Nghiên Cứu Một Số Đặc Điểm Sinh Học Và Khả Năng Sản Xuất Của Lợn Bảo Lạc, Huyện Bảo Lạc, Tỉnh Cao Bằng - Pdf 35

1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------------------

MÔNG THỊ XUYẾN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
VÀ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA LỢN BẢO
LẠC, HUYỆN BẢO LẠC, TỈNH CAO BẰNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2009


2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------------------

MÔNG THỊ XUYẾN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
VÀ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA LỢN BẢO
LẠC, HUYỆN BẢO LẠC, TỈNH CAO BẰNG


Thái Nguyên - người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá
trình hoàn thành luận văn này.

Đồng thời tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể các thầy, cô giáo
trong khoa Sau đại học, các thầy giáo, cô giáo giảng dạy chuyên ngành,
Khoa Chăn nuôi Thú y, đã giúp đỡ hoàn thiện đề tài và có những đóng góp
ý kiến để tôi hoàn thành tốt bản luận văn này.
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới tất cả các
thầy giáo, cô giáo, bạn bè đồng nghiệp, cơ quan, gia đình và người thân đã

quan tâm động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Mông Thị Xuyến


5

MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1

1.Tính cấp thiết của đề tài..........................................................................................1
2. Mục tiêu của đề tài .................................................................................................3

3.1. Tình hình phát triển và tập quán chăn nuôi lợn của huyện Bảo Lạc .............47
3.1.1. Biến động về số lượng và phân bố đàn lợn qua 3 năm (2006 - 2008)
của huyện Bảo Lạc ................................................................................... 47
3.1.2. Cơ cấu đàn lợn tại 3 xã điều tra của huyện Bảo Lạc........................ 49
3.1.3. Hiện trạng và tập quán chăn nuôi lợn của huyện Bảo Lạc..................51
3.2. Một số đặc điểm sinh học của lợn Bảo Lạc ....................................................55
3.2.1. Đặc điểm ngoại hình các nhóm lợn theo màu sắc lông ................ 55
3.2.2. Một số chỉ tiêu sinh lý máu của lợn Bảo Lạc .............................. 58
3.3. Khả năng sản xuất của lợn nái Bảo lạc............................................... 60
3.4. Khả năng sinh trưởng và sức sản xuất thịt của lợn Bảo Lạc........... 67
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ............................................................................. 83
1. Kết luận.................................................................................................................83
2. Đề nghị..................................................................................................................84
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 85
PHỤ LỤC ........................................................................................................ 90


7

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Cơ cấu giống của đàn lợn huyện Bảo Lạc qua 3 năm (2006-2008)... 47
Bảng 3.2. Cơ cấu đàn lợn tại 3 xã của huyện Bảo Lạc năm 2008...................... 49
Bảng 3.3. Phân loại lợn Bảo Lạc theo màu sắc lông tại 3 xã của huyện
Bảo Lạc ........................................................................................... 55
Bảng 3.4: Một số chỉ tiêu sinh lý máu của lợn Bảo Lạc ................................. 58
Bảng 3.5. Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái .................................. 60
Bảng 3.6. Một số chỉ tiêu về sức sản xuất của lợn nái Bảo Lạc .................... 64
Bảng 3.7. Khối lượng lợn con từ sơ sinh đến 8 tuần tuổi (kg/con)................. 68
Bảng 3.8. Sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của lợn con giai đoạn ss - 8
tuần tuổi .......................................................................................... 70

