Báo cáo khoa học : MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA ĐÀN LỢN RỪNG THÁI LAN NHẬP NỘI VÀ LỢN RỪNG VIỆT NAM - Pdf 15


VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 25-Tháng 8-2010 14

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA ĐÀN LỢN RỪNG THÁI LAN NHẬP NỘI VÀ
LỢN RỪNG VIỆT NAM
Tăng Xuân Lưu
1
,Trần Thị Loan
1
, Võ Văn Sự
2
,
Nguyễn Văn Thành
3
và Trịnh Phú Ngọc
2
1
Trung tâm nghiên cứu bò và Đồng cỏ Ba Vì ,
2
Bộ môn động vật quý hiếm và đa dạng sinh học-VCN
3
Trung tâm Nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật chan nuôi TP HCM
*Tác giả liên hệ : Tăng Xuân Lưu
1
Trung tâm nghiên cứu bò và Đồng cỏ Ba Vì
Tel: 0912124291; Email:

ABSTRACT

Vì vậy, để có những thông tin và số liệu khoa học cụ thể về chăn nuôi lơn rừng, chúng tôi tiến
hành đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của đàn lợn rừng Thái Lan nhập nội và
lợn rừng Việt Nam”.

TĂNG XUÂN LƯU – Một số đặc điểm sinh học của đàn lợn rừng

15

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Lợn rừng Thái Lan và lợn rừng Việt Nam bao gồm: Lợn từ 1 ngày tuổi, lợn choai, lợn hậu bị,
lợn sinh sản (Đực và cái).
Nguồn gốc: Lợn có nguồn gốc từ Thái Lan nhập khẩu vào Việt Nam và lợn rừng được thuần
dưỡng từ rừng vùng núi Thanh Hóa, Nghệ An với giống mõm dài
Địa điểm nghiên cứu
Công ty Khánh Gia- Bình Dương, Trang trại Bảy Dũng- Bình Phước với 120 nái sinh sản
Công ty Giống động vật quý Hà Khánh Nha Trang: 25 nái sinh sản
Trang trại Xương Lâm Bắc Giang: với 20 nái sinh sản
Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì và một số trại vùng Hòa Lạc- Hà Nội: với 45 nái
sinh sản.
Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 1 – 2007 đến tháng 6 năm 2009
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp trực quan: quan sát theo dõi và mô tả. Ghi chép các thông tin và số liệu theo
phiếu được lập sẵn từng cá thể qua các chỉ tiêu các năm và vào chương trình Việtpig để theo
dõi theo hồ sơ cá thể
Nội dung nghiên cứu
Mô tả đặc điểm ngoại hình: của lợn rừng Thái Lan và Lợn rừng Việt Nam
Tập tính sinh học của lợn rừng: Tập tính sinh hoạt: vận động, đi lại, ngủ nghỉ, tìm kiếm thức
ăn, nước uống, sử dụng thức ăn, lựa chọn thức ăn, tập tính sinh dục: triệu chứng động dục,

