ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––––––––– ĐỖ THỊ KIM DUNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM
NGOẠI HÌNH VÀ KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA
GÀ ĐỊA PHƢƠNG LẠC THỦY - HÒA BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. TRẦN THANH VÂN
2. TS. VŨ NGỌC SƠN THÁI NGUYÊN - 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
trong luận văn hoàn toàn trung thực do chúng tôi, cũng như sự hợp tác tập thể trong
và ngoài cơ quan khảo sát nghiên cứu và chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc.
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những số liệu trong luận văn này.
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Kim Dung
Nhân dịp hoàn thành luận văn, một lần nữa tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn
chân thành tới các thầy cô giáo, các bạn bè đồng nghiệp cùng người thân đã động viên,
tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu thực hiện đề tài và
hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2014
Tác giả Đỗ Thị Kim Dung
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
vii
MỞ ĐẨU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu của đề tài 1
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
4. Những đóng góp mới của luận văn 2
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
38 tuần tuổi 42
44
3.2.1. Tỷ lệ nuôi sống 44
3.2.2. Khối lượng cơ thể gà hậu bị qua các tuần tuổi 46
3.2.3. Tiêu tốn thức ăn của gà hậu bị qua các tuần tuổi 47
20 - 40 tuần tuổi 49
3.3.1. Tỷ lệ chết và loại thải của gà thí nghiệm giai đoạn sinh sản 20 - 40 tuần tuổi 49
inh sản 49
3.3.3. Tuổi thành thục về tính 50
3.3.4. Tỷ lệ đẻ, năng suất trứng và tỷ lệ trứng giống 51
3.3.5. Khối lượng trứng và chất lượng trứng 54
3.3.6. Tỷ lệ trứng có phôi và kết quả ấp nở của gà địa phương Lạc Thuỷ 57
3.3.7. Tiêu tốn thức ăn của gà thí nghiệm cho sản xuất trứng giống và gà con giống 58
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 60
1. Kết luận 60
61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
v CD
cm Centimet
Cs
CSHTT
FSH )
KL
LH )
mm Minimet
Nxb
loại I 59
vii
DANH MỤC CÁC
Hình 3.1. Tỷ lệ đẻ của gà thí nghiệm qua các tuần đẻ 53
54
58 1
MỞ ĐẨU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi gia cầm ở nước ta có truyền thống từ lâu đời, đã và đang góp phần
quan trọng cải thiện sinh kế của hàng triệu nông dân. Hàng năm, ngành chăn nuôi
gia cầm cung cấp 18 - 20 % tổng khối lượng thịt các loại, đứng thứ hai sau thịt lợn
(thịt lợn chiếm vị trí số 1 với tỷ lệ 75 - 76 %), bên cạnh đó chăn nuôi gia cầm còn
cung cấp nguồn thực phẩm có dinh dưỡng khá hoàn chỉnh đó là trứng gia cầm.
Vốn có nhiều truyền thống trong chăn nuôi, song hành với tiến độ hội nhập
4. Những đóng góp mới của luận văn
- Kết quả nghiên cứu đưa ra cái nhìn tổng quan
gà địa phương Lạc Thủy để có hướng
.
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.
1.1.1. Cơ sở nghiên cứu các đặc điểm ngoại hình và kích thước các chiều đo của
gia cầm
* Ngoại hình
- Đầu: Cấu tạo của xương đầu được coi như có độ tin cậy cao nhất trong
việc đánh giá đầu gia cầm. Da mặt và các phần phụ của đầu cho phép rút ra kết luận
về sự phát triển của mô liên kết và mô đỡ. Gà trống có ngoại hình đầu giống gà mái
sẽ có tính sinh dục kém, gà mái có ngoại hình đầu của gà trống sẽ không cho năng
suất cao, trứng thường không có phôi. (Nguyễn Chí Bảo, 1978) [2].
- Mỏ và chân:
+ Mỏ là sản phẩm của da, được tạo thành từ lớp sừng (Stratumcorneum). Mỏ
phải ngắn và chắc chắn. Gà có mỏ dài và mảnh thì khả năng sản xuất không cao.