CS, ĐVT
KL
g, g%
Hb
HC
BC
NXBNN
NXBGD
STH
VCN
MC
SS
TCVN
NN & PTNT
WTO
FAO
AFTA
BCTT
VCK
TS
ĐBSCL
TN
BTB
DHNTB
ĐBSH
Y
L

Chữ được viết tắt
Cộng sự, Đơn vị tính

MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi lợn trên thế giới cũng như ở Việt Nam giữ một vai trò rất
quan trọng, được phát triển ở hầu khắp các nước trên thế giới. Sở dĩ lợn có thể
phát triển một cách dễ dàng là do nó có nhiều đặc tính ưu việt: ăn tạp, chi
phí/1kg tăng khối lượng thấp, sức chịu đựng tốt với các điều kiện vệ sinh
chăm sóc khác nhau, chu kỳ sinh sản ngắn và tốc độ tăng trưởng nhanh, nên
khả năng cho sản phẩm rất lớn. Mỗi năm, 1 nái có thể đẻ từ 2 đến 2,4 lứa và
lượng thịt lợn được sản xuất từ một lợn nái cũng rất cao, có thể đạt tới 2
tấn/năm. Mặt khác, thịt lợn giàu dinh dưỡng, phẩm chất tốt, dễ chế biến, phù
hợp với khẩu vị của đa số người tiêu dùng, nên mức tiêu thụ rất cao. Lượng
thịt lợn tiêu thụ trên thế giới tương đương với thịt bò, ở mức khoảng 40%
tổng lượng thịt (FAO). Ở Việt Nam, thịt lợn là nguồn thực phẩm chính.
Ngoài việc cung cấp nguồn thực phẩm quan trọng, thì chăn nuôi lợn
còn cung cấp một lượng phân bón rất lớn cho ngành trồng trọt, khí biogas
phục vụ sinh hoạt ở nông thôn, cung cấp nguồn nguyên liệu cho ngành công
nghiệp chế biến, thuộc da…
Trước sức ép của thời kỳ hội nhập nền kinh tế quốc tế, cũng như các
ngành khác, ngành chăn nuôi lợn cũng có sự cạnh tranh xuất khẩu rất khắt
khe, đòi hỏi về số lượng và chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm cao. Từ
thực tế đó, Nhà nước đã và đang có những chính sách phát triển ngành chăn
nuôi lợn, áp dụng công nghệ tiên tiến nhất hiện nay, theo hướng phát triển
chăn nuôi lợn công nghiệp, thực hiện nhập khẩu một số giống lợn ngoại cao
sản trên thế giới như Landrace, Yorkshire, Doroc, Pietrain…, cải tiến giống
lợn nội và nâng cao năng suất, tăng nhanh số lượng thịt lợn, đồng thời nâng
cao chất lượng thịt, phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu. Các nhà


2



chậm, đó là hậu quả của phương thức chăn nuôi lạc hậu. Các nghiên cứu về
đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của chúng còn ít và thiếu hệ thống.
Từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh
học và khả năng sản xuất của lợn Bảo Lạc, huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng”.
2. Mục tiêu của đề tài
- Xác định được tập quán chăn nuôi lợn của người dân địa phương.
- Xác định được một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của lợn
Bảo Lạc.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu về một số đặc điểm sinh học và khả năng sản
xuất của lợn Bảo Lạc, để từ đó làm tiền đề cho việc hoạch định những định
hướng, chính sách phát triển chăn nuôi lợn bản địa tại địa phương, đồng thời
góp phần làm cơ sở cho việc bảo tồn nguồn gen lợn Bảo Lạc.
Đề tài đóng góp thêm những số liệu khoa học phục vụ cho nghiên cứu
và giảng dạy trong các trường Đại học, Cao đẳng và Viện nghiên cứu.
Định hướng cho người dân chăn nuôi lợn nội chất lượng, an toàn vệ
sinh thực phẩm và phát triển nông nghiệp bền vững tại địa phương.


4

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Cơ sở về việc nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của lợn
Đặc điểm về di truyền của lợn
Cũng như các loài gia súc khác, đặc điểm di truyền các tính trạng chất
lượng và số lượng trên lợn cũng tuân theo các quy luật di truyền của Mendel.

(Environment). Giá trị kiểu gen (G) của giá trị số lượng do nhiều gen có hiệu
ứng nhỏ (minorgene) cấu tạo thành. Đó là các gen có hiệu ứng riêng biệt của
từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ ảnh hưởng rất rõ rệt tới
tính trạng nghiên cứu, hiện tượng này gọi là hiện tượng đa gen (Polygen). Các
minorgene này tác động lên tính trạng theo 3 phương thức: Cộng gộp, trội và
át gen. Vì vậy giá trị kiểu gen hoạt động thể hiện qua công thức:
G=A+D+I
Trong đó:

G : Giá trị kiểu gen
A : Giá trị cộng gộp
D : Giá trị sai lệch trội
I : Giá trị sai lệch tương tác

A là thành phần quan trọng nhất của kiểu gen vì nó ổn định, có thể xác
định được và di truyền cho đời sau. Hai thành phần D và I cũng có vai trò
quan trọng vì đó là giá trị giống đặc biệt và chỉ xác định được thông qua con
đường thực nghiệm.
Theo J. F. Lasley, 1974 (dẫn theo Trần Văn Tường và Nguyễn Quang
Tuyên, 2000) [57], những tính trạng có hệ số di truyền (h2) từ 0,12 - 0,30 là
những tính trạng có hệ số di truyền thấp.
Những tính trạng có hệ số di truyền bằng 0,4 - 0,5 là những tính trạng
có hệ số di truyền trung bình.


