Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM LƯƠNG QUANG THẠCH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT
TRIỂN CỦA GIỐNG ĐÀO MAYCREST NHẬP NỘI TRỒNG
TẠI HUYỆN SA PA TỈNH LÀO CAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THẾ HUẤN THÁI NGUYÊN - NĂM 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây ăn quả có vai trò rất lớn trong đời sống, kinh tế và sản xuất nông
nghiệp của kinh tế hộ gia đình cũng nhƣ phát triển kinh tế của một vùng sinh
cao hơn 1500 m so với mặt nƣớc biển, với điều kiện thiên nhiên ƣu đãi,
có khí hậu phù hợp cho sinh trƣởng của cây đào. Tại đây, trƣớc kia đã có
nhiều giống đào địa phƣơng có phẩm chất quả ngon, mẫu quả đẹp phù
hợp với thị hiếu của ngƣời tiêu dùng nhƣng do giống địa phƣơng có năng
suất thấp, tập quán của ngƣời dân trồng chủ yếu là quảng canh nên đào bị
sâu bệnh nhiều, năng suất giảm mạnh. Từ năm 2004, vùng Aquitanne
thuộc cộng hòa Pháp đã hợp tác giúp đỡ tỉnh Lào Cai thực hiện dự án
khảo nghiệm tập đoàn cây ăn quả ôn đới nhập nội từ Pháp trong đó có
giống đào Maycrest/GP 305-1. Tại Pháp, giống Maycrest thuộc nhóm đào
chín sớm, đƣợc trồng tại các vùng có độ lạnh trung bình, giống có năng
suất trung bình khoảng 75 kg/cây với cây đào khoảng 10 tuổi. Đào
Maycrest rất đƣợc ƣa chuộng tại thị trƣờng nƣớc Pháp do quả chín sớm,
thịt quả cứng, vị đậm. Sau thời gian trồng khảo nghiệm từ 2004-2008 cho
thấy giống Maycrest ngoài khả năng sinh trƣởng tốt trong điều kiện khí
hậu của Sa Pa, năng suất khá cao, thịt quả cứng, giống còn có một đặc
điểm quý đó là quả chín sớm vào cuối tháng 4 đầu tháng 5, Mai Hƣơng
(2008). Tuy nhiên giống đào Maycrest trồng tại Sa Pa có tỷ lệ đậu quả
không đồng đều giữa các năm, trọng lƣợng quả nhỏ, không đều. Vì vậy
với mong muốn phát triển Sa Pa thành một trong những vùng trồng đào
chính trong cả nƣớc, với sản lƣợng và chất lƣợng quả đáp ứng đƣợc nhu
cầu của ngƣời tiêu dùng, chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một
số đặc điểm sinh trưởng, phát triển của giống đào Maycrest nhập nội
trồng tại huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai” nhằm nghiên cứu một số đặc điểm
sinh trƣởng, phát triển chính từ đó làm nền tảng cho biện pháp kỹ thuật
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
3
tiếp theo nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng giống đào Maycrest tại
Lào Cai.
cho những thí nghiệm khoa học về cây ăn quả nói chung và cây đào
nói riêng.
Bên cạnh đó sâu hại thƣờng gây hại đến cây ăn quả và làm giảm
năng suất và chất lƣợng của quả, làm cho mẫu mã quả xấu, hiệu quả
kinh tế kém, giống bị thoái hoá dần.
Giống đào Maycrest là giống nhập nội từ Vùng Aquitane - Cộng
hoà Pháp, sau 5 năm trồng thử nghiệm tại địa bàn huyện Sa Pa tỉnh Lào
Cai chúng tôi thấy đây là giống có nhiều triển vọng thể hiện ở một số
đặc điểm nhƣ sinh trƣởng, phát triển khá, chất lƣợng quả ngon, mẫu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
5
mã quả đẹp, tuy nhiên để có thể đánh giá chính xác thì chúng ta cần
có những nghiên cứu một cách có khoa học.