Màu sắc của mỏ có nhiều loại: Vàng, đỏ, đen, hồng. Màu của mỏ thường phù hợp
với màu của chân. Những giống gà da vàng thì mỏ cũng vàng, tuy nhiên ở gà mái
thì màu sắc này có thể bị nhạt đi vào cuối thời kỳ đẻ trứng.
+ Chân:
Những gà giống tốt phải có chân chắc chắn nhưng không được thô. Chân gia
cầm có 4 ngón, rất ít 5 ngón (Trần Kiên và Trần Hồng Việt, 1998) [23]. Chân
thường có vảy sừng bao kín, cơ tiêu giảm chỉ còn gân và da. Gà có chân hình chữ
bát, các ngón chân cong, xương khuyết tật không nên sử dụng làm giống. Chân gà
thường có vuốt và cựa, cựa có vai trò cạnh tranh và đấu tranh sinh tồn của loài. Gà
có chân cao thường cho thịt thấp và phát dục chậm. (Nguyễn Chí Bảo, 1978) [2].
- Mào và tích là đặc điểm sinh dục phụ thứ cấp nên có thể phân biệt trống
mái. Mào rất đa dạng về hình dạng, kích thước, màu sắc, có thể đặc trưng cho từng
giống gà. Mào là dẫn xuất của da. Theo Phan Cự Nhân (1971) [34], khi có mặt gen
Ab gà sẽ có dạng mào hoa hồng, khi có mặt gen aB gà sẽ có dạng mào nụ và khi có
mặt gen ab thì gà sẽ có dạng mào cờ. Dựa vào hình dạng, người ta phân ra các loại
mào: mào đơn (mào cờ), mào hạt đậu, mào hoa hồng, mào nụ (mào sít)… (Nguyễn
Mạnh Hùng và Cs, 1994) [16]. Ở gà trống sự phát triển mào và tích phản ánh sự
thành thục sinh dục sớm hay muộn, còn ở gà mái nếu mào, tích phát triển không rõ
ràng là dấu hiệu có ảnh hưởng xấu tới khả năng sinh sản.
* Hình dáng và kích thước các chiều đo của cơ thể:
Tùy mục đích sử dụng, các giống gia cầm được chia làm 3 loại thể hình:
Hướng trứng, hướng thịt và kiêm dụng. Gà hướng thịt thường có hình dáng cân đối,
như ảnh hưởng khác của dịch bệnh.
Tỷ lệ nuôi sống phụ thuộc rất lớn vào yếu tố dinh dưỡng, giống, kỹ thuật,
chăm sóc nuôi dưỡng, thời tiết khí hậu, mùa vụ,… Ngoài các yếu tố trên thì vấn đề
nhiễm bệnh của gia cầm cũng là yếu tố cơ bản dẫn đến thất bại trong chăn nuôi. Gia
6
cầm rất mẫn cảm với dịch bệnh, khi mắc bệnh thường lây lan nhanh và dẫn đến tỷ lệ
chết cao, dễ kế phát các bệnh khác, đặc biệt bệnh truyền nhiễm.
Theo Hill J. F. và Cs (1954) [69]; Bransd H. và Bilchel H. (1972) [4]: Hệ
số di truyền về sức sống ở gia cầm thấp (h
2
= 0,05 - 0,1). Tuy nhiên, theo Lerner
J. M. và Mundsen V. S. (1938) [74], hệ số di truyền về sức sống của gà là 0,13;
còn theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [42] lại cho rằng hệ số di truyền về sức sống
của gà là 0,33.
Khi điều kiện sống thay đổi (thức ăn, thời tiết, khí hậu, quy trình chăm sóc
nuôi dưỡng…) gà lông màu có khả năng thích nghi tốt với môi trường sống
(Phan Cự Nhân và Trần Đình Miên, 1998) [35]. Hill J. F. và Cs (1954) [69] đã
tính được hệ số di truyền của sức sống là 0,66. Gavora J. F. (1990) [67] cho
rằng, hệ số di truyền của sức kháng bệnh là 0,25.