6

Những tính trạng có hệ số di truyền bằng 0,5 trở lên là những tính trạng
có hệ số di truyền cao và cho hệ quả chọn lọc cao.
Những tính trạng cho hệ số di truyền thấp sẽ cho ưu thế lai cao.

riêng, khi hai con gặp nhau, lông gáy dựng đứng, hai hàm răng va vào nhau
phát ra tiếng kêu kịch, kịch đe doạ lẫn nhau, bọt mép sùi ra hai bên mũi, lợn
đực xông lên nhằm đe doạ nhau; trong giao phối tự nhiên vào mùa sinh sản
của lợn thường xảy ra các cuộc chiến tranh dành lợn cái giữa các con đực.
Lợn có tính tò mò cao và rất hiếu động; lợn nhà được tập luyện cho ăn
với hiệu lệnh, đúng giờ ăn, ỉa, đái, nằm ngủ đúng chỗ quy định. Khi sợ hãi,
lợn thường kêu rít, cơ bắp run, chụm vào nhau ở một góc chuồng, lợn thích
ngủ nơi tối.
Lợn có một số tập tính hoạt động thông thường như đi lại, đứng và ngủ
trong thời gian nằm.
* Một số tập tính đặc thù của lợn:
- Hoạt động bú sữa của lợn: Khi cho con bú, con mẹ nằm nghiêng,
thẳng, hai hàng vú lộ rõ. Đàn con bú mỗi con một vú, tranh thủ mút liên tục
mỗi con 9 - 10 giây, con mẹ phát tiếng kêu “Ịt, ịt…” liên tục đều đặn trong
khi tiết sữa cho con bú. Lợn con mới sinh ra có thể đứng ngay được và có thể
tự tìm vú mẹ để bú, lợn mẹ vừa đẻ vừa cho con bú. Trong chăn nuôi lợn nái
xem xét hoạt động này để đánh giá một phần khả năng tiết sữa của lợn mẹ,
sức khoẻ và chất lượng đàn con. Nếu thời gian thúc vú nhiều mà mút sữa ít,
chứng tỏ khả năng sản xuất sữa của lợn mẹ hạn chế.
- Hoạt động phối giống của lợn đực: Con đực còn có hoạt động nhảy
cái, có bản năng phát hiện được con cái động dục, nó tìm cách tiếp cận, nếu
con cái tiếp nhận, thì lợn đực sẽ tiến hành giao phối.
- Hoạt động của lợn nái đẻ: Lợn nái chuẩn bị đẻ có biểu hiện tìm ổ, cào
phá. Biết được hoạt động của lợn nái đẻ người chăn nuôi lợn có thể quan sát


8

theo dõi lợn sinh sản tốt hơn, phát hiện tình trạng bệnh lý trong quá trình đẻ
của lợn để có can thiệp kịp thời (Vũ Đình Tôn và CS, 2005) [52].

giá qua ngoại hình, thể chất.
Ngoại hình là hình dáng bên ngoài có liên quan đến thể chất, sức khoẻ,
hoạt động của các bộ phận bên trong cơ thể cũng như khả năng sản xuất của
gia súc và là hình dạng đặc trưng của một phẩm giống. Thể chất liên quan
chặt chẽ với sức khoẻ, con vật có thể chất tốt thì suốt đời khoẻ mạnh, nhanh,
có sức sản xuất cao, dù điều kiện ngoại cảnh có thay đổi khá nhiều. Thể chất
có biểu hiện qua ngoại hình là sức khoẻ đầy đủ, sức sống, sức đề kháng, sức
sinh sản, tính thích nghi của gia súc, ở cơ thể chắc chắn, ở bộ phận có liên
quan trực tiếp đến sức sản xuất như mông, vai, phát triển ở thịt lợn sẽ cho
nhiều thịt. Đặc trưng của một phẩm giống trước tiên bao giờ cũng nhìn qua
ngoại hình, nhất là đối với màu sắc lông, da hoặc là các bộ phận thuộc giới
tính và thông qua ngoại hình giúp ta biết được hướng sản xuất của con vật.
Ngoại hình, là một đặc điểm, mà khả năng di truyền ít chịu ảnh hưởng bởi
những yếu tố ngoại cảnh. Mầu sắc lông da là đặc điểm ngoại hình đặc trưng của
giống. Trong một đàn lợn giống thuần, nếu màu sắc không thuần nhất là có hiện
tượng biến dị xấu (Trần Cừ, Nguyễn Khắc Khôi, 1985) [7]
Dựa vào đặc điểm ngoại hình giúp chúng ta có thể khảo sát, phân biệt
giữa các nhóm lợn đặc thù của từng vùng sinh thái khác nhau.
1.1.5. Đặc điểm về sinh trưởng, khả năng sản xuất và phẩm chất thịt của lợn
1.1.5.1. Sinh trưởng, cơ sở di truyền của sự sinh trưởng
Sinh trưởng được nhiều tác giả nghiên cứu cho các khái niệm cũng
phần nào khác nhau.
Khi nghiên cứu về sinh trưởng, Johansson. L (1972) [21] đã có khái
niệm như sau: về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như là quá trình tổng
hợp protein, cho nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng cơ thể làm chỉ
tiêu đánh giá sự sinh trưởng. Tuy nhiên, cũng có khi tăng khối lượng không