1.2. Nguồn gốc phân loại cây đào
1.2.1. Nguồn gốc
Cây đào danh pháp khoa học Prunus persica là một loài cây có lẽ
có nguồn gốc từ Trung Quốc, đƣợc trồng để lấy quả hay hoa. Tên gọi
khoa học persica có lẽ có từ niềm tin ban đầu của ngƣời châu Âu cho
rằng đào có nguồn gốc ở khu vực Ba Tƣ (Persia - hiện nay là Iran). Sự
đồng thuận lớn trong giới các nhà thực vật học ngày nay đã cho rằng nó
có nguồn gốc từ Trung Quốc và đƣợc đƣa vào Ba Tƣ cũng nhƣ khu vực
Địa Trung Hải theo con đƣờng tơ lụa vào khoảng thời gian ban đầu của
lịch sử nhân loại, có lẽ vào khoảng thiên niên kỷ 2 trƣớ c công nguyên
(Huxley và những ngƣời khác, 1992) [32].
Các giống đào trồng đƣợc chia thành hai loại là "hột rời" và "hột
dính", phụ thuộc vào việc hột có dính với cùi thịt hay không; cả hai loại
này đều có cùi thịt trắng hay vàng. Quả đào với cùi thịt trắng thông
thƣờng có vị rất ngọt và ít vị chua, trong khi loại có cùi thịt màu vàng
đào và một số giống đã đƣợc du nhập vào Việt Nam nhƣ đào Vân
Nam, đào Tiên, đào nhẵn
Ở Việt Nam có một số giống đào nhƣ đào thóc, đào mèo, đào vàng
và ngày nay thì đã nhập rất nhiều giống từ các nƣớc Pháp, Úc, Trung Quốc
1.2.3.1. Các giống đào của Việt Nam [24]
* Đào Mèo
Là giống đào địa phƣơng đƣợc trồng rất lâu đời tại các tỉnh miền
núi phía Bắc, giống đào này sinh trƣởng rất khỏe, thời gian ra hoa xung
quanh dịp tết nguyên đán, quả chín vào tháng 7, cỡ quả trung bình có
mầu vàng hoặc vàng nhạt, chất lƣợng quả kém, vị rất chua và hơi đắng.
Giống này nhân dân thƣờng trồng bằng hạt, giá trị sử dụng thấp, thích
hợp cho việc sử dụng làm gốc ghép.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
7
* Đào Tuyết
Đặc điể m cây sinh trƣởng khỏe, đƣợc trồng ở vùng Sa Pa, thời
gian ra hoa vào tháng 2, thu hoạch giữa tháng 6. Quả trung bình, vỏ và
thịt quả đều màu trắng, giòn, chua.
* Đào Vàng
Là giống đƣợc t rồng rải rác ở các huyện vùng cao của các tỉnh
Sơn La; Lào Cai; Hà Giang. Quả chín vào tháng 6, quả chín có mầu
vàng, vị chua nhƣng có mùi thơm rất đặc trƣng. Do kỹ thuật chăm sóc
không tốt nên ngày nay chất lƣợng của giống đào này giảm rất nhiều.
1.2.3.2. Các giống đào nhập nội
* Đào Vân Nam
Đây là giố ng đà o đ ƣợc nhập nội từ Trung Quốc vào những năm
1963 và 1967.
Có 2 loại giống chín sớm và giống chín muộn, đƣợc trồng nhiều
rãnh quả phát triển rõ và hơi nhô lên. Giống này mẫn cảm với bệnh đốm
vi khuẩn [30], [31], [40].
Giống đào Sunwright: Là giống đào nhẵn, dạng quả tròn, có kích
thƣớc trung bình hoặc to, rãnh quả nông, thịt quả mầu vàng.
Quả có một điểm nhỏ ở đáy lõm của quả và đối xứng hai bên.
Màu quả rất hấp dẫn, mầu đỏ phủ trên 70% nền vàng. Độ đƣờng thấp,
mùi rất hấp dẫn.
Giống đào Sunblaze: Là giống đào nhẵn, kích thƣớc quả trung bình,
thịt cứng, rãnh quả nông, đáy quả lõm. Thịt quả mầu vàng và có sắc tô
xung quanh hạt. Hạt dính. Mầu quả rất hấp dẫn 90% mầu đỏ phủ trên nền
vàng/xanh [30], [31], [40].