phía trước, còn con nhỏ thường phải bú vú sau cùng. Con sinh ra đầu tiên thường là những
con có khối lượng sơ sinh nhỏ nhất trong đàn. Sau khi bú sữa đầu, lợn con thường tìm chỗ kín
và ấm để nằm và thường nằm chung, tụm vào một nơi. Về mùa lạnh lợn thường chui vào rác
hoặc vật khác miễn là phủ kín mình và nằm thành “đống”.Khi có tiếng động hoặc tiếng khua
mạnh thì lợn con phản xạ rất nhanh phát ra tiếng kêu đồng thanh, chạy nhanh về phía mẹ và
tập trung thành cụm. Đặc biệt khi thấy con vật lạ thì lợn con thường quay đầu ra phía trước để
quan sát và phòng thủ tự vệ “tập thể”
Màu lông
Lợn rừng có màu lông không đồng nhất trên cơ thể, nó được phân chia theo từng vùng khác
nhau và thay đổi theo tháng tuổi, đặc biệt giai đoạn nhỏ khác hoàn toàn với giai đoạn trưởng
thành. Gai đoạn nhỏ: toàn thân có nhiều màu vàng thâm, đen, bạc, hung như màu lá rụng (lá
vàng,đen, khô, thâm), tương tự như báo cáo của Đỗ Kim Tuyên (2006), Võ Văn Sự (2008).
Màu lông sơ sinh
Hai bên mình cách dọc sống lưng 1-1,5 cm là sọc đầu tiên chạy liên tục từ phía sau mông cho
tới sau hốc tai. Mỗi bên bao gồm 6 sọc : 3 sọc đậm thường là màu vàng sọc dưa bở và 3 sọc
màu nâu đen. Hai bên đối xứng nhau, riêng 2 sọc đối xứng gần sống lưng là sọc liên tục còn
lại là sọc ngắt quãng làm 2 hoặc 4 đoạn có xen kẽ. Phần dưới bụng là màu trắng bạc. Các sọc
này đậm nét từ ngày thứ 10 đến ngày thứ 60, từ ngày 61 trở đi bắt đầu chuyển màu nhạt dần
cho tới khi được 4 tháng và trở thành màu hung bạc hoặc nâu đen từ tháng thứ 6-7 .
Màu lông giai đoạn trưởng thành
Hai bên má màu bạc, vùng bụng màu trắng đục, còn lại toàn thân màu nâu hung hoặc đen
hung. Lông dựng đứng, chĩa ra và cứng (Trong trường hợp màu nâu hung hoặc màu vàng
cháy lông dày, mượt là lợn mọi hoặc lợn Ba Xuyên Việt Nam hoặc lợn mọi của đồng bào dân
tộc Mèo, Thái Lan nuôi ở phía Bắc, loại lợn này cũng có lông chụm 3 ở phía lưng, có khác
nhau giữa lợn rừng Việt Nam và lợn Rừng Thái Lan. Khi trưởng thành toàn thân lợn được
chia làm 3 loại màu đặc trưng đó là loại nâu hung, loại đen và loại xám đen ở cả hai giống
Việt và Thái.
Mật độ lông: Lợn rừng Việt Nam có bộ lông dài hơn, rậm hơn và cứng hơn, đối với màu sắc
thì lợn rừng Việt Nam màu sắc đậm và rõ nét hơn của thái lan. Khi trưởng thành toàn thân lợn
được chia làm 3 loại màu đặc trưng đó là loại nâu hung, loại đen và loại xám đen ở cả hai

nào cho dù đó là âm thanh hay tiếng động đó là lành hay dữ. Bốn móng bao gồm 2 móng treo
trên thường kém phát triển, 2 móng tiếp giáp đất chụm, nhọn, màu đen chắc: tạo bước đi nhẹ
nhàng, tránh tiếng động và tiếp giáp chắc vào mặt đất, màu lông chân đen hung (một số con
có móng và lông lang đen đó là con có máu lai với lợn nhà). Đối với lợn rừng Việt Nam: chân
nhỏ, móng chụm và đen thẫm hơn lợn rừng Thái Lan.
Vú: Kết quả theo dõi kiểm tra ngẫu nhiên của 120 lợn nái sinh sản chúng tôi thu được kết quả:
lợn rừng Thái Lan và lợn rừng Việt Nam đều có từ 8-12 vú: trong đó 97% là 10 vú, 2,5 % 12
vú, 0,2% có 8 vú và 0,3 % có từ 1-3 vú kẹ.
Đuôi:Lợn rừng có đuôi nhỏ vót hình đuôi chuột, có chùm lông hình dẻ quạt ở cuối đuôi như
lợn nhà và đuôi kém phát triển hơn lợn nhà.
Tập tính sinh hoạt của lợn rừng
Tập tính đi lại
Lợn rừng con: từ 1-3 ngày tuổi lợn thích nằm chỗ kín và ấm (dù mùa hè thì lợn vẫn thích chui
vào rác hoặc nơi có nhiệt độ cao), hầu hết thời gian dành riêng cho ngủ, ngoài thời gian bú
mẹ. Từ ngày thứ 4 trở đi lợn thường chơi đùa ra nơi có ánh nắng, đặc biệt khi thời tiết nóng
nực thì chúng thích vầy nơi có nước hoặc bùn. Đối với lợn trưởng thành thích cà người vào
thân cây hoặc bờ tường, bờ rào và thích gặm vỏ thân cây (động tác mài răng nanh).
Lợn rừng mẹ: Lợn rừng giống lợn nhà ở chỗ, sau khi ăn no đều nằm nghỉ sau đó mới dành
thời gian cho nô đùa. Thời gian đi lại trong ngày nhiều hơn thời gian ngủ nghỉ, đặc biệt là lợn
trưởng thành và lợn đực: Thời gian hoạt động nhiều nhất trong ngày vào lúc từ 7giờ30 đến

VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 25-Tháng 8-2010 18

10giờ30, và từ 14giờ30 đến 17 giờ. Thời gian nghỉ, ngủ thường tập trung vào trưa từ 11giờ30
đến 13giờ30 và vào ban đêm.
Tìm kiếm thức ăn
Lợn rừng thích đào bới, tìm kiếm thức ăn trong lòng đất, thích ăn những thức ăn cứng như

Tập tính thải phân và nước tiểu
Trong trường hợp nuôi nhốt hay thả rông trong khuôn viên rộng thì chúng đều có phản xạ là
thải phân và nước tiểu nơi có nước hoặc một khu vực tương đối ổn định và phải là nơi ẩm ướt
nhất khu vực, đặc điểm này giống lợn địa phương.
Tập tính ngủ, nghỉ
Chúng thường ngủ, nghỉ ở nơi ít người hoặc ít gia súc đi lại (nơi yên tĩnh) đặc biệt rất ít thấy
lợn ngủ có tiếng gáy. Thời gian ngủ nghỉ thường tập trung vào thời gian trưa từ 11 giờ 30 đến
13 giờ 30 và vào ban đêm.

TĂNG XUÂN LƯU – Một số đặc điểm sinh học của đàn lợn rừng

19

Hoạt động động sinh lý, sinh dục
Biểu hiện chu kỳ sinh dục
Sự thành thục về tính của lợn rừng Thái Lan và lợn Rừng Việt Nam thể hiện qua Bảng 2
Hiện tượng động hớn của lợn đực
Diễn ra rất sớm, sau khi đẻ 30 ngày đã bắt đầu xuất hiện những triệu chứng đầu tiên là con
đực đã có phản xạ nhảy ôm lên lưng con khác nhưng có biểu hiện rõ của hoạt động sinh dục
là lúc đạt 2,5-3,0 tháng tuổi và hoạt động mạnh rõ vào tháng tuổi thứ 4;5. Đặc điểm này giống
với lợn nhà, như vây lợn đực thành thục sinh dục rất sớn. Đối với lợn rừng Việt Nam tuổi
động hớn đến muộn hơn lợn rừng Thái Lan trong cùng điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng. Đối
với lợn cái tuổi động hớn lần đầu ở 7-8 tháng tuổi, cũng là tuổi phối giống lần đầu của chúng.
Đối với lợn rừng Việt Nam thời gian động hớn và tuổi phối giống lần đầu kéo dài hơn và chỉ
tiêu này có sự sai khác rõ rệt giữa 2 giống lợn (P<0,05)
Bảng 2. Một số chỉ tiêu về sinh lý sinh sản của lợn rừng Thái Lan và Việt Nam
Chỉ tiêu Đơn vị
tính
Giới tính n
(con)

167,0
204,0
Chu kỳ động dục Ngày Cái: Thái
Việt
78
20
21,05 ± 1,5
21,05 ± 1,5
24,0
24,0
18,0
20,0
Thời gian động dục Ngày Cái: Thái
Việt
78
20
2,50±0,05
-
3,0
-
2,0
-
Thời gian mang thai Ngày Cái: Thái
Việt
64
20
114±0,55
113,5± 2,5
118,0
118,0

