhiều
nghiên cứu đã chỉ ra rằng ánh sáng đỏ làm hạn chế sự phát triển các tật xấu như cắn,
mổ nhau. Theo Nguyễn Đức Hưng và cộng sự (1983), trích dẫn theo Vũ Đăng Cường
(2007) đã dùng ánh sáng đỏ chiếu cho gà thì thấy tỷ lệ đẻ tăng, tỷ lệ chết, loại giảm so

cân đối giữa lòng trắng và lòng đỏ. Tỷ lệ nở cao nhất ở những quả trứng có tỷ lệ lòng
trắng/lòng đỏ là 2/1. Ngoài ra, những quả trứng quá lớn hay quá nhỏ sẽ có diện tích bề
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa Chăn nuôi & NTTS
15
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Phương Minh-CNTY50B
mặt tính trên một đơn vị khối lượng sẽ nhỏ hơn hay lớn hơn so với những quả trứng
có khối lượng trung bình, điều đó ảnh hưởng tới sự hao hụt trong thời gian ấp nở nên
ảnh hưởng tới kết quả ấp nở.
Trọng lượng riêng của trứng, độ dày, độ xốp của vỏ trứng có mối quan hệ phụ
thuộc với khả năng ấp nở vì nó liên quan đến sự bốc hơi nước qua vỏ trứng trong thời
gian ấp. Theo Olsen và Hayces (1959), trích dẫn theo Vũ Đăng Cường (2007) cho biết
những quả trứng biến dạng có khả năng ấp nở chỉ bằng 49% so với trứng có hình
dạng bình thường, đã ảnh hưởng tới sự phát triển của phôi trong quá trình ấp.Trứng
chủ yếu có hình ovan. Hiệu quả ấp nở phụ thuộc vào chỉ số hình dạng của trứng vì nó
ảnh hưởng đến sự phát triển của phôi gia cầm. Đối với những quả trứng quá tròn hoặc
quá dài hoặc dị dạng đều cho tỷ lệ ấp nở thấp. Theo Romanoff và Andresonff, trích
dẫn theo Vũ Đăng Cường (2007) thì chỉ số hình dạng phù hợp với trứng gà là 1,3-1,4.
- Ảnh hưởng của điều kiện môi trường
Tỷ lệ ấp nở phụ thuộc vào chất lượng đàn bố mẹ cũng như quy trình ấp trứng.
Chất lượng đàn bố mẹ quyết định tới chất lượng trứng ấp hay nói cách khác sự
phát triển của phôi chịu ảnh hưởng từ đàn bố mẹ. Một khẩu phần ăn hợp lý sẽ đảm
bảo chất lượng trứng tốt, phôi phát triển bình thường.
Hàm lượng protein rất quan trọng. Hàm lượng protein thích hợp cho quá trình phát
triển phôi từ 12-16%. Nếu quá cao hay quá thấp cũng không làm tỷ lệ ấp nở cao lên.
Trong khẩu phần ăn của gia cầm cần cung cấp đầy đủ protein thực vật và protein động
vật. Protein động vật thường chiếm 1/3, trong chăn nuôi người ta hay dùng bột cá.
Các nguyên tố vi lượng không thể thiếu trong khẩu phần ăn vì nó cũng ảnh
hưởng đến tỷ lệ ấp nở. Các vitamin nhóm B và vitamin C rất cần thiết. Vitamin B có
tác dụng nâng cao kết quả ấp nở và tăng hiệu quả sử dụng protein thực vật (theo
nghiên cứu của Khaveman và cộng sự). Bổ sung với liều 450 - 150 ppm vitamin C