10


1.1.5.2. Các giai đoạn sinh trưởng và phát dục của lợn
Quá trình sinh trưởng phát dục của gia súc nói chung cũng như ở lợn
nói riêng đều tuân theo các quy luật:
- Quy luật sinh trưởng và phát dục không đồng đều. Quy luật này thể
hiện ở chỗ cường độ sinh trưởng và tốc độ tăng trọng thay đổi theo tuổi.
- Quy luật sinh trưởng và phát dục theo giai đoạn, quy luật này được
chia ra làm 2 giai đoạn đó là trong thai và ngoài thai.
+ Giai đoạn trong thai gồm: Thời kỳ phôi thai từ 1 - 22 ngày, thời kỳ
tiền phôi thai từ 23 - 38 ngày, thời kỳ thai nhi từ 39 - 114 ngày.
Trong thực tế sản xuất người ta chia ra: lợn chửa kỳ I là bắt đầu từ khi
thụ thai đến 1 tháng trước khi đẻ. Lợn chửa kỳ II rất quan trọng, ảnh hưởng
rất lớn đến khối lượng sơ sinh và tỷ lệ nuôi sống, 3/4 khối lượng sơ sinh được
sinh trưởng ở giai đoạn chửa kỳ II. Theo Trương Lăng và Nguyễn Văn Thiện
(1995) [27], bào thai lợn tháng thứ 2 phát triển tăng 33,5 lần so với tháng thứ
nhất, tháng thứ 3 phát triển tăng 8,7 lần và 3 tuần tháng thứ 4 chỉ tăng 2,2 lần.
Nếu lợn chửa kỳ II mà nuôi dưỡng kém, sau khi sinh, dù nuôi dưỡng tốt, vẫn
chậm lớn, ảnh hưởng đến khối lượng cai sữa và thời gian nuôi cho đến khối
lượng xuất chuồng.
+ Giai đoạn ngoài cơ thể mẹ gồm: Thời kỳ bú sữa, thời kỳ thành thục,
thời kỳ trưởng thành, thời kỳ già cỗi.
Thời kỳ bú sữa của lợn ở Việt Nam thông thường là 60 ngày. Hiện nay,
một số cơ sở chăn nuôi đã tiến hành cai sữa sớm ở 21, 28, 35 hay 45 ngày
tuổi, thức ăn của lợn con chủ yếu ở thời kỳ này là bú sữa mẹ.Tuy nhiên, muốn
lợn con sinh trưởng nhanh hơn, khối lượng khi cai sữa cao hơn, ta phải bổ
sung thêm thức ăn. Sau khi tách mẹ, những ngày đầu thức ăn phải đảm bảo
sao cho lợn con tăng trọng đều mỗi ngày như khi bú mẹ. Có như vậy, lợn con