1.3. Đặc điểm thực vật của cây đào
1.3.1. Rễ
Rễ đào tập chung chủ yếu ở trên tầng đất mặt từ 10-50cm tuỳ
thuộc từng giống và từng loại đất, một số rễ cái ăn sâu vào lòng đất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
9
giúp cho cây đứng vững không bị đổ. Với đặc điểm phân cành sớm và
nhiều cành nhỏ cộng lại với một số rễ cái nằm sâu, lá nhỏ nhẹ, cây đào
ít bị đổ khi gặp gió bão. Ngoại trừ trồng trên đất mùn hoặc đất đá vôi
cây thƣờng bị đổ do nguyên nhân là đất quá tơi xốp và dễ bị sụt lở. Tuy
nhiên hoa và quả rất dễ bị rụng do gió bão nên khi thiết kế vƣờn đào
ngƣời ta thƣờng thiết kế đai rừng chắn gió. [22], [27].
Khác với các loại rễ cây ăn quả khác, trên rễ đào nhất là phần nổi
trên mặt đất thƣờng có các mần ngủ. Trong điều kiện thích hợp, các
mầm ngủ có thể bật mầm mọc thành cây. Lợi dụng đặc điểm này,
ngƣời làm vƣờn có thể nhân giống đào bằng giâm rễ theo nhiều phƣơng
pháp khác nhau. Rễ đào thƣờng phát triển theo chiều ngang do đó các
1.3.3. Lá
Nhìn chung lá đào có hình dáng tƣơng đối đồng nhất giữa các
loài, hình dáng bầu dục của lá là một đặc trƣng hình thái của cây đào.
Độ lớn của lá rất khác nhau tuỳ thuộc vào từng loài và giống, nhìn
chung dao động từ 1cm đến 4cm (chiều rộng); 5 đến 10 cm (chiều dài).
Gân lá nổi rõ mép lá có hình răng cƣa rõ rệt hoặc không rõ rệt tuỳ từng
giống từng loài, đỉnh lá nhọn hoặc tù. Màu sắc lá cũng rất khác nhau tuỳ
giống, nhìn chung lá đào có màu đặc trƣng đỏ, tím, xanh, xanh đậm,
xanh nhạt Lá đào thƣờng rụng vào mùa đông từ tháng 10 đến tháng 12
hoặc sớm hơn một chút là tùy theo vùng sinh thái.
Những vƣờn đào giai đoạn còn non (kiến thiết cơ bản) trồng ở
những vùng nóng ẩm lá có thể rụng không triệt để, đôi khi còn lại
một vài lá già ngả màu xanh vàng, chỉ đến khi cây ra hoa số lá này
mới rụng hết để cành bật lộc mới lá đào rụng càng sớm càng triệt để
chứng tỏ điều kiện ngoại cảnh và nội tại giúp cây có quá trình ngủ
sâu trong vụ đông, thì hoa nở càng nhiều và tỷ lệ đậu quả rất cao,
chất lƣợng quả tốt.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
11
1.3.4. Hoa
Màu sắc của hoa đào tuỳ từng loài có màu đỏ tƣơi, mầu hồng,
hoặc màu trắng. Hoa đào thuộc loại hoa nhỏ, tính theo hình chiếu không
gian của hoa, đƣờng kính hoa giao động từ 5mm đến 25 mm tuỳ từng
loài. Hoa đào thƣờng là 5 cánh hoa nở đều về 4 phía, có những giống số
cánh hoa có thể nhiều hơn (nhƣ đào bích kép), phần đài hoa bao bọc lấy
bầu, có từ 20-30 chỉ nhị, chiều cao của chị nhị thƣờng tƣơng đƣơng với
chiều cao của cánh hoa, bao phấn không nở sớm mà nở vào thời điểm
hoa đã nở. Đầu nhuỵ vƣơn nên ngay kề cạnh bao phấn. Hoa đào nở vào
rụng về mùa đông. Thời kỳ non cây sinh trƣởng nhanh, trong khi một
năm cành sinh trƣởng có thể đạt tới 2-3 lần. Tuổi thọ của cây đào còn
phụ thuộc vào chủng loại giống, kỹ thuật nhân giống, kỹ thuật nhân
giống, trồng trọt mà có sự khác nhau rõ ràng (đào trồng bằng hạt có
tuổi thọ cao hơn trồng bằng cây ghép và chiết cành và giâm rễ).