trong máy tăng lên quá cao hoặc
giảm xuống quá thấp. Theo Nguyễn Thị Mai (2007), trong ngày ấp đầu tiên nếu
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa Chăn nuôi & NTTS
17
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Phương Minh-CNTY50B
không đảo trứng, phôi sẽ bị lòng đỏ ép vào vỏ dính vào màng vỏ làm ngừng phát
triển. Do vậy, cần đảm bảo cho máy luôn thông thoáng. Theo Willson.H.R (1990), tỷ
lệ nở tối đa khi đảo trứng 15 phút/lần nhưng trong thực tế đảo trứng 24 lần/ngày đêm
cho kết quả tốt nhất.
Phôi có khả năng tự sinh nhiệt vào giữa thời kì ấp nên làm mát trứng trong thời
kì này sẽ giúp phôi phát triển tốt hơn.
Ấp nở đòi hỏi người chăn nuôi phải biết kết hợp nhiều khâu, từ khâu dinh dưỡng
của đàn gà bố mẹ đến việc đảm bảo khâu kĩ thuật trong quy trình ấp trứng. Nếu làm
tốt được tất cả các khâu trên sẽ đem lại tỷ lệ ấp nở cao nhất, từ đó đem lại hiệu quả
kinh tế cao trong chăn nuôi gia cầm.
2.6. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.6.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Việt Nam là một nước nông nghiệp, địa bàn dân cư chủ yếu là nông thôn, chăn
nuôi gia cầm là một ngành truyền thống và phổ biến. Đây là một nghề giải quyết công
ăn việc làm, vừa cung cấp thực phẩm cho bữa ăn hàng ngày đồng thời tăng thu nhập
góp phần cải thiện đời sống, xóa đói giảm nghèo cho người nông dân. Chăn nuôi gia
cầm đã đi vào đời sống văn hóa của người Việt Nam, nhiều giống gia cầm mang địa
danh vùng quê Việt Nam như gà Hồ, gà Đông Tảo, vịt Bầu Quỳ. Ngày nay, với khoa
học kỹ thuật ngày càng phát triển, bên cạnh những giống gà hiện có chúng ta đang
tiến hành chọn lọc và lai tạo ra những giống mới từ những giống nhập nội và địa
phương nhằm làm phong phú tập đoàn giống vật nuôi cung cấp cho sản xuất.
Bùi Quang Tiến, Nguyễn Hoài Tạo và cộng sự (1975-1985) đã lai tạo gà Rhoderi
từ gà Rhode Island và gà Ri Hải Dương, gà qua bốn thế hệ chọn lọc có sản lượng
trứng cao hơn gà Ri. Khối lượng cơ thể lúc 1 năm tuổi có ưu thế nghiêng về gà Rod
Island với sản lượng trứng 151quả/mái, khối lượng trứng là 49,3 gram.

19
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Phương Minh-CNTY50B
Theo Đoàn Xuân Trúc và cộng sự (2006) nghiên cứu khả năng sản xuất của
giống gà ông bà lông màu TĐ12 và TĐ24 (giống gà được chọn tạo ra từ nguồn gien
Sasso ông bà) cho biết hai giống gà rất dễ nuôi, có sức kháng bệnh cao, tỷ lệ nuôi
sống trong giai đoạn hậu bị của TĐ12 là 92,5% của TĐ 34 là 93,6%. Năng suất trứng
đến 64 tuần tuổi tương ứng là 150,93 quả/mái và 172,53 quả/mái với tỉ lệ gà con loại I
đạt 82,6% và 83,6% so với trứng ấp.
Trên thế giới, vấn đề thực phẩm sạch đang được quan tâm, phương thức chăn
nuôi chăn thả hay chăn nuôi công nghiệp các giống gà nhập nội lông màu chất lượng
cao ngày càng phổ biến hơn. Những giống gà nhập nội có năng suất cao, sinh trưởng
nhanh, thích nghi tốt với điều kiện ngoại cảnh nước ta đã và đang phát triển nhanh về
số lượng, chiếm ưu thế trong các giống gà hiện nay.
2.6.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống con người ngày càng được cải thiện
thì nhu cầu về tiêu dùng càng lớn. Xuất phát từ nhu cầu trên trong thời gian qua ngành
chăn nuôi gia cầm trên thế giới đã có những bước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng
và chất lượng. Từ 1990 -2005, sản lượng trứng của toàn thế giới đã tăng gấp đôi, đạt
64 triệu tấn, ít hơn 1% so với năm 2004.
Ngày nay, cả thế giới đang nuôi khoảng 4,93 tỷ con gà đẻ, năng suất trung bình
là 300 trứng/năm. Theo dự kiến của FAO, đến năm 2015, thế giới sẽ sản xuất 72 triệu
tấn trứng.
Trong hơn bốn thập kỷ vừa qua, sản xuất trứng liên tục tăng lên ở Hoa Kỳ,
Nhật Bản, Ấn Độ, và Mê-hi-cô. Sản lượng trứng ở Hoa Kỳ năm 2005 tăng 13% so
với năm 1995.
Hầu hết các nước đang phát triển cũng có sản lượng trứng tăng nhằm đáp ứng
nhu cầu của sự tăng dân số. Năm 2000, các nước đang phát triển ở châu Á đã sản xuất
gấp hai lần sản lượng trứng của tất cả các nước công nghiệp phát triển.
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa Chăn nuôi & NTTS
20