Theo Trần Long và Cs (1996) [27], tỷ lệ nuôi sống của gà Ri giai đoạn gà con
(0 - 6 tuần tuổi) đạt 93,3 %. Nguyễn Đăng Vang và Cs (1997) [58] cho biết tỷ lệ nuôi
sống của gà Ri giai đoạn gà con (0 - 9 tuần tuổi); gà hậu bị (10 - 18 tuần tuổi) và gà
sinh sản (19 - 23 tuần tuổi) đạt tương ứng là 92,11 %; 96 - 97,22 % và 97,25 %.
Sức đề kháng ở các loài giống, thậm chí là các cá thể khác nhau là khác
nhau. Theo kết quả nghiên cứu của Trần Đìn (1992) [30], Lê Thị
Nga và Cs (2000) [34], ở giai đoạn 1 - 16 tuần tuổi; tỷ lệ nuôi sống của gà Ri là
96,5 - 100 %; của gà Ác là 88,28 %; của gà Mía là 92,33 - 93,9 %.
Theo King D. J. (1996) [72] cho rằng: tỷ lệ nuôi sống và sức kháng bệnh phụ
thuộc vào giống, dòng, tính biệt. Con trống có sức đề kháng mạnh hơn con mái do
vì sự nghiên cứu của chúng phụ thuộc vào sự đo lường như mức độ tăng trọng của
gà, kích thước các chiều đo, khối lượng trứng… Tuy nhiên, có những tính trạng mà
giá trị của chúng có được bằng cách đếm như: số lợn con đẻ ra/lứa, số lượng trứng
gà đẻ ra trong một năm vẫn được coi là tính trạng số lượng. Đó là những tính trạng
số lượng đặc biệt.
Bộ phận di truyền có liên quan đến tính trạng số lượng được coi là di truyền
học số lượng (Quantitative genetics). Di truyền học số lượng vẫn lấy các quy luật di
truyền của Mendel làm cơ sở, nhưng do đặc điểm riêng của tính trạng số lượng so
với các tính trạng chất lượng (Quantitative character) đối tượng nghiên cứu của của
di truyền học Mendel về 2 phương diện: thứ nhất là các đối tượng nghiên cứu không
thể chỉ dừng lại ở mức độ cá thể mà phải được mở rộng tới mức độ quần thể bao
gồm các nhóm cá thể khác nhau, thứ hai là sự sai khác giữa các cá thể không chỉ là
sự phân loại mà nó đòi hỏi phải có sự đo lường các cá thể.
8
Nghiên cứu đặc điểm di truyền học của các tính trạng số lượng, bên cạnh
việc vận dụng các quy luật di truyền của Mendel còn phải sử dụng các các khái
niệm toán thống kê xác suất để phân tích các giá trị di truyền.
Giá trị đo lường được của tính trạng số lượng trên một cá thể được gọi là giá
trị kiểu hình (Phenotypic value) của cá thể đó. Các giá trị có liên quan đến kiểu gen
là giá trị kiểu gen (genotypic value) và giá trị có liên hệ với môi trường là sai lệch
môi trường (environmental evitation). Như vậy có nghĩa là kiểu gen quy định một
giá trị nào đó của cá thể và môi trường gây ra một sự sai lệch với giá trị kiểu gen
theo hướng này hoặc hướng khác. Quan hệ trên có thể biểu thị như sau:
P = G + E
Trong đó: P là giá trị kiểu hình
G là giá trị kiểu gen
E là sai lệch môi trường
Nếu trung bình sai lệch môi trường của một quần thể bằng (0), thì trung bình
giá trị kiểu hình bằng trung bình giá trị kiểu gen. Khi đó thuật ngữ trung bình quần
có ý nghĩa trong lai giống.
* Sai lệch tương tác giữa các gen
Là sai lệch do tương tác của các gen không cùng một locus, sai lệch này
thường thấy trong di truyền học số lượng hơn là di truyền học Mendel. Ngoài ra, các
tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng nhiều của môi trường E (environmental) và
được chia làm hai loại là sai lệch môi trường chung E
g
và sai lệch môi trường riêng E
s.
- Sai lệch môi trường chung E
g
(general environmental deviation) là sai
lệch do các yếu tố môi trường có tính thường xuyên và không cục bộ tác động lên
toàn bộ các cá thể trong một nhóm vật nuôi.