Giống đào Trung Quốc có tuổi thọ cao hơn giống đào Châu Âu,
sự nảy mầm của đào tƣơng đối mạnh. Cây đào ra lộc mỗi năm 2-3 đợt
lộc vào các vụ xuân, vụ hè, vụ thu, chồi lá phát sinh ở ngọn cành và từ
lá mọc cả chồi hoa. Sau khi thu hái quả thì chồi gọn của cành quả năm
trƣớc vƣơn dài thành cành quả mới và kéo dài liên tục trong 4-5 năm
liền.
1.4.2. Giai đoạn phát triển
Cây đào ra hoa trong tháng 1-2 Dƣơng lịch và phát triển quả tới
tháng 5-6 thì chín, quả chín kéo dài trong gần một tháng. Cây trồng bằng
hạt sau trồng 4 năm trở nên mới ra hoa, cho thu hoạch quả. Cây trồng
bằng cây ghép, chiết thì sau trồng 2-3 năm thì có quả và 5-6 năm thì
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
13
bƣớc vào thời kỳ sai quả. Trồng bằng cây ghép sớm ra hoa hơn so với
cây trồng bằng gieo hạt.
Cành quả có thể phân ra cành dài, trung bình, gắn và cành quả
ngắn có nhiều hoa và cành quả ngắn. Loại cành quả dài và trung bình
tuy phát dục tốt, các đốt mầm hoa nhiều, lƣợng hoa nở không ít, nhƣng
do ở đầu các cành thƣờng nảy các cành mới, dinh dƣỡng tiêu hao nhiều,
nên rễ bị rụng hoa, rụng quả.
Hiện tƣợng cây đào tự thụ phấn không thành quả tƣơng đối
nghiêm trọng, vấn đề này có liên quan đến các bộ phận của hoa phát dục
không hoàn toàn, thụ phấn không tốt hoặc cung cấp dinh dƣỡng không
ra hoa, đậu quả và chất lƣợng quả đào. Nhiệt độ thấp và nhiệt độ cao đều
có thể làm tổn thƣơng nụ và làm giảm khả năng đậu quả. Hoa và quả non
đặc biệt mẫn cảm với sƣơng giá vào cuối mùa đông và mùa xuân, nhiệt độ
hạ xuống dƣới 2
o
C. Nhiệt độ cao hơn 18
o
C cũng có thể làm giảm việc đậu
quả.
Cây đào phát triển nụ trong mùa hè và chuyển sang giai đoạn ngủ
nghỉ khi độ dài ngày ngắn và nhiệt độ giảm trong mùa đông. Nụ chuyển
sang giai đoạn ngủ nghỉ sẽ không bị ảnh hƣởng của điều kiện nhiệt độ
thấp trong mùa đông. Nụ duy trì ngủ nghỉ cho tới khi chúng tích lũy đủ
độ lạnh. Yêu cầu lạnh của nụ đƣợc quy ra đơn vị lạnh. Một khi nụ nhận
đƣợc đủ đơn vị lạnh thì chúng sẽ phát triển do nhiệt độ ấm áp trong mùa
xuân và trong mùa hè.
Nếu độ lạnh không đầy đủ, việc ra hoa, lá sau ngủ nghỉ của cây có
thể sẽ ít, việc đậu quả và năng suất sẽ bị giảm đáng kể.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
15
Ở một số huyện miền núi phía Bắc nƣớc ta nhƣ Mộc Châu (Sơn
La); Bắc Hà, Sa Pa (Lào Cai); Mẫu Sơn (Lạng Sơn) có mùa đông
lạnh phù hợp với các giống đào có yêu cầu độ lạnh trung bình (từ
400-600 CU).
1.5.2. Ánh sáng
Bức xạ mặt trời hoặc độ chiếu sáng thấp có thể ảnh hƣởng đến
việc đậu quả, năng suất, chất lƣợng quả và các quá trình sinh lý của cây
nhƣ quá trình quang hợp và phát triển của cây.
từ cát nhẹ, phù sa sét, đến sét nhẹ. Đất cát nhẹ đến đất mùn là phù hợp
nhất và độ sâu mực nƣớc ngầm phải trên 1 m.