Kéo dài 19-22 ngày, trung bình 21ngày như lợn nhà, thời gian động dục kéo dài 2-3 ngày, mật
độ tập trung thường kéo dài 2 ngày (kết quá theo dõi của Nguyễn Lân Hùng và cs, (2006) kéo
dài 3-4 ngày, chu kỳ động dục là 20-22 ngày), đối với 2 giống lợn không có sự sai khác.
Triệu chứng động dục của lợn cái
Trước ngày động dục lợn đi lại nhiều, có biểu hiện hưng phấn, thích cà kịa con khác và có
hiện tượng nhảy lên lưng con khác, ăn ít, âm hộ bắt đầu tăng sinh. Thời gian động dục kéo dài
2-3 ngày và cũng được chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn động dục: thường kéo dài 6-16 giờ có
các triệu chứng như kêu, đi lại nhiều, tìm kiếm con đực, thích gần con đực, nhưng chưa cho
con đực nhảy, bỏ ăn, âm hộ xung huyết màu hồng tươi.

VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 25-Tháng 8-2010 20

Giai đoạn chịu đực: Kéo dài từ 12-20 giờ và thường vào cuối ngày thứ nhất và sáng sớm ngày
hôm sau: Giai đoạn này thường có những biểu hiện như ít đi lại, lợn mẹ đứng ì khi con đực
nhảy lên mình nó, mắt lim dim, âm hộ từ màu hồng tươi chuyển sang màu hồng nhạt và sỉu lại
(thâm lại).
Giai đoạn sau chịu đực
Thường kéo dài 4-8 giờ và có các biểu hiện: Đi lại ít, uể oải, nằm nhiều, xa lánh con khác,
niêm dịch dính đuôi. Triệu chứng biểu hiện động đực của 2 giống lợn chúng tôi thấy: biểu
hiện động dục của lợn rừng Thái Lan thường rõ hơn lợn rừng Việt Nam.
Hoạt động chửa đẻ
Sau khi chu kỳ sinh dục, nếu không đậu thai thì lợn động dục trở lại sau 21 ngày (19-22
ngày). Nếu lợn đậu thai thì thời gian mang thai là 101-118 ngày, thời gian mang thai ngắn hơn
lợn nhà từ 2-3 ngày. Theo Nguyễn Lân Hùng và cs, (2006) thời gian mang thai là 112-114
ngày giống như lợn nhà. Trong thời kỳ mang thai tính tình lợn mẹ trở nên “hiền” hơn: ăn tốt
hơn, thời gian nghỉ, ngủ nhiều hơn, lông da mượt hơn. Trong thời gian chửa lợn mẹ thường
chăm chỉ hơn chịu khó đào, ủi đất để kiếm mồi hơn và hay ăn các vật cứng, rắn (có thể để