- Sai lệch môi trường riêng E
s
(special environtmental deviation) là sai lệch
do các nhân tố môi trường có tính chất không thường xuyên và cục bộ tác động
riêng rẽ lên từng cá thể trong cùng một nhóm vật nuôi. Tóm lại khi một kiểu hình
của một cá thể được cấu tạo bởi từ hai locus trở lên thì giá trị kiểu hình của nó được
biểu thị như sau:
P = A + D + I + E
g
+ E
s
Theo Dickenson (1952) (dẫn theo Nguyễn Văn Thiện, 1995) [41] thì vấn đề
tương tác giữa kiểu di truyền và môi trường rất quan trọng đối với ngành chăn nuôi
gia cầm. Qua việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới tính trạng số lượng ở trên, ta
thấy rằng muốn nâng cao năng suất vật nuôi cần phải:
* Tác động về mặt di truyền (G)
đỏ được tích lũy mạnh vào giai đoạn từ 9 đến 4 ngày trước khi trứng rụng. Việc
tăng quá trình sinh trưởng của tế bào là do foliculin được chế tiết ở buồng trứng
khi gà mái thành thục sinh dục.
Sự rụng trứng được tính khi tế bào trứng rời khỏi buồng trứng rơi vào loa
kèn. Sự rụng trứng chỉ xảy ra một lần trong ngày, nếu gà đẻ trứng vào cuối buổi
chiều (16 giờ) thì sự rụng trứng thực hiện vào buổi sáng ngày hôm sau. Trứng được
11
giữ lại trong ống dẫn trứng làm đình trệ sự rụng trứng tiếp theo. Sự rụng trứng của
gà thường xảy ra từ 2 - 14 giờ.
Chu kỳ rụng trứng phụ thuộc vào các yếu tố: điều kiện nuôi dưỡng, chăm
sóc, lứa tuổi và trạng thái sinh lý của gia cầm. Nếu thức ăn kém chất lượng, nhiệt độ
không khí cao sẽ làm giảm sự rụng trứng và đẻ trứng.
1.1.4.2. Cơ chế điều hòa quá trình phát triển và rụng trứng
Các hormone hướng sinh dục của tuyến yên là FSH và LH kích thích sự sinh
trưởng và chín của trứng. Nang trứng tiết Oestrogen trước khi trứng rụng vừa có tác
dụng kích thích tác động của ống dẫn trứng vừa ảnh hưởng lên tuyến yên ức chế tiết
FSH và LH. Như vậy tế bào trứng phát triển và chín chậm lại làm ngưng rụng trứng
khi tế bào còn trong ống dẫn trứng hoặc tủ cung (khi gà chưa đẻ).
Gà mái đẻ trứng hai lòng là do FSH và LH hoạt động mạnh kích thích một
lúc hai tế bào trứng cùng chín và rụng. LH chỉ tiết vào buổi tối, từ lúc tiết đến lúc
bắt đầu rụng trứng khoảng 6 - 8 giờ. Vì vậy việc chiếu sáng bổ sung vào buổi tối
làm chậm tiết LH dẫn đến chậm rụng trứng từ 3 - 4 giờ. Việc chiếu sáng 3 - 4 giờ
buổi tối thực chất là để gà đẻ tập trung vào khoảng 8 - 11 giờ sáng. Nếu không đảm
bảo đủ thời gian chiếu sáng 15 - 18 giờ/ ngày thì gà có khả năng đẻ cách nhật và
giảm năng suất trứng.
1.1.4.3. Cơ chế điều hòa quá trình đẻ trứng
Tác nhân kích thích đầu tiên tới sự phát triển của hệ sinh dục ở gà là các
hormone hướng sinh dục từ tuyến yên, tiếp theo FSH kích thích nang trứng sinh
trưởng phát triển. LH kích thích trứng chín và rụng. Cuối cùng nang trứng tiết
phải đều có buồng trứng phát triển, nhưng sau khi nở ra thì buồng trứng bên phải bị
mất đi, chỉ còn lại buồng trứng bên trái. Một số tác giả cho rằng trường hợp cá biệt
thấy ng ở cả hai bên đều phát triển bình thường.