12



từ 4,5 - 5 kg thức ăn cho 1 kg tăng trọng, lợn ngoại nhập (Landrace,
Yorkshire) chỉ cần từ 3,2 - 3,5 kg thức ăn cho 1 kg tăng trọng. Các giống khác
nhau cũng có phẩm chất thịt xẻ và phẩm chất thịt khác nhau, lợn Móng Cái có
tỷ lệ nạc 37%, trong khi đó lợn Yorkshire có tỷ lệ nạc từ 52 - 53%.
Các giống gia súc khác nhau có khả năng tăng khối lượng khác nhau,
phụ thuộc vào các gen quy định tính trạng này. Cùng một khối lượng như
nhau, cùng kiểu gen, nhưng khi trưởng thành, những con có khối lượng lớn
hơn, có khả năng tăng khối lượng nhanh hơn lại có ít mỡ hơn những con có
khối lượng nhỏ hơn. Theo Nguyễn Văn Đức (1997), (dẫn theo Giang Hồng
Tuyến, 2009) [56].
* Thức ăn: Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng của yếu tố ngoại cảnh chi
phối đến sinh trưởng và khả năng cho thịt của lợn. Trần Văn Phùng và CS,
(2004) [38] cho rằng: Các yếu tố di truyền không thể phát huy tối đa, nếu
không có một môi trường dinh dưỡng và thức ăn hoàn chỉnh. Một số thí
nghiệm đã chứng minh rằng, khi chúng ta cung cấp cho lợn các mức dinh
dưỡng khác nhau có thể làm thay đổi tỷ lệ các phần trong cơ thể. Khẩu phần
có mức năng lượng cao và mức protein thấp thì lợn sẽ tích luỹ mỡ nhiều hơn
so với những khẩu phần có mức năng lượng thấp và hàm lượng protein cao.
Khẩu phần có mức protein cao, thì gia súc nói chung và lợn nói riêng, sẽ có tỷ
lệ nạc cao hơn. Trong thời gian mang thai ảnh hưởng của nuôi dưỡng rất rõ,
nuôi dưỡng gia súc mẹ tốt trong thời gian mang thai sẽ giúp gia súc mẹ nhiều
con và gia súc con khoẻ mạnh.
Lượng thức ăn cho ăn cũng như thành phần dinh dưỡng ảnh hưởng trực
tiếp đến tốc độ tăng trọng của lợn, theo Robinson, 1930 (dẫn theo Vũ Đình Tôn
và CS, 2005) [52]: Hàm lượng xơ thô tăng từ 2,4% lên 11% thì tăng trọng mỗi


14


ăn. Do vậy, khi nhốt ở mật độ cao sẽ tăng tính không ổn định trong đàn. Sự
không ổn định này là do tăng sự tấn công lẫn nhau, giảm bớt thời gian ăn và
nghỉ của lợn. Nghiên cứu của Mỹ (Bord) cho thấy: Khi nuôi lợn với mật độ
thấp, sẽ làm tăng được tốc độ tăng trọng cũng như giảm mức tiêu tốn thức ăn.
Chăm sóc ảnh hưởng chủ yếu đến năng suất, chuồng vệ sinh kém dễ gây
bệnh, chuồng nuôi ồn ào, không yên tĩnh đều làm năng suất giảm. Sức khoẻ
trong giai đoạn bú sữa kém như thiếu máu, còi cọc thì đến giai đoạn nuôi thịt
tăng trọng kém (Theo Vũ Đình Tôn, 2005) [52].
Phương thức nuôi dưỡng như cho ăn tự do sẽ làm tăng tốc độ tăng
trọng của cả lợn đực thiến và lợn cái so với ăn hạn chế, những giống lợn
hướng mỡ nên cho ăn hạn chế ngay từ đầu, với những giống lợn hướng nạc
cho ăn tự do sẽ có được năng suất và chất lượng tốt nhất.
Theo quan điểm di truyền học thì hầu hết các tính trạng về sản xuất của
gia súc gia cầm như: Sinh trưởng, cho lông, cho thịt, trứng, sản lượng sữa,
sinh sản… đều là tính trạng số lượng. Tính trạng số lượng là những tính trạng
ở đó sự sai khác giữa các cá thể là sự sai khác nhau về mức độ, hơn là sự sai
khác nhau về chủng loại. Darwin đã chỉ rõ sự sai khác này chính là nguyên
liệu cho chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo. Tính trạng số lượng còn gọi
là tính trạng đo lường (metriccharacter), sự nghiên cứu chúng phụ thuộc vào
sự đo lường như: Khối lượng cơ thể, tốc độ tăng trọng, sản lượng trứng, kích
thước các chiều đo… (Trần Đình Miên và CS, 1975) [35].
Ảnh hưởng của năm: năm thí nghiệm gây ảnh hưởng lớn đến tính trạng
tỷ lệ nạc của lợn. Theo Nguyễn Văn Đức (1997), (dẫn theo Giang Hồng
Tuyến, 2009) [56] cho biết: Ở lợn Móng Cái, yếu tố năm gây ảnh hưởng đến
tính trạng tỷ lệ nạc. Điều này có thể giải thích rằng điều kiện ngoại cảnh mỗi
năm có những thay đổi nhất định.
Ngoài ra, quá trình trao đổi chất trong cơ thể cũng là một trong những
yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của lợn. Quá trình trao đổi chất
xảy ra dưới sự điều khiển của các hormoe. Hormone thuỳ trước tuyến yên


một khoảng thời gian nhất định, cơ quan sinh dục của nó có những biến đổi



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status