ăn là 1,8-2,0kg hỗn hợp/kg tăng trọng.
Triệu Xương Đình và Vương Tuyền (2001) cho biết một số giống gà da, thịt,
xương đen được gọi theo vị trí địa lý như Thái Hoà, Hắc Phượng, Dử Can, Giang
Sơn, Kim Dương, Tuyết Phong mà khối lượng cơ thể của các giống gà này có khác
nhau đôi chút. Nhìn chung khối lượng lúc trưởng thành gà mái từ 1-1,2kg , gà trống
từ 1,3-1,5kg, năng suất trứng đạt từ 100-130 quả/mái/năm, khối lượng trứng nhỏ chỉ
đạt 35 – 45g, tỷ lệ nở đạt khoảng 80 - 85%.
Ở Trung Quốc trong những năm gần đây cũng đã lai tạo thành công và đưa ra thị
trường nhiều giống gà lông màu thả vườn như Tam Hoàng, Lương Phượng, Lô Hoa,
… Ngoài ra, các hãng gia cầm nổi tiếng trên thế giới như Lohman, Arbor Acres
Avian,… cũng nghiên cứu tạo ra gà Broiler có năng suất cao và ưu thế lai so với bố
mẹ và dòng thuần.
Qua các nghiên cứu trong nước và ngoài nước cho thấy các nghiên cứu về gà
Rod Island và số liệu nghiên cứu về giống gà này còn rất ít. Vì vậy trong thời gian tới
các nhà chọn giống, nhà chăn nuôi,… cần quan tâm đến giống gà này nhiều hơn, để
cung cấp một số thông số kĩ thuật, đưa giống gà này vào trong sản xuất.
2.7. Giới thiệu đối tượng nghiên cứu và địa điểm nghiên cứu đối tượng
2.7.1. Giới thiệu về Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi
* Vị trí địa lý
Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi - Viện chăn nuôi thuộc Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn. Trụ sở chính đặt tại xã Thuỵ Phương - Từ Liêm – Hà
Nội, Trung tâm (TT) được nằm ở vị trí khá thuận lợi:
- Phía Đông giáp khu dân cư xã Thuỵ Phương.
- Phía Tây giáp TT nghiên cứu lợn - Viện Chăn nuôi.
- Phía Bắc giáp Công ty cám Guyomach.
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa Chăn nuôi & NTTS
22
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Phương Minh-CNTY50B
- Phía Nam giáp khu tập thể Viện chăn nuôi.
* Diện tích canh tác

63
ngày tuổi
XP
Gà 01 ngày tuổi
Gà hậu bị
Tỷ lệ chọn (%)
106
21
19,85
132
105
81,3
TH1
Gà 01 ngày tuổi
Gà hậu bị
Tỷ lệ chọn (%)
492
80
16,9
530
420
83,9
TH2
Gà 01 ngày tuổi
Gà hậu bị
Tỷ lệ chọn (%)
660
200
33,6
760

chuồng nuôi: định kỳ 2 lần/tuần dọn phân sân chơi, 1 lần/tuần phun thuốc sát trùng
trong chuồng nuôi và cả đàn gia súc gia cầm bằng thuốc sát trùng Haniodine hoặc
Cloramin T.
* Lịch tiêm phòng cho đàn gà giống
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa Chăn nuôi & NTTS
24

Trích đoạn Tuổi thành thục sinh dục Khối lượng trứng và chất lượng trứng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status