Trong thời gian phát triển, lúc đầu các tế bào trứng được bao bọc bởi một
tầng tế bào, không có liên kết gì với biểu bì phát sinh. Sau đó tầng tế bào này trở
thành nhiều tầng, sự tạo thành tiến tới bề mặt buồng trứng, cấu tạo này được gọi là
Follicun, bên trong Follicun có một khoang hở chứa dịch, bên ngoài Follicun trông
giống như một cái túi. Trong thời kỳ đẻ trứng nhiều Follicun trở nên chín làm thay
đổi hình dạng buồng trứng, lúc này buồng trứng giống như “chùm nho”, sau thời kỳ
đẻ trứng buồng trứng lại trở lại hình dạng ban đầu, các Follicun chín vỡ ra, quả
trứng chín ra ngoài cùng với dịch của Follicun và rơi vào phễu của ống dẫn trứng.
Sự rựng trứng đầu tiên báo hiệu sự thành thục sinh dục.
Nhiều tác giả cho rằng, hầu hết lòng đỏ được tạo thành trước khi đẻ trứng 9 -
10 ngày, từ 1 - 3 ngày tốc độ phát triển của lòng đỏ rất chậm. Khi đường kính của
lòng đỏ đạt tới 6 mm thì bắt đầu sinh sản cực nhanh, và có thể tăng 4 mm trong vòng
24 giờ cho tới khi đạt 40 mm. Tốc độ sinh trưởng của lòng đỏ không tương quan với
tỷ lệ đẻ trứng. Quá trình hình thành trứng và rụng trứng là một quá trình sinh lý phức
13
tạp do sự điều khiển của hormone. Thời gian từ lúc đẻ trứng cho đến khi rụng quả
trứng tiếp theo kéo dài từ 15 - 75 phút. Tế bào trứng được giải phóng ra sau khi vỡ
Follicun và rơi vào ống dẫn trứng. Thời gian lưu lại ống dẫn trứng là 20 - 24 giờ.
1.1.4.5. N sinh sản của và các yếu tố ảnh hưởng
inh sản là cho mọi năng suất ở vật nuôi, là tính trạng được
các nhà chọn giống quan tâm. Đối với tính trạng
được quan tâm là: Tuổi đẻ trứng đầu, tỷ lệ đẻ, sản lượng trứng, chất lượng trứng, tỷ
lệ trứng có phôi, Ở các loài gia cầm khác nhau thì những đặc điểm sinh sản cũng
khác nhau rõ rệt.
Đối với gia cầm, sự di truyền về sinh sản cũng phức tạp. Theo các công trình
nghiên cứu của nhiểu tác giả, việc sản xuất trứng gia cầm có thể do 5 yếu tố ảnh
Thái Hòa Trung Quốc 141 - 144 ngày (Vũ Quang Ninh, 2002) [36]. Theo Pingel H.,
Jeroch H. (1980) dẫn theo Trần Thị Mai Phương (2004) [38] bằng phương pháp
chọn lọc qua 5 thế hệ người ta đã rút ngắn được tuổi thành thục về tính của gà
Rhode Island từ 356 ngày xuống còn 194 ngày. Theo Brandsch H. và Bilchel H.
(1978) [4] tuổi đẻ quả trứng đầu tiên và khối lượng cơ thể có tương quan với nhau.
Tuổi đẻ sớm hay muộn liên quan chặt chẽ tới khối lượng cơ thể ở một thời
điểm nhất định. Những có khối lượng cơ thể nhỏ thường có tuổi thành thục
sớm những có khối lượng cơ thể lớn. Các yếu tố ảnh hưởng tới tuổi thành
thục sinh dục sớm là: ngày, tháng nở của gà con; khoảng thời gian chiếu sáng tự
nhiên hoặc nhân tạo và khối lượng cơ thể. Thời gian chiếu sáng ảnh hưởng lớn tới
tuổi thành thục về tính dục. Thí nghiệm của Morris T. R. (1967) [75] trên gà
Legohrn được ấp nở quanh năm cho biết, những gà được ấp nở vào th ng 12 và
tháng 1 thì có tuổi thành thục về tính là 150 ngày, những gà được ấp nở từ tháng 4
đến tháng 8 thì có tuổi thành thục về tính trên 170 ngày. Những gà nở sau đó có
tuổi thành thục về tính sớm hơn vì thời gian sinh trưởng giai đoạn hậu bị của
chúng diễn ra trong những ngày có cường độ chiếu sáng giảm dần, sau đó ánh
sáng lại tăng dần lên, do đó sẽ kích thích cơ quan sinh dục phát triển và rút ngắn
tuổi thành thục về tính.