Nhìn chung các loại đất ở miền núi phía Bắc nƣớc ta, với độ cao
so với mặt nƣớ c biển tƣ̀ 500-600m đến 1000-1200m, có độ sâu hơn
1m, có cấu tƣợng tơi xốp, giữ ẩm tốt dễ thoát nƣớc, có độ mùn khá
nhƣ đất rừng mới khai phá, đất dốc tụ, phù sa cổ, đất feralit đỏ vàng,
có độ pH 5,5-6,5 đều có thể trồng đào ăn quả.
1.6. Tình hình sản xuất trên thế giới và Việt Nam
1.6.1. Tình hình sản xuất đào trên thế giới
Các khu vực sản xuất đào ăn quả quan trọng trong lịch sử là
Trung Quốc, Nhật Bản, Iran và các quốc gia khu vực Địa Trung Hải,
là các khu vực nó đã đƣợc trồng trong hàng ngàn năm qua. Gần đây,
Hoa Kỳ (các bang California, Nam Carolina, Michigan, Texas,
Alabama, Georgia, Virginia), Canada (miền nam Ontario và British
Columbia) và Australia (khu vực Riverland) cũng đã trở thành các
quốc gia quan trọng trong trồng đào. Các khu vực có khí hậu đại
dƣơng nhƣ khu vực tây bắc Thái Bình Dƣơng và British Isles nói
chung không thích hợp cho việc trồng đào do không có đủ nhiệt về
mùa hè, mặc dù đào đôi khi cũng đƣợc trồng tại đây [30], [31], [40].
Theo Giáo sƣ Vũ Công Hậu [11]: cây đào trồng chủ yếu ở các
vùng ôn đới nóng và ở các nƣớc á nhiệt đới. Trên phạm vi toàn thế giới,
cùng với táo tây, lê, cam quýt, chuối, dứa, đào là một trong 5, 6 loại quả
quan trọng nhất thế giới.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
17
Theo tài liệu Fao statistics (2010) năm 2008 diện tích đào
trên toàn thế giới là 1.608.768 ha, năng suất trung bình đạt 11,189
tấn/ha, tổng sản lƣợng đạt 18.000.853 tấn. Trung quốc là nƣớc có
16.000
7.500
120.000
Nhật Bản
10.200
14.725,4
150.200
Châu Âu
275.387
14.868,7
4.094.656
Italy
86.062
18.464,8
1.589.118
Tây Ban Nha
76.966
15.062,4
1.159.300
Greece
36.900
19.894,3
734.100
Pháp
15.000
20.005,7
301.164
Châu Mỹ
189.491
12.887,2
15.000
6.333,3
95.000
Châu Đại Dƣơng
20.904
6.654,9
139.116
Australia
20.000
6.545,8
130.916
Nguồn Fao statistics. 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
18
1.6.2. Tình hình sản xuất đào ở Việt Nam
Vùng phân bố tự nhiên của đào ở Việt Nam chủ yếu trên
những vùng núi cao. Đào trồng chủ yếu ở miền núi phía Bắc nhƣ:
Bắc Hà, Sa Pa (Lào Cai); Mộc Châu (Sơn La); và các tỉnh Hoà
Bình, Lai Châu, Hà Giang, Lạng Sơn với các giống đào nổi tiếng
nhƣ đào Vân Nam trồng ở Sa Pa (Lào Cai), đào Mẫu Sơn trồng ở
Lạng Sơn [2], [11].
Ngày nay, các tỉnh Sơn La, Lào Cai đã di thực thành công khá
nhiều giống đào có nguồn gốc từ Trung Quốc (các giống đào Vân
Nam, đào trắng chín muộn ), từ Pháp (các giống Đ
1
, Đ
2
,
Sự chấp nhận của thị trường: Khách hàng thƣờng hƣớng tới quả
có mầu đẹp, kích thƣớc thích hợp, thời gian bầy bán lâu, không có
khuyết tật và có hƣơng vị ngon. Một giống càng có nhiều yếu tố nêu
trên thì càng đƣợc thị trƣờng chấp nhận. Một số đặc tính quan trọng
đƣợc miêu tả dƣới đây:
Loại thịt quả. Có 3 loại thịt quả: mềm; không mềm và cứng giòn.