Tỉ lệ đẻ đực cái trong đàn
Tỉ lệ này trong quá trình theo dõi chúng tôi thấy tỉ lệ đực bao giờ cũng cao hơn cái ở cả 2
giống lợn: tỉ lệ đực chiếm từ 52-60% trong tổng số con sinh ra.
Số con sinh ra trong lứa
Qua quá trình theo dõi chúng tôi thấy: lợn rừng là loài động vật đa thai, mỗi lứa trung bình 5,5
con ở lứa đẻ 1, lứa hai bình quân 7,5 con trên ổ, từ lứa 3 trở đi số con bình quân trên 8 con/ổ.
Mức giao động từ 2-14 con/lứa ở cả 2 giống lợn rừng Thái Lan và Việt Nam.
Thời gian động dục lại sau khi đẻ
Thời gian động dục lại sau khi đẻ giao động từ 22 đến 123 ngày, trung bình 75 ngày ở lợn
rừng Thái Lan. Từ 73 ngày đến 142 ngày và bình quân 83 ngày ở lợn rừng Việt Nam.
Thời gian động dục lại sau khi đẻ
Hoàn toàn phụ thuộc vào thời gian nuôi con và chế độ chăm sóc nuôi dưỡng. Đối với lợn nuôi
con không tách con thì thời gian động dục lại sau khi đẻ thường kéo dài 4-5 tháng khi con tự
kiếm ăn được và không phụ thuộc vào sữa mẹ. Chỉ có số ít từ 20-22% lợn mẹ đang nuôi con
ở tháng thứ 2 có biểu hiện động dục trở lại sau khi đẻ. Như vậy, trong trường hợp mẹ và con ở
với nhau thì khả năng sinh sản của chúng chỉ đạt 1,2-1,5 lứa/năm. Kết quả của chúng tôi phù
hợp với nghiên của Nguyễn Lân Hùng và cs, (2006).
Trong trường hợp chăn nuôi như hiện nay của các trang trại thì hoàn toàn phụ thuộc vào thời
gian cai sữa của lợn con. Thường lợn mẹ động dục trở lại sau khi tách con từ 4-7 ngày ở lợn
rừng Thái Lan và 4-15 ngày ở lợn rừng Việt Nam. Nếu chúng ta cai sữa lợn con ở 60-65 ngày
tuổi thì lứa đẻ của lợn mẹ là 2-2,1 lứa/năm. Trong trường hợp cá biệt sau khi đẻ con ra bị chết
hoặc chúng ăn con thì thời gian động dục lại sau khi đẻ là 20-25 ngày. Như vậy, khoảng cách
lứa đẻ hoàn toàn phụ thuộc vào thời gian cai sữa lợn con.
Lợn rừng Việt Nam thời gian động dục lại sau khi đẻ kéo dài hơn lợn rừng Thái Lan, theo
chúng tôi vì lợn Việt Nam khả năng thu nhận thức ăn kém hơn lợn rừng Thái (Lợn Thái ăn tạp
hơn) nên khả năng hồi phục sức khỏe trở lại sau khi tách con là chậm hơn.
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Kết luận
Khối lượng sơ sinh của lợn rừng Thái Lan bình quân là 0,49 ± 0,01kg, lợn rừng Việt Nam
bình quân là 0,41 ± 0,03 kg. Đặc trưng của lợn rừng là từ sơ sinh đến 5-6 tháng tuổi toàn thân

Tiếp tục nghiên cứu chi tiết và cụ thể về đặc điểm sinh lý, sinh sản, sinh trưởng, khả năng sản
xuất thịt và chất lượng thịt của lợn rừng và hiệu quả kinh tế của chúng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đỗ Kim Tuyên. Cục Chăn nuôi (2006). Một số đặc điểm của lợn rừng thuần nhập từ Thái Lan về Việt Nam
Kvisna, Keo Sua, Phia Kraixeng Xrium - Thai land (2005). Quy trình kỹ thuật nhân giống và phát triển heo rừng.
Bản dịch của Lê Văn Hiển và Lê Tuấn Tú.
Nguyễn Lân Hùng, Nguyễn Khắc Tích, Nguyễn Thái Bình, Đặng Ngọc Lý và Hồ Quang Sắc (2006). Kỹ thuật
nuôi Lợn rừng (heo rừng), NXB. Nông nghiệp 2006
Phạm Sỹ Tiệp, Nguyễn Văn Lục và Tạ Thị Bích Duyên (2008). Phát triển đàn lợn giống Móng Cái cao sản tại
huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Báo cáo khoa học Viện Chăn nuôi .Tháng 9/2008. Tr.134-145
Võ Văn Sự, Tăng Xuân Lưu, Trịnh Phú Ngọc và Phan Hải Ninh (2008). Kết quả bước đầu nuôi lợn rừng Thái
thuần tại Ba Vì và Bắc Giang. Báo cáo Khoa học - Viện Chăn nuôi 9/2008. tr: 172-184

*Người phản biện: TS. Phùng Thăng Long (ĐH Huế); TS. Phùng Thị Vân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status