Sự biến động trong tuổi thành thục sinh dục còn có thể ảnh hưởng bởi các
yếu tố khác như tiêm phòng vaccine cho gà con sẽ làm đẩy lùi ngày đẻ quả trứng
đầu tiên. Khẩu phần ăn cũng có ảnh hưởng mạnh đến chỉ tiêu này (Jonhanson I.,
1972) [18]. Hệ số di truyền tuổi thành thục về tính dục ở gà là 0,15 - 0,42 (Pingel
H., Jeroch H., 1980 (dẫn theo Trần Thị Mai Phương, 2004 [38])).
Tuổi của gà mái là
một chỉ tiêu đánh giá sự thành thục sinh dục. Chỉ tiêu này cũng là một yếu tố cấu
thành năng suất. Tuổi đẻ quả trứng đầu được xác định bằng số ngày tuổi kể từ khi
nở đến khi đẻ quả trứng đầu tiên. Trong một đàn, tuổi đẻ quả trứng đầu được xác
định bằng tuổi đẻ 5 % của số cá thể trong đàn.
15
* Cường độ đẻ trứng
Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trứng của trong một khoảng thời gian
nhất định. Cường độ đẻ trứng có thể tính theo độ dài trật đẻ hoặc tỷ lệ đẻ bình quân
trong một giai đoạn. Cường độ đẻ trứng có tương quan dương (+) và rất chặt chẽ
với sản lượng trứng (Pingel H., Jeroch H. (1980) dẫn theo Trần Thị Mai Phương
(2004) [38]. Cường độ đẻ trứng mang đặc điểm của từng giống và đặc trưng riêng
16
cho từng cá thể gà mái (có những gà mái 2 ngày mới đẻ 1 trứng, có con chỉ đẻ 3, 4
hoặc 5 trứng trong một trật đẻ, cá biệt có gà mái đẻ hơn 40 quả trong một trật đẻ.
Cường độ đẻ trứng còn chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác như chế độ nuôi
dưỡng, phương thức chăn nuôi. Gà Ri nuôi bán thâm canh có tỷ lệ đẻ 39,43 % cao
hơn so với gà Ri nuôi chăn thả 31,45 % (Nguyễn Văn Thạch, 1996) [39]. Theo
Pingel H., Jeroch H., 1980 (dẫn theo Trần Thị Mai Phương, 2004 [38]) hệ số di
truyền về cường độ đẻ trứng của gà khá cao, h
2
= 0,66.
* Trật đẻ
Trật đẻ là khoảng thời gian mà gia cầm đẻ liên tục, giữa tuổi đẻ trứng đầu
và trật đẻ có tương quan với nhau, gà đẻ muộn thì độ dài trật đẻ ngắn. Độ dài trật
đẻ phụ thuộc vào giống, thời gian chiếu sáng và thời gian đòi ấp…
* Sản lượng trứng
Sản lượng trứng là số trứng của một mái đẻ ra trong một chu kỳ đẻ hoặc
trong một thời gian nhất định, có thể tính theo tháng hoặc năm. Khi điều kiện môi
trường thích hợp (nhiệt độ, ánh sáng, dinh dưỡng…) nhiều gen tham gia điều khiển
quá trình liên quan đến sinh sản đều phát huy tác dụng, cho phép gia cầm phát huy
được đầy đủ tiềm năng di truyền của chúng. Hệ số di truyền về sản lượng trứng của
gà là 0,2 - 0,3 (Pingel H., Jeroch H., 1980 (dẫn theo Trần Thị Mai Phương, 2004
[38]); 0,12 - 0,3 (Nguyễn Văn Thiện, 1995) [41].
Sản lượng trứng là chỉ tiêu phản ánh chất lượng trứng giống. Sản lượng trứng