Quả có thịt quả không mềm có thể tồn tại trên cây khi thành thục dài
hơn so với quả có thịt quả mềm, vì quả có thịt mềm thƣờng bị mềm và
hỏng rất nhanh, khó bảo quản.
Sự cân đối giữa đƣờng và acid. Có 2 loại chính của tỷ lệ đƣờng và
acid: rất ngọt/chua; ngọt/rất chua. Hầu hết ngƣời Châu Á thích loại thứ 2.
Màu thịt quả. Đối với đào và đào nhẵn có 2 loại màu thịt quả: màu
thịt quả trắng và màu thịt quả vàng, có một số ít giống có thịt quả mầu
hồng hoặc đỏ. Màu thịt quả cũng là tiêu chí ngƣời tiêu dùng lựa chọn khi
mua đà o. Mầ u hồ ng thƣờ ng đƣợ c ƣa chuộ ng hơn cả .
1.7.1.2. Nghiên cứu về kỹ thuật và quản lý vườn cây
Nghiên cứu thiết kế vƣờn trồng, bố trí mật độ, khoảng cách theo
từng địa hình, kiểu tán cây, kỹ thuật cắt tỉa và chế độ chăm sóc. Xu
hƣớng chung là sử dụng gốc ghép lùn, trồng mật độ cao, khai thác chu
kỳ ngắn.
M. DeJong (2007) [38] khi nghiên cứu cây để chọn làm gốc ghép
cho giống đào Flavorcrest and Loadel trên gốc của 5 giống đào khác
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
20
nhau, kết quả nghiên cứu cho thấy gốc ghép có ảnh hƣởng đến sinh
trƣởng cũng nhƣ năng suất của cây ghép.
Bonhomme và cs (1999) [28] khi nghiên cứu về giống đào quả nhẵn
trồng tại Pháp cho thấy các chỉ tiêu sinh trƣởng của cành mẹ nhƣ chiều
kỹ thuật tủ gốc, trồng xen, trồng cây che phủ đất, các biện pháp công
trình làm đƣờng đồng mức, các túi chứa nƣớc trên đất dốc đến các kỹ
thuật tƣới phun, tƣới nhỏ giọt, tƣới nƣớc kết hợp với bón phân.
Ben Mechlia và cs (2006) [34] khi nghiên cứu về tƣới nƣớc cho
đào trong năm năm cho thấy, sự giảm hàm lƣợng nƣớc trong các thời kỳ
quả phát triển làm ảnh hƣởng đến năng suất quả, kết quả nghiên cứu cho
thấy sự hạn chế nƣớc vào giai đoạn cuối của sự phát triển quả có thể làm
giảm năng suất tới 33%.
Nghiên cứu kỹ thuật phòng trừ sâu, bệnh: biện pháp phòng trừ
tổng hợp IPM đƣợc coi là biện pháp chủ đạo khuyến cáo áp dụng ở
nhiều nƣớc hiệ n nay.
E.Cottrell, J. Fuest, D. L. Horton (2008) [39] khi nghiên cứu khả năng
chống sâu đục quả của ba giống đào nhập nội và giống đào địa phƣơng tại
Mỹ cho thấy:giống đào địa phƣơng có khả năng chống sâu đục quả cao
hơn so với giống nhập nội.
Montana (2005) [33] Khi nghiên cứu về khả năng bảo quản cho hai
giống đào trồng tại Colombia cho thấy: khi thu hoạch, những quả đào
sạch bệnh đƣợc gói bằng bao giấy chuyên dùng và bảo uqnar trong
phòng có nhiệt độ 4
0
C và phòng có nhiệt độ thƣờng 19
0
C. Kết quả cho
thấy trong nhiệt độ lạnh đào có thể đƣợc bảo quản tốt từ 37-41 ngày.
Trong nhiệt độ thƣờng có thể bảo quản đƣợc từ 5-7 ngày.
1.7.2. Những kết quả nghiên cứu về cây đào ở Việt Nam
Việc nghiên cứu về cây đào nói chung ở nƣớc ta cũng nhƣ ở các
tỉnh miền núi phía Bắc chƣa đƣợc đầu tƣ một cách đúng mức, số lƣợng
các công trình nghiên cứu ít, mang tính đơn lẻ, không liên tục